BÊN NGOÀI CỔNG NHÀ THỜ

(Đọc tập truyện Bên ngoài công nhà thờ của Lm Cao Gia An)


Nếu bạn hỏi tôi tập truyện Bên ngoài cổng nhà thờ có gì là ấn tượng, tôi xin thưa ngay rằng, tập truyện có những trang văn rất đẹp, về người quê hồn hậu, về tình quê thiết tha. Và dù là những câu truyện bi kịch thì cái nhìn của tác giả vẫn lấp lánh một niềm tin yêu trẻ trung tinh khôi và một giọng kể dung dị, gần gũi, ấm áp.



Bên ngoài cổng nhà thờ có gì?


Đây là một bức tranh xã hội: “Những đứa con được sinh ra, lớn lên, đi làm ăn xa, khắc sâu trong lòng mình chữ đạo chữ hiếu. Họ bán đi cái quê hương xứ xở trong lòng mình, bán đi cả tuổi xuân của mình, bán luôn bao nhiêu là ước vọng của riêng mình. Có những đứa trẻ sớm bị đẩy ra ngoài đường phố, lam lũ với nắng với mưa và với gió bụi cuộc đời. Có những đứa con được gả bán đi, ngơ ngác trong hành trình làm dâu xứ lạ. Có những người trẻ tìm cách ra đi, đau đáu với khác vọng đổi đời, khát vọng về một cuộc đời phồn vinh no ấm cho mình, cho gia đình, cho quê hương mình… (tr.97)


Bên ngoài cổng nhà thờ “còn rất nhiều người nghèo thiếu cả cơm ăn áo mặc. Nghèo hơn nữa là những người nghèo chưa bao giờ được nuôi dưỡng bởi những của ăn tinh thần và đời sống tâm linh. Họ vô phương kháng cự trước vô số cám dỗ và nguy cơ của đời sống hiện đại” (tr.162). Tác giả dẫn người đọc đến thăm những cảnh đời mà lối sống đạo truyền thống của người Công giáo đã đẩy họ ra ngoài nhà thờ. Đó là những trường hợp gọi là hôn nhân “rối”, những cô gái “chửa hoang”  (Bên ngoài nhà thờ, Cha xứ dở); những “cánh hoa rơi” giữa phố thị (Tầm xuân giữa phố); chia sẻ những bi thảm của những số phận bị công nghiệp hóa tước đi môi trường sống (Miền cỏ xanh dưới lòng sông), hoặc làm tha hóa những điều đạo đức tốt đẹp, làm tan vỡ những cuộc tình hồn hậu, làm ly tán những gia đình vốn nề nếp hạnh phúc (Tiếng chuông nhà thờ; Hương ổi ngày xưa; Xóm không đêm; Một cuộc đời để sống)…

Bên ngoài cổng nhà thờ là cuộc sống phức tạp. Người Linh mục trẻ cảm thấy bất lực. ”Càng va chạm nhiều với thực tế, anh càng gặp nhiều cảnh đời đau lòng. Những cảnh đời đau lòng đặt ra cho anh nhiều câu hỏi vô phương trả lời, nếu chỉ dựa trên những gì anh đã được học, dựa trên những phương tiện anh đã được trang bị, hay dựa trên những luật lệ mà trước đây anh đã từng trân giữ và xác tín.”(tr.23),

Và đây là một câu hỏi không có lời đáp về một trường hợp chửa hoang mà ba đời chịu khổ: “tội nhân đã ôm tủi hổ xuống mồ, bố mẹ của tội nhân thì cho đến chết cũng đã không dám ngước mặt nhìn đời, con của tội nhân thì không có cơ hội để sống một cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác. Đáng không? Do đâu mà ra cái bể trầm luân như thế? Còn có cơ hội nào để tìm và cứu những gì hư mất không?” (tr.11).

Trong bài giảng về đoạn Tin Mừng “Đứa con hoang đàng” (Luc 15, 1-32), người Linh mục trẻ ấy (Cha Tâm) đã đặt câu hỏi này vào lương tâm người Công giáo: “Người ra đi, bị gọi là kẻ tội lỗi, kết cục bước vào ở trong nhà của Cha. Còn người ngày ngày ở lại trong nhà Cha, tự xem mình là kẻ công chính, cuối cùng lại tự đặt mình ở ngoài cổng. Chúng ta gặp mình trong nhân vật nào? Người con thứ hay người con cả? Hay cả hai? Đâu là chỗ của chúng ta, trong nhà hay ngoài cổng?”(truyện Bên ngoài cổng nhà thờ)

Những niềm thao thức

Trong thực tại xã hội Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thế tục và những khuynh hướng suy đồi đang làm băng hoại tận gốc những giá trị văn hóa của dân tộc, thì bên ngoài cổng nhà thờ còn bao nhiêu là bi kịch, bao nhiêu điều bất công. Hàng ngày, người ta chứng kiến bao nhiêu là tội ác đổ xuống trên đầu những số phận bé nhỏ, mà bất lực, không lời nào nói hết.

Tuy nhiên ở tập truyện Bên ngoài cổng nhà thờ, tác giả không có mục đích “phản ánh hiện thực” để đặt những vấn đề xã hội. Những truyện được kể trước hết là những suy nghiệm, những trăn trở, những ước vọng của sứ vụ Linh mục, đồng thời tra vấn lương tâm người Công giáo trong chính hành trình sống đạo, để cùng thao thức.

Người Công giáo sống đạo không chỉ trong nhà thờ mà hãy nhìn ra ngoài cổng nhà thờ để hướng về tha nhân, để sống đúng với giới răn “mến Chúa yêu người”. Dường như lâu nay, và từ bao giờ không rõ, người Công giáo đã tự xây bức tường, vạch làn ranh tách biệt mình với bên ngoài, rất nhiệt thành trong việc tổ chức những lễ lạc “xôm tụ, hoành tráng” để “khẳng định căn tính và danh giá của mình trước mặt những người không cùng đức tin”, nhưng “liệu xôm tụ và hoành tráng có phải là cách hữu hiệu để nói với người khác về Chúa, để trình bày về đạo của Chúa không?”(tr.161)

Tập truyện mở ra nhiều sự việc, nhiều cách nghĩ, cách sống đạo mà người Công giáo phải xem lại mình. Chẳng hạn, việc đọc kinh cầu nguyện, “Ông Chín tự hỏi lại mình về những giờ kinh gia đình mà ông vẫn thường hướng dẫn. Có thật khi cầu nguyện, “chỉ cần nhắm mắt đọc thuộc lòng cho hết bộ kinh bổn từ đầu cho tới cuối là xong”? Cầu nguyện như vậy, liệu có còn phù hợp với bọn trẻ con cháu của ông không? Thế hệ này hay muốn tìm hiểu và thích đặt câu hỏi tại sao. Còn ông, kinh kệ hình như chỉ là chuyện thuộc nằm lòng. Mọi sự cứ tự nhiên mà tuôn ra theo môi miệng, tự nhiên như lời kinh của lòng ông dâng lên Thiên Chúa. Ông cứ đọc, cứ thuộc, rồi truyền lại cho con, cho cháu, như của gia bảo hồi môn từ thế hệ này sang thế hệ kia.” (Đi tìm anh em.tr.41)

Về vấn đề hoang thai: “Để che đậy một tội, người ta lại phải phạm một tội khác lớn hơn. Với người trẻ của thời hiện đại, phạt tội liệu có còn là phương pháp giáo dục tốt nhất để gìn giữ lề thói đạo nghĩa không? Răn đe và nghiêm cấm liệu có còn là cách tốt nhất để giáo dục lương tâm không? Còn có cách nào khác để vẽ lại dung mạo của một Giáo hội bao dung và từ nhân hơn? Giá trị của một con người và giá trị của luật lệ, điều gì nên đặt lên trên?…(Cha xứ dở-tr.22)

Và đây là vấn đề cốt lõi để người Công giáo “sống phúc âm giữa lòng dân tộc“. Xã hội có chương trình “xóa đói giảm nghèo”, còn người Công giáo sống thế nào? Tại sao rất dễ để kêu gọi mọi người cùng chung tay tổ chức một cuộc lễ lạc với rước sách long trọng và hoành tráng, nhưng lại rất khó để kêu gọi mọi người tham gia một dự án bác ái xã hội để giúp cho những người nghèo? Tại sao rất dễ để kêu gọi bà con chung tay trong công cuộc xây dựng một công trình gì đó của nhà thờ, nhưng lại rất khó để thuyết phục mọi người đóng góp để xây dựng và giúp đỡ xóm lương dân đang còn nghèo khổ và đói rách?/ Đó là sức ì của truyền thống? Đó là phong cách giữ đạo đã lâu đời đến độ trở thành một quán tính tự nhiên, nhưng không còn đủ chiều sâu và sức bật? Hay đó là lựa chọn tự vệ của những người đạo đức, trước những đe dọa hữu hình của văn minh hiện đại?”(Xóm không đêm-tr.163)

Tập truyện đã đưa ra ít nhất hai hình ảnh để người Công giáo tự đối chứng. Đó là trường hợp các anh em Tin Lành. Họ thực hiện lời Chúa dạy là “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”. Họ đến với xóm đạo để cùng cầu nguyện. Ông Chín trong truyện Đi tìm anh em đã phải suy nghĩ lại: “Như vậy hóa ra muốn sống đạo tốt, theo đúng lời Chúa dạy, thì người ta phải đi. Chỉ một từ “đi” nho nhỏ thôi, mà làm ông Chín bị đụng chạm và thấy nhột quá sức. Tính ra, từ hồi nhỏ tới giờ, ông Chín vẫn nghĩ chỉ cần ngày nào cũng đi từ nhà đến Nhà Thờ thì đã đủ để làm một tín hữu tốt. Xóm đạo của ông được xây dựng như một hợp thể hoàn chỉnh: có nhà thờ, có chợ, có trường học, có một bệnh xá nhỏ. Cả xóm đã như một mô hình khép kín, ít khi nào nghĩ tới chuyện phải đi ra bên ngoài.” (tr.36)

Trường hợp thứ hai ở nhà nuôi dưỡng người già, neo đơn trong một ngôi chùa. Vị Linh mục trẻ tận mắt chứng kiến “tấm lòng quảng đại từ bi của nhà chùa và các Phật tử hảo tâm. Họ sẵn lòng mở rộng vòng tay để tiếp nhận những người già nua cô độc. Đó là gương phục vụ vô vị lợi của các cô, các dì ở chùa đối với những người già. Họ phục vụ tận tâm từ những người bại liệt, mù loà đến những người già khó tính hay giận hay hờn…” (truyện Trong bóng chiều cuộc đời). Đối chiếu với Tin Mừng, vị Linh mục “học được nhiều điều và đọc thấy nhiều giá trị Tin Mừng,…nơi những người già bị bỏ rơi, tôi tìm thấy hình ảnh của Đức Kitô nghèo hèn và cô độc, nhưng vẫn đẹp đẽ lạ thường”(tr. 151).

Những cách nhìn như thế chắc chắn là cách nhìn của Giáo hội trong Tông huấn Giáo hội tại Á châu (Ecclesia in Asia): “Á Châu cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới -Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo và Ấn Giáo. Đó là nơi phát sinh nhiều truyền thống thiêng liêng khác như Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo …Giáo Hội giữ một niềm kính phục sâu xa nhất đối với các truyền thống này và tìm cách chân thành đối thoại với các môn sinh của truyền thống đó. Những giá trị tôn giáo họ truyền dạy, chờ được hoàn thành viên mãn trong Đức Giêsu Kitô…. Họ quý trọng những giá trị như tôn trọng sự sống, lòng trắc ẩn đối với mọi sinh vật, gần gũi với thiên nhiên, hiếu thảo với cha mẹ, đàn anh và tổ tiên, và một ý thức cộng đồng cao độ (11). Đặc biệt, họ coi gia đình là nguồn sống ban sức mạnh, một cộng đồng liên kết chặt chẽ có một cảm thức mạnh mẽ về tình liên đới (12). Các dân tộc Á Châu nổi tiếng có tinh thần bao dung tôn giáo và sống chung hoà bình.”

Một ngòi bút trong trẻo tinh khôi

Điều rất quý ở tập truyện này là ngòi bút trong trẻo, tinh khôi, bộc lộ ở nhiều yếu tố của bút pháp. Dù truyện viết về bi kịch của nhiều cảnh đời bất hạnh, những cuộc tình đổ vỡ, hay những ly tan gia đình do hoàn cảnh, song cái nhìn của tác giả là sự cảm thông chia sẻ, là sự lên tiếng nói. Nhiều truyện kết thúc có hậu. Không phải vô tình mà nhiều truyện, góc trần thuật là cái nhìn của những em bé, rất hồn nhiên (Đỉnh cao nghệ thuật, Một cuộc đời để sống, Trên những đường cong)



Một triết lý lạc quan bao trùm không gian truyện, cuộc sống có bi thảm thế nào thì con người vẫn vươn lên để sống. Nhìn dòng sông cạn nước do người ta ngăn đập làm thủy điện, tác giả nhận ra điều này: “dù dòng sông không còn chảy, cuộc sống vẫn cứ trôi. Bất chấp những thịnh suy thăng trầm, sự sống vẫn cứ tiếp diễn liên tục theo cách rất riêng của mình… Tại nơi mà những người lớn ngoi ngóp mắc cạn, bọn trẻ vẫn có thể có một khung trời tuổi thơ đẹp như mơ. (tr.84) Triết lý lạc quan này xuất phát từ sự xác tín con đường. Tác giả chia sẻ: “Có một thời gian tôi ở trong tình trạng lao đao khi muốn tìm cho tương lai mình một lối đi. Chiều chiều, tôi hay ra đứng bên dòng sông Đồng Nai, ngắm những cánh hoa trôi nổi bồng bềnh. Đem so sánh tương lai đời mình với cánh hoa lục bình, tôi thấy có cái gì đó na ná: mong manh phiêu bạt, rồi sẽ chẳng biết sẽ về đâu? Nhưng rồi cũng đến giai đoạn tôi quyết định hướng đi cho tương lai đời mình. Cánh lục bình cho tôi một bài học quý giá: cuộc đời mong manh và vắn vỏi là thế, nên tôi cần tìm cho mình một Bến Đỗ an toàn và bền vững hơn. Tìm về với Đấng là Cội Nguồn và Cùng Đích của đời tôi. Đó là căn nguyên đức tin của tôi”(tr.147)

Có nhiều trang tả cảnh thiên nhiên đồng quê rất đẹp. Câu chữ hiện lên sắc nét, tươi tắn, thơm tho: “Mỗi sáng, mặt trời mọc lên bên kia bờ sông, con nước như một tấm gương vàng phản chiếu toàn bộ ánh sáng đầu ngày hắt lên khu đất nhà ngoại. Mỗi chiều, mặt trời khuất sau ngọn đồi, cứ như có ai đó đem toàn bộ của cải giấu sau lưng nhà ngoại.” (tr.71)

“Trên bầu trời một bóng mây vừa bay qua, để lại một khoảng trời xuân trong veo và xanh thăm thẳm. Trời xuân đổ xuống khoảng sân trước nhà chị Diệp con nắng vàng ươm như rót mật. Trước sân, hàng cau vươn thẳng mình, chìa những táng lá xanh um như những cánh tay dang rộng mở ra với trời. Trên thân cau là dây trầu quấn quýt. Sau bao mưa gió, lá trầu xanh càng thêm thắm xanh. Sau bao biến đổi thăng trầm, trầu và cau đã được quấn quýt bên nhau…” (tr.142)

Tôi thực sự xúc động trước sự quan sát rất tinh tế và lấp lánh tình người khi tác giả ghi lại hình ảnh bà già mù: “Từ hai hốc mắt sâu hoắm không còn chút tinh anh của bà, đôi dòng lệ cuộn tròn, trào ra rồi chảy thành dòng qua những nếp nhăn nheo của đôi gò má xương xẩu. Vài tia nắng hắt từ khung cửa sổ đậu lại trên khuôn mặt bà, làm ánh lên hai hàng nước mắt long lanh. Mỗi lần kể chuyện cho tôi nghe bà đều ngồi yên bất động, chỉ có đôi môi mấp máy và cặp mắt nheo nheo như đang hướng về một vùng trời vô định.” (tr.146)

Nếu bạn đọc để ý, sẽ thấy, tác giả không miêu tả những cảnh đời nhầy nhụa hay những hành động tàn bạo của tội ác, những cảnh vô luận hay những biểu hiện của những hình thức “vô văn hóa’; mà luôn giữ cho ngòi bút chừng mực trong thế giới của “cái đẹp”, dù rằng trong tập truyện, vẫn có những cảnh đời như thế.

Kiểu truyện ngắn kết hợp với Tùy bút tạo nên một văn phong gần gũi, tín cẩn. Người đọc có cảm giác rằng chính tác giả (không phải nhân vật) đang chia sẻ những thao thức, những trăn trở, nhửng tâm nguyện của mình về việc sống đạo, về lương tâm Công giáo trước thực tại, và mời gọi mọi người cùng mở lòng ra để hướng ra bên ngoài cổng nhà thờ. Sự thành tín tùy bút này giúp cho những câu truyện, có khi chỉ là tâm trạng của nhân vật, rất ít tính truyện, vẫn cuốn hút người đọc.

Kiểu ngôn ngữ bình dân, giàu tính nhạc, giàu cảm xúc lãng mạn, giàu chất thơ…lại có một sức hấp dẫn khác. Xin nghe những lời chia sẻ này: “Thì ra người ta có thể có rất nhiều nơi để đi, nhưng chỉ có một chốn duy nhất để tìm về. Thì ra người ta có thể lớn lên, đi khắp tứ phương thiên hạ, làm được đủ thứ chuyện, nhưng vẫn có một góc nào đó rất nhỏ, trên một mảnh đất nào đó rất nhỏ, khiến người ta thấy mình vẫn chỉ là đứa con nít của ngày hôm qua chưa kịp lớn. (tr.119)

…Cái nhịp sống ở phố dạy hắn rằng không gì hạnh phúc cho bằng có một chốn để thuộc về, có một nơi để tìm về, có một quê hương xứ sở, có một gốc gác cội nguồn.”(tr.125);

Đằng sau tất cả những câu truyện cuộc đời là thông điệp này: “Lúc này đây, tôi thấy lòng mình bừng lên ước ao muốn được chia sẻ (cho bà) niềm tin của tôi về Đấng Tuyệt Đối là cội nguồn và cùng đích của mọi loài.”(tr.147)


Tháng 12. 2017



Bài liên quan:

CHÚA VỀ !


Chúa về !
như cơn mưa chợt về trong nắng hạn
Để đất hồn con lên những búp non xanh
Để cây hoang chợt nẩy lộc đâm cành
Để suối khô tràn dòng xanh nước mát



Chúa về !
Để lòng con qua bao mùa héo hắt
Tìm được niềm vui, hy vọng nở hoa
Mảnh đời con chợt tươi sáng ngọc ngà
Chân mở lối thênh thang đường đi tới


Chúa về !
Như anh sao đêm chợt về trong đêm tối
Thắp đời con dài những tối mênh mang
Sáng ấm lên ngày xuân mới huy hoàng
Tim reo hát khúc tình ca rộn rã

Chúa về !
Cho đời hoang bát ngát xanh màu mạ
Vết hoang tàn giờ thay thịt đổi da
Vầng khăn tang từng phủ trắng muôn nhà
Nay tiếng hát, nụ cười vang khắp ngõ

Chúa về !
Như cánh bồ câu từ miền đất lạ
Mang cành non về nhắn gởi tin vui
Đã qua rồi cơn hồng thủy dập vùi
Một đất mới một trời tươi khai mở

Chúa về !
Như ông chủ tìm đến nhà tôi tớ
Như Đức Vua đi tìm gặp thứ dân
Căn nhà hoang thân tội lỗi ngập tràn
Bổng bừng dậy tin yêu niềm vui mới

Chúa về !
Cho con thỏa bao năm chờ tháng đợi
Sương hồng ân tuôn đỗ tự mây trời
Mắt mõi mòn thôi giọt đắng tuôn rơi
Lòng ca hát khúc tân ca hớn hở

Chúa về !
Để nối lại những chuyện tình duyên nợ
Cho đất trời thôi cách biệt từ đây
Để hôm nay và đường tới tương lai
Tình Chúa, tình người thắm nồng mãi mãi !

Sơn Ca Linh

MÙA VỌNG CHO QUÊ HƯƠNG

“Bên bờ sông Babylon
ta ra ngồi nức nở mà tưởng nhớ Sion”
(Thánh Vịnh 136, 1)


Một ngày ta chợt thấy
Người đi giữa phố phường
Trong vợi vời ánh mắt
Lấp lánh mộng hồi hương

Trong mắt người ta gặp
Chút gì của riêng ta
Chút gì riêng chỉ có
Trong mắt kẻ xa nhà

Một ngày ta lặng lẽ
Bên bờ Babylon
Nghe trong ta nức nở
Bao vọng ngóng mỏi mòn

Quê hương thành đất khách
Dằng dai cuộc lưu đày
Bóng chiều rơi trên mắt
Huyền cầm lơi trên tay
Quê hương xa ngút ngát
Thời vọng niệm gấm hoa
Trong chập chùng tản lạc
Trong hỗn độn mù xa...

Vẫn từng ngày nuôi mộng
Ngày gặp lại cố hương
Khi cửa Trời mở rộng
Khi mây tầng mưa sương

Vẫn từng ngày ngóng đợi
Quê hương ta chuyển mình
Quê hương mùa cứu rỗi
Quê hương Đấng Cứu Tinh

Quê hương mùa nắng mới
Quê hương ngợp bình minh

Lm. Giuse Maria Cao Gia An
Roma – Mùa Vọng 2014


HÃY DỌN ĐƯỜNG


Tâm tình chờ đợi con hôm nay
Mùa Vọng mừng reo sướng ngập đầy
Bác ái thi hành chớ biếng nhác
Yêu thương phục vụ luôn hăng say
Núi cao bạt đẽo san bằng phẳng
Thung lũng vun đầm lấp thẳng ngay
Sửa đổi tâm hồn thật sạch đẹp
Dọn đường Chúa đến. Ôi, vui thay !

Suy niệm CN II MV Mc 1, 1 - 8
Lm.Đam Khuất Dũng sss

MAU DỌN NHÀ


Mau dọn nhà đón mừng vị thượng khách
Từ trời cao xuống đất thấp viếng thăm
Kìa Người đến trên lối đi cực sạch
Cực tinh tuyền, trong vắt tận chân tâm

Mau dọn nhà cho Người vui trú ngụ
Chút đơn sơ vừa đủ nét thanh tao
Lòng mến thương như tình đương chớm nụ
Duyên đất trời ngây ngất phút kết giao

Mau dọn nhà cho Người thương dời chuyển
Cõi thiên đường thánh điện xuống nơi đây
Cả Ba Ngôi sẽ thường hằng bất biến
Trong lòng em chân, thiện, mỹ đắm say

Mau dọn nhà cho Người vui hạnh phúc
Thỏa lòng yêu đôi bờ vực cách xa
Từ nay thôi tháng năm dài mơ ước
Có em rồi trong kiệu rước ngàn hoa

Mau dọn nhà, nhé em, Người đang đến
Nụ tầm xuân xanh biếc nở hồn nhiên
Đức công minh trùng phùng lòng thương mến
Em khiêm quì mừng hạnh ngộ thần duyên

ả giang hồ

SÁM HỐI VÀ THANH TẨY


Tuần II Vọng B
“Có Đấng quyền thế hơn tôi, đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quay dép cho Người”
(Mc 1, 1-8)

Này đây ngôn sứ của Ta
Dọn đường sửa lối từ xa đến gần
Từ nơi hoang địa xa xăm
Về trong cô lặng nội tâm một mình
Người là ngôn sứ công bình
Ăn châu chấu, uống mật ong rừng lớn lên
Lông lạc đà, áo che thân
Bôn ba đôi gót chân trần báo tin
Ăn năn sám hối thật tình
Nhận ơn Thanh Tẩy trầm mình Jordan
Ngày cứu rỗi đã đến gần
Người nên cao trọng bội phần hơn Gioan
Dừng thôi những cuộc lạc hoan
Lắng lòng khiêm nhường hồi tâm trở về
Bỏ đi điệp giấc đam mê
Công minh sống giữa bộn bề nhân gian
Ơn Thánh Tẩy đẹp vô vàn
Nên cung điện Chúa rỡ ràng giáng sinh
Khởi đầu cho một chuyện tình
Nhân gian cùng với thiên đình giao duyên


Mic. Cao Danh Viện


MƯA BUỒN CHIỀU VỌNG


Vọng đến con còn đứa bé hư
Bao năm Cha đợi vẫn ngần ngừ
Vọng là Cha vọng, con đâu vọng
Nghịch lý muôn đời chốn thế cư!

Vọng đến rồi đi có thấy chi
Đường cong lối quẹo vẫn ôm ghì
Đồi cao lũng thấp còn chưa bạt
Khúc khuỷu gập ghềnh những lối đi

Nào Vọng, nào Chay, ngóng với mong
Đợi chi đợi mãi héo hon lòng
Qua đi ơn Chúa theo dòng nước
Đục mãi đâu còn biết đến trong!

Mưa gió về theo mỗi Vọng buồn
Mơ hồ, chuông lẫn dưới mưa tuôn
Đường trần mỏi gối nghe lòng lạnh
Lãng tử chiều nay nhớ cội nguồn.

Giu-se Nguyễn Văn Sướng

NHƯ HOANG MẠC CHỜ MƯA


Con đốt đuốc soi tìm mình trần trụi
Giữa nẻo đường trần thế đứng lơ ngơ
Tháng năm trôi mòn mỏi đã mệt phờ
Mà đêm tối mịt mù màu hoang vắng

Chúa trồng con đâu mong tìm quả đắng
Trắng tay hoài dầu ân phúc no dư
Bao chuyến qua còn đứng mãi chần chừ
Còn lưỡng lự? Còn ngần ngừ nấn ná?

Con tự hỏi sao còn chưa đáp trả?
Khi lòng hoài khát vọng những cao siêu
Khi bâng khuâng trống vắng biết bao chiều
Tìm chi đó, đợi chi mà quyến luyến

Như hoang mạc chờ mưa về thỏa nguyện
Đất khô cằn mong sương sớm thâu đêm
Con đợi Ai hồn chín nẫu ngọt mềm
Xin kíp đến Ai kia Người hãy đến

Trời cao hỡi sương sa Người đáng mến
Mưa nguồn về tuôn đổ Đấng Công Minh
Con nay đang hoài khao khát ân tình
Mùa trông đợi tím mong chờ khát vọng.

Giu-se Nguyễn Văn Sướng

MÙA VỌNG CỦA LÃO TUẦN PHIÊN


Con thèm chút gió ngoài sân
Chút hoa lá, chút nắng gần, mây xa
Thèm bước đi, tuổi ngọc ngà
Thèm sao sức sống bao là hồn nhiên

Thèm vì góc nhỏ rất riêng
Trơ vơ một chỗ bên hiên cuộc đời
Ngó ra cho hết kiếp người
Có thèm đành chịu đổi dời được đâu

Ngồi hôm nay, chờ mai sau
Nhớ bao tội lỗi, nghe bao ân tình
Chúa yêu từ buổi bình minh
Còn yêu đến lúc một mình cô đơn
Chẳng oán trách, chẳng giận hờn
Bao dung, từ ái vô ngần thứ tha

Ngồi nghe gõ nhịp giang hà
Thuyền đời đã sẵn về xa mịt mùng?
Ngồi chờ tiếng vọng ba chuông
Tuần phiên nức nở nỗi buồn, niềm vui

Một chuông quá khứ chôn vùi
Hai chuông thương tiếc ngậm ngùi tiễn đưa
Ba chuông về lại Quê Xưa
Cội Nguồn Hiện Hữu vào Mùa Yêu Thương

Ba Chuông


DỌN ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA

(Cảm nhận từ TMCN B Vọng 2,Mc1,1-8)


Như tiên báo bao ngàn năm trước
Thánh Gio An đã được sai đi,
Rao tin: cứu độ tới kỳ,
Ăn năn thống hối trở về cùng Cha.

Thánh tuyên bố: Con Cha sẽ đến,
Phép Rửa Người: ân điển Thánh Linh
Người là chính Đấng Cứu Tinh
Quyền năng, phép tắc, nặng tình xót thương.

Là tín hữu trên đường sống đạo
Mùa Vọng về loan báo Tin Mừng,
Dọn lòng thanh sạch, hiến dâng,
Dọn đường đón Chúa, cậy trông phúc lành…

Thế Kiên Dominic


TÂN NIÊN PHỤNG VỤ


Tân niên phụng vụ lại vừa sang.
Mùa Vọng hàng năm: phải sẵn sàng:
Hồn xác sạch trong, chăm khấn nguyện,
Tâm tư tỉnh thức, khỏi hoang mang.
Huân công tín đức: mong toàn thắng,
Thừ thách gian nan: chẳng chịu hàng.
Mừng lễ Giáng Sinh: còn vọng tới
Nước Vua Cứu Thế đại vinh quang…

Thế Kiên Dominic

MẦM SỐNG ĐẠO C1

(Nghe, đọc, suy tư)

Hai yêu
Người Kitô hữu nguyện trung thành,
Tin cậy tình thương Chúa Chí Linh.
Mến Chúa, yêu người như luật dạy
Và luôn ngưỡng vọng phúc trường sinh..

Man na mới
Thời Cựu Ước Man na dân chế biến
Thành món ăn đủ hương vị ngon lành.
Và ngày nay, Chúa ban Bánh Trường Sinh.
Cùng Lời Chúa, dưỡng nuôi người tín hữu.

Ánh ngày mai
Thất bại, khổ tâm trong quá khứ
Quên đi để tiến bước hiên ngang.
Tương lai sán lạn đều căn cứ
Dĩ vãng bỏ quên, không bẽ bàng.

Ba điều giản đơn
Ba điều chính yếu giản đơn.
Phải làm, phải giữ, xin ơn độ trì.
Ai ơi! Luôn phải nhớ ghi.
Trung thành giữ đạo, ắt thì Chúa thương

Thế Kiên Dominic

ĐÁP LỜI MỜI GỌI


Gioan Tẩy Giả kêu mời,
Mọi người dương thế đổi đời tận căn.
Bỏ đi lòng dạ kiêu căng,
Cuộc đời quá khứ, bao năm gian tà.
Trở về gặp lại người Cha,
Cùng bao kẻ khác như là anh em.
Chính nhờ biết sống mọn hèn,
Chẳng cho tự phụ bôi đen trí lòng.
Xác hồn luôn được trắng trong,
Lại còn chan chứa mênh mông ân tình.
Vũ hoàn thoát khỏi chiến chinh,
Muôn loài vui hưởng hòa bình tình thương.
Đây là cách thế dọn đường,
Cho Chúa ngự đến trên dương gian này.
Mọi người được sống sum vầy,
Khi lòng ai nấy tràn đầy tình thương.

CN 2 MVNB 10/02-2017
Hai Tê Miệt Vườn

CÁCH THỨC DỌN ĐƯỜNG


Bạt đi tự phụ kiêu căng,
Loại trừ hành động hung hăng hại người.
Ta cần sám hối, đổi đời,
Bỏ đàng tội lỗi, xa rời dối gian.
Đây là cách thế dọn đàng
Ngõ hầu đón Chúa, lòng tràn sướng vui.
Quá khứ, tội ác chôn vùi,
Bất công thù oán đẩy lùi thật xa.
Từ nay ta sống chan hòa,
Với bao kẻ khác: đậm đà lòng nhân.
Chính nhờ luôn biết thực hành,
Những điều Chúa dạy nhiệt tình hăng say.
Biết đem khối óc bàn tay,
Dựng xây thế giới đẹp hay mọi đàng.
Mọi người từ giã trần gian,
Đến quê thiên quốc ngắm nhan Chúa Trời.

CN 2 MVNB 10/02-2017
Hai Tê Miệt Vườn

TỈNH THỨC

“Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mc 13, 37)



Một ngày chợt quên mất
Mình đang tìm gì đây
Sáng, chưa kịp tỉnh giấc
Đã lao vào vòng xoay


Một ngày như mọi ngày
Cứ cuồng xoay hối hả
Chiều, chưa tỉnh cơn say
Đã nghe đời rệu rã

Giữa nhịp đời tất tả
Hỏi mình tỉnh hay mê
Hỏi đời sao xa lạ
Những đi đi về về...

Đi về đâu về đâu
Những ôm đồm chồng chất
Đời thì như bóng câu
Chưa ôm tròn đã mất

Bao giờ thì sống thật
Dẹp tan những mộng đời
Bao giờ thì tỉnh giấc
Vươn tay đón nắng Trời?

Thức tỉnh đi người hỡi
Tỉnh thức đi người ơi

Lm. Jm. Cao Gia An,
Roma – Mùa Vọng 2014

CANH THỨC

“Anh em hãy coi chừng, hãy tỉnh thức!” (Mc 13, 33)


Ta đâu thể đổ thừa cho con rắn
Khi ta không canh nổi mảnh vườn đời
Cũng đâu thể đổ thừa cho cây cấm
Khi ta mặc tình thả lỏng buông lơi
Khi mở mắt đã thấy ta trần trụi
Và vườn xưa đổ vỡ tàn hoang
Tự ta chuốc vào ta bao nhuốc tủi
Bởi lòng không canh thức sẵn sàng


Ta đâu thể đổ thừa em: cám dỗ!
Khi lòng mình vốn đầy rẫy tạp nham
Ta là rơm, và cũng ta là lửa
Âm ỉ cháy hoài bao cuồng vọng bất kham

Vườn đời vẫn lung linh vườn trái cấm
Và trong ta bao vẫy gọi thậm thì
Như một chiếc thuyền nan dễ đắm
Trên biển đời nhiều giông gió, ta đi...

Ta đi mãi, vẫn trăm năm nỗi khát
Trê phận người nhiều yếu nhược mong manh
Ta mong mãi, vẫn đời tản lạc
Vời vợi xa mộng ước viên thành

Nên mùa mãi trong ta mùa vọng ngóng
Mỗi nhịp đời một nhịp đợi. Khôn ngơi...
Mong Người đến giữa cuộc trần cháy bỏng
Thánh hóa ta bằng dịu ngọt sương trời

Ta về với mùa về thao thức
Đốt đời lên trong thơm ngát hương trầm
Trong lặng lẽ lời kinh và ánh nến
Dọn đời như máng cỏ âm thầm

Đêm canh thức ta cầm đèn đón đợi
Mời Người vào giữa loạn lạc đời ta
Đêm sẽ sáng bừng lên mùa nắng mới
Có Người, sa mạc cũng nở hoa

Lm. Jm. Cao Gia An,
Jerusalem – Mùa Vọng 2013


Lạy Chúa,
Xin dạy con biết cách già
như một người Kitô hữu

Xin thuyết phục con rằng:
người ta chẳng hề bất công
khi cất khỏi con mọi trách nhiệm
khi chẳng còn ai tìm đến hỏi ý kiến của con
khi một người khác được đặt vào chỗ vốn là của con


Xin hãy tước khỏi con niềm tự hào
với những kinh nghiệm đã thuộc về quá khứ
Xin hãy cất khỏi con cảm giác
rằng con là người bất khả thay thế

Ôi, lạy Chúa!
ước gì qua sự mất mát từng ngày
đối với những phù hoa vật chất
con nhìn ra được quy luật của thời gian
và nhận ra cuộc đời con vẫn đang diễn tiến từng ngày
dưới sức thôi thúc của một bàn tay quan phòng kỳ diệu

Lạy Chúa, xin hãy giúp con
để con vẫn còn hữu ích với người khác
nhất là những người đang gánh nhiều trách nhiệm
bằng sự lạc quan và lời kinh nguyện
bằng sự vui tươi và nhiệt huyết sống

Xin kết nối con vào cuộc đời
giữa một thế giới không ngừng đổi thay
bằng thái độ sống khiêm tốn và thanh thản
mà không cần phải ca thán vì những gì đã qua

Xin dạy con biết chấp nhận
bước ra khỏi sân chơi của cuộc đời
như con đã từng thản nhiên đón nhận
khi những buổi hoàng hôn lịm tắt nắng trời…

Con cầu xin Chúa tha thứ
nếu mãi đến lúc này, ở buổi chiều tà bóng xế
con mới nhận ra Chúa đã yêu con đến dường nào

Xin Chúa tiếp tục dạy con
biết nhìn ngắm phúc phận của đời mình
với một lòng biết ơn sâu xa,
phúc phận mà Chúa đã chuẩn bị cho con
và không ngừng dẫn bước con tiến về
khởi từ giây phút đầu tiên của cuộc đời con

Lạy Chúa,
xin dạy con biết cách già như thế! Amen.

L. Parda, S.J.
Chuyển Ngữ: Cao Gia An, S.J.

Bài liên quan: Chia sẻ của một linh mục tuổi đã xế chiều




Ngày đầu tiên đến trường là lần đầu tiên trong đời con được tận mắt nhìn thấy hoa phượng. Cây phượng già rợp bóng trên khoảng sân vuông nho nhỏ. Những tán phượng mùa thu xanh um. Từ giữa sân trường, con nghễnh cổ nhìn lên khoảng trời trong vắt trên đầu. Khoảng trời bị chia nhỏ bởi một màn lưới mỏng mảnh làm bằng những chiếc lá phượng li ti. Khoảng trời được điểm xuyến lác đác với vài cánh hoa đỏ còn sót lại sau mùa hạ. Những cánh hoa nở muộn thật tội nghiệp. Chúng như lạc lõng giữa mất hút giữa cái nền xanh um mướt rượt.


Ông dẫn con đến lớp. Thấy con cứ trù trừ giữa sân trường, ông hỏi:

– Sao vậy con? Con tìm gì vậy?

– Dạ con tìm hoa phượng?

– Con thích hoa phượng hả?

– Dạ, con thích lắm… hoa đẹp quá ông ơi…

Ông cười. Nhưng rồi nhìn cái mặt ngơ ngẩn của con, ông nhăn nhăn vầng trán như nghĩ ngợi về một điều gì đó. Chỉ một chút hoa đỏ cũng đủ làm con ngơ ngẩn thế sao? Ừ, lần đầu tiên con thấy hoa phượng mà. Làng mình nghèo. Xóm mình nghèo. Nghèo cả cơm ăn áo mặc lẫn hoa lá cỏ cây. Trên vùng đất đá trộn lẫn với nhau thì làm sao tìm được chút hoa cỏ đẹp đẹp.

– À, ông ơi, đây có phải là cây hoa đỏ mà mình vẫn thường nhìn thấy từ trong làng mình không ông?… Trong làng mình nhìn ra, con thấy cả một trời rực đỏ…

– Đúng rồi con ạ… nhưng bây giờ đã là cuối mùa hoa rồi…

– Vậy những bông hoa phượng khia trốn đi đâu mất hết rồi hở ông?

– Hoa phượng có trốn đâu, hoa phượng về trời đấy con ạ. Cái gì tồn tại một thời gian ở mặt đất này rồi cũng sẽ về trời hết thôi…

A, hoa phượng về trời. Hoa phượng về trời là đúng rồi. Hoa đẹp thế mà, đáng được về trời lắm.

Ông thường dạy con rằng người ta sống đẹp là để sau này về trời. Trời là nơi chỉ dành cho những điều tốt đẹp. Trời có Chúa tốt lành vô cùng, có Đức Mẹ đẹp thiệt đẹp. Trời còn có có các thiên thần và các thánh không ngừng hát ca và sống hạnh phúc… Trời trong mường tượng của con bây giờ có thêm hoa phượng nữa. Đẹp quá…

– Ông ơi, chừng nào thì con về trời hả ông?

– Chưa đâu con ạ! muốn về trời, con phải đi qua trái đất đã…

– Ông ơi, con mong về trời để được nhìn thấy thật nhiều hoa phượng…

Nhìn cái mặt ngơ ngẩn của con, ông cười. Ông hỏi con có muốn ông dời cây phượng về nhà cho con không. Con ngạc nhiên, cây phượng to thế sao mà dời về nhà mình được hả ông…

Ông dẫn con đi rảo một vòng quanh gốc phượng, chỉ cho con thấy những quả phượng khô nằm rải dưới gốc cây. Quả phượng khô đen đủi cong queo. Con hỏi ông sao cánh hoa đẹp thế kia lại tạo ra những quả xấu xí đến thế? Ông chỉ mỉm cười. Xấu thì sao đâu con. Đâu phải xấu là không tốt, đâu phải đẹp là lúc nào cũng tốt…

Ông và con tách từng hạt phượng nhỏ đem về phơi trước sân nhà. Rồi ông chăm chút cho hạt vào những bọc đất. Ông kiên nhẫn tưới nước đều đều cho bọc đất mỗi ngày… Cho đến khi các chồi cây con con trồi lên trong chiếc bọc. Ông bảo đây là cây phượng con. Ông và con sẽ chăm sóc cho nó lớn để sân nhà mình có hoa phượng.

Cây phượng con lớn lên từng ngày. Con cũng lớn lên từng ngày. Con nóng lòng chờ ngày cây phượng vĩ đơm hoa.

***

Nhưng cây phượng chưa kịp nở hoa thì ông đã đi qua trái đất để về trời. Ngày ông về trời là một ngày mưa dầm rả rích. Cây phượng trước nhà ủ rủ phơi mình trong gió. Ngày đó con còn là một đứa con nít, vô tâm lắm. Thấy họ hàng mình khóc ông, con cũng khóc theo. Nhưng con đâu có biết mình khóc vì cái gì. Con nghĩ rằng ông về trời để chuẩn bị cho một mùa hoa phượng mới. Ông về trời để ươm mầm cho hoa…

Những ngày tuổi thơ bên ông, trong bầu khí quây quần của đại gia đình mình, là những ngày đẹp nhất trong ký ức ngọt ngào của con. Ông mất rồi, đại gia đình chia ly tứ tán mỗi người một phương. Ai cũng có gia đình bé nhỏ của riêng mình. Ai cũng nặng gánh cơm áo. Gia đình con trở thành những người tha phương cầu thực…

Con được tiếp tục học hành nơi phố thị. Trường học ở phố người ta không trồng hoa phượng ông ạ. Người ta tiện tặn tính từng miếng đất. Xây một cái căn-tin thì có giá trị kinh tế hơn là trồng cây hoa phượng. Nền lát xi măng thì sạch sẽ gọn gàng hơn là nền đất cỏ xanh… Trong kỷ niệm tuổi học trò của con không có nhiều hoa phượng. Có phải vì vậy mà hoa phượng cứ mãi đẹp trong con cái vẻ đẹp huyền hoặc của điều gì đó dường như là cổ tích.

Thời sinh viên, con gặp lại cổ tích của mình. Trường sư phạm cổ kính với những gốc phượng già có gần trăm năm tuổi… Con như gặp lại điều gì đó thật thân thương. Nhưng ông ơi, sao con không còn có cảm giác gần gũi nữa. Màu hoa đỏ với con giờ như nửa quen nửa lạ. Có phải vì hoa xứ người thì khác với hoa làng mình? Hay vì con đã lớn, đã không còn ngu ngơ trước cái đẹp một thời hút hồn con? Là dòng đời đổi thay hay là con thay đổi?

Ông ơi, lớn lên con mới hiểu đâu phải điều gì đẹp cũng được trân trọng nâng niu. Lớn lên con mới hiểu rằng hoa phượng không có về trời. Cánh hoa nào cũng chỉ có một thời khoe sắc. Cánh hoa mỹ miều nào cũng phải rơi xuống đất. Không bị gót giày người ta chà đạp thì hoa cũng phải âm thầm mục rữa thối nát với thời gian.

Con nhớ những ngày mưa, xác hoa phượng lẫn với xác lá rơi nhoe nhoét trên sân trường đại học. Con trùm vội chiếc áo mưa, cố chạy cho kịp giờ làm thêm. Cuộc sống sinh viên của con đâu còn có chỗ cho những mơ mộng lãng xẹt như hồi còn nhỏ. Ngắm hoa đâu có giúp gì cho con có cái để ăn, có chỗ để ở, có thể học, có thể sống… Lớn lên, giữa bao bộn bề của cuộc sống, người ta còn mơ gì đến cái đẹp lý tưởng nữa không ông nhỉ?

Rồi con đi vào đời. Dọc lối đi của con thỉnh thoảng lại xuất hiện vài cây hoa phượng đỏ. Có những lúc con giật mình, như giật mình vì nhìn chợt thấy một bóng dáng quen quen tự thở nào đó. Nhưng rồi dòng đời cũng cuốn con đi… mặc cho màu hoa đỏ cứ bám riết theo con trong nhập nhằng ký ức.

***

Ngày con về thăm quê, hai cây phượng ở góc sân nhà mình nở hoa rực rỡ. Con lặng người. Sao hoa lại đẹp thế ông ơi. Đã biết bao mùa hoa đi qua. Đã biết bao cánh hoa rụng rơi mục rữa dưới gốc phượng già. Những cánh hoa bay về đâu? Hồn hoa tan vào đâu? Mặc cho những cánh hoa mùa cũ qua đi, những cánh hoa mới lại tiếp tục vào đời. Mặc cho những xác hoa cuối mùa cứ âm thầm mục rữa, cây phượng vẫn lặng lẽ tích góp cho đời màu hoa rực rỡ. Những mùa hoa liên tục nối tiếp nhau như một dòng chảy bất tận của sự sống.

Gần ba mươi năm trước ông đã trồng những gốc phượng này. Gốc phượng xum xuê tươi tốt chạy suốt dòng thời gian. Cây phượng già bám rễ sâu vào đất mẹ, xuyên qua những lớp sỏi đá cỗi cằn để đi tìm sự sống. Cây phượng già cứ lặng lẽ mà lớn lên cùng với phong ba bão táp. Từ trong cái nghèo nàn khắc nghiệt, cây phượng đơm hoa rực rỡ. Là hoa quả kết tinh từ làng mình mình đấy, là tinh túy của đất quê mình đấy.

Còn con? Con chạy loanh quanh giữa dòng đời. Con trôi mãi miết giữa quê người xứ lạ… Gần ba mươi năm trước ông đã trồng trong con bao điều tốt đẹp. Những điều ấy đã trổ sinh được gì nơi con?…

***

Rồi con lại đi, ông ạ. Đây vẫn là quê hương của con, là nơi chôn nhau cắt rốn của con. Nhưng con sinh ra dường như không phải để bám rễ như cây phượng già. Con được sinh ra cho một cuộc sống khác. Con có một con đường khác. Ước mong rằng đó sẽ là con đường dẫn con về trời. Một ngày nào đó con sẽ theo hoa phượng về trời. Con sẽ gặp lại ông. Con sẽ gặp lại cây phượng già rợp bóng.

Con sẽ gặp lại chính mình với những giấc mơ cổ tích của năm nào. Có những điều đẹp thật đẹp nhưng đâu chỉ là cổ tích. Vì trong con, ông đâu chỉ là cổ tích…

Roma – 09.06.2009

(Cao Gia An, S.J., Hoa Phượng Về Trời, Nxb Tổng Hợp, TpHCM 2014, tr. 88-96)

Truyện ngắn đạt giải nhất cuộc thi viết “Nhánh Huệ Nước Trời”
Tôn vinh Thánh Giuse và cổ võ sống Đức Khiết Tịnh

Hình ảnh 2 nhân vật chính trong phim "Huệ đêm", bộ phim được sản xuất dựa trên truyện ngắn "Huệ trong đêm"

Cánh cửa xịch mở, cô gái ùa vào như cơn lốc. Mùi nước hoa. Mùi son phấn. Và cả thân hình cô đổ sầm vào người chàng trai. Căn phòng nhỏ trở nên ngột ngạt với tiếng thở dập dồn hốt hoảng…

Sau một lúc định thần, chàng trai giật mình:

– Cô…

– Suỵt… – cô gái thì thầm – đừng có lên tiếng!

Ngoài hiên có tiếng chân người rượt đuổi. Có tiếng làu bàu chửi đổng của kẻ vừa săn hụt con mồi…

—–+—–

Dưới ánh đèn ngủ lờ mờ anh nhận ra người thiếu nữ. Là cô. Họ là người quen của nhau, mối quen biết hời hợt của một chàng sinh viên và một cô gái bán hoa ở cùng khu nhà trọ.

– Cô… sao lại thế này? – Anh cất tiếng phá tan cái ngột ngạt im lặng, cố không đặt tầm mắt vào người cô gái. Mái tóc lòa xòa xổ tung che mất nửa khuôn mặt cô. Chiếc áo ngủ khoác hờ trên người cô mỏng manh như cánh bướm.

– Họ lại bắt tôi tiếp khách… Họ không buông tha cho tôi, không muốn cho tôi làm lại cuộc đời…

Đêm. Cả khu phố ngập chìm trong bóng tối. Con hẻm sâu hun hút, lắc léo và tối om như lòng người. Đâu đó cuối con phố, vẫn còn chập chờn bóng dáng những cánh bướm đêm…

—–+—–

Từ ngày về ở trọ khu này, anh như lạc vào một góc khác của cuộc đời. Những cặp trai gái dìu nhau ngả ngớn như thể trong thế giới này không còn ai khác ngoài họ. Môi đỏ. Mắt xanh. Vai trần. Vải mỏng… Những cảnh đời ấy khuấy động một góc khuất bên trong tâm hồn anh. Giữa lòng anh nổi lên nhiều giông bão. Nhiều hình ảnh hở hang khiêu khích đọng lại, và dần định hình trong anh một thế giới ma mị tội lỗi… Những ám ảnh về sự buông thả sa đọa làm anh ớn nhợn, nhưng chúng cũng khơi dậy nơi anh nhiều rạo rực khó tả. Có điều gì đó trong anh như con sóng triều dâng ăm ắp, cứ chực bùng phát vỡ tràn.

Những lúc ấy, anh thường ngước nhìn lên tượng thánh Giuse trong phòng mình. Càng lúc anh càng cảm thấy lạ lùng và kính nể khi nghĩ đến việc thánh nhân đã có thể sống khiết tịnh suốt đời bên người phụ nữ mình yêu. Liệu giữa thế giới ngày nay, còn có chỗ nào cho những Giuse như thế nữa chăng?…

—–+—–

Bây giờ, đối diện với anh là một cô gái bằng xương bằng thịt, giữa đêm khuya, trong căn phòng của chính anh. Thế giới ma mị tội lỗi lại chập chờn nhảy múa trong đầu anh…

Nhắm mắt. Hít một hơi thở thật sâu. Anh bỗng cảm nhận có điều gì đó lạ lắm. Là mùi hương hoa Huệ. Không sực nức nồng nặc như mùi nước hoa, không mời mọc quyến rũ như mùi son phấn, hương hoa nhè nhẹ thoang thoảng lại cho anh cảm giác thanh thoát đến lạ kỳ…

Không, mình không thể! Cuộc đời đã đẩy cô gái đến cùng đường… Vô tình cô đã bám vào mình như một chiếc phao, mình không thể đan tâm dìm cô chìm sâu thêm nữa. Cuộc đời đã đập vỡ tan tành niềm tin mỏng manh trong cô, mình không thể tiếp thêm vào những đổ vỡ ấy nữa…

– Thôi, cô nằm xuống đó ngủ đi…

– Anh… còn anh…

– Tôi nằm đây ngủ và giữ cửa cho cô!

Cô gái đảo mắt một vòng quanh căn phòng. Đôi mắt cô chợt sáng lên khi dừng lại trước bàn thờ. Cô nhẹ nhàng buông người, nhắm mắt…

Đêm. Tiếng trằn trọc trở mình. Tiếng thở đều đặn. Căn phòng thoảng mùi son phấn, mùi nước hoa, quyện xen với hương hoa Huệ thơm ngát…

—–+—–

Chàng trai giật mình mở mắt. Chỗ cô gái nằm hôm qua giờ là một manh chiếu trống. Dấu vết còn lại chỉ là một mẩu giấy viết vội: “Cám ơn anh đã cho tôi một đêm yên lành. Và cám ơn Thánh Giuse nữa anh ạ! Tôi cũng là người có đạo. Tôi sẽ về quê mình để được sống lại như một người có đạo”…

Cô gái của ngày hôm qua vụt đến như những mơ tưởng chắp nối rời rạc trong anh. Với sự ra đi của cô, dường như một góc nào đó trong tâm hồn anh đã được thánh hóa.

Hôm ấy là ngày lễ Kính Thánh Giuse. Trên chiếc bàn thờ nho nhỏ, đóa Huệ lành tỏa hương thơm ngát.

Roma, 03.01.2010



Ghi chú của BBT: Truyện ngắn này đã được chuyển thể và dựng thành phim Huệ đêm. Quý ông bà anh chị em có thể xem phim ở video bên dưới và tại fanpage www.facebook.com/huedem2016/
Các ca khúc trong phim: http://mp3.zing.vn/album/Hue-Dem-OST-Various-Artists/ZOU7Z0O0.html




Nó không thích đọc kinh tối. Nếu được phép nói thật lòng mình, nó sẽ hét to lên: con ghét đọc kinh tối lắm! Dù sao thì đó chỉ là chuyện thích hay không thích của một đứa con nít.
Trong gia đình sống chung ba thế hệ thì một đứa con nít như nó chả bao giờ có cơ hội để mà hét toáng lên điều mình thích hay không. Thế nên cứ mỗi tối, nó lại nghiêm chỉnh như một thằng cháu ngoan, đong đưa hai chân trên ghế, lấy hết hơi hết sức để đọc thật to những kinh kệ mà nó đã thuộc nằm lòng… Nghe nó đọc kinh, ông bà nội thỉnh thoảng nhìn nhau mỉm cười.

Hồi đó, chả bao giờ nó có thể dự trọn vẹn một buổi kinh tối. Con nít, lấy đâu hơi sức mà đọc cho hết các kinh từ đầu buổi tới cuối buổi. Hét toáng lên được một hồi thì giọng của nó cứ nhỏ dần, nhỏ dần. Rồi trong cái thanh âm rì rầm đều đều của cả đại gia đình, nó bắt đầu gục gà gục gặc, rồi chìm vào trong giấc ngủ lúc nào cũng chẳng biết. Nó đánh một giấc ngon lành, cho đến sáng dậy thì thấy mình đang nằm trong mùng của bà nội. Cứ thế, giấc ngủ của tuổi thơ nó được ru đều bởi lời kinh của cả gia đình, bởi hương trầu dìu dặt của bà nội.

Từ khi trong xóm có được vài chiếc Tivi trắng đen, nó tham dự giờ kinh tỉnh táo hơn. Nghĩa là vẫn hét toáng lên ở đầu buổi, gục gà gục gặc ở giữa buổi, nhưng càng về cuối buổi nó càng tỉnh. Tỉnh để sau đó còn được bà nội dẫn đi xem cải lương. Nó mê cải lương chẳng kém gì bà nội, dù rằng buổi xem cải lương của hai bà cháu bao giờ cũng kết thúc bằng cái cảnh bà nội một tay xách tấm chiếu, một tay ẵm nó đã ngủ khò khò từ khi nào. Sáng ra nó cằn nhằn phụng phịu: “Sao bà nội hổng chịu gọi con dậy để xem cho hết tuồng… rồi Công Chúa có cứu được Phò Mã Cùi khỏi tay bà Nữ Chúa Rắn hông nội?” Sáng sớm, còn trong mùng, bà nội rì rầm kể lại cho nó nghe đoạn kết của vở tuồng hôm trước. Nhảy tót xuống giường, nó chạy đi tìm ông nội để líu lo kể lại, như thể ta đây tham dự từ đầu buổi tới cuối buổi, ta đây có thể kể lại vanh vách. Bà nội nhìn nó cười tủm tỉm.

Nói gì thì nói, nhờ có mấy tuồng cải lương và mấy vở kịch trên Tivi mà giờ kinh tối của nó được thêm nhiều hương vị. Nghĩa là miệng nó vẫn đọc kinh mà trong đầu thì đầy ắp hình ảnh của các nhân vật cải lương, cổ tích. Nó tưởng tượng Chúa như ông Tiên đã hiện ra dạy cho chàng Thạch Sanh phép thuật, nó cầu nguyện để ở tập tới ông Tiên lại hiện ra cứu chàng khỏi tay gã Lý Thông độc ác và cưới được Công Chúa. Có lúc, nó lại thấy Chúa là ông Bụt trong vở Tấm Cám, vừa quyền phép vừa luôn hết lòng yêu thương và bảo vệ người nghèo. Lâu lâu, Chúa lại mang hình ảnh của ông Vua nhân từ và khôn ngoan như trong tuồng Cánh Hồng Giữa Hoàng Cung… Từ đó, giờ kinh tối của nó luôn đầy ắp những hình ảnh vừa đẹp đẽ vừa thánh thiêng, là nơi để nó gởi gắm và xây dựng những nguyện ước đơn sơ trong sáng của tuổi thơ. Tối tối, trong nhịp kinh đều đều, trong tiếng phe phẩy nhẹ nhàng của chiếc quạt giấy trên tay ông nội, trong mùi trầu hăng hăng của bà nội, mùi hương bồ kết thoang thoảng từ mái tóc mới gội của cô Út… nó thả mình vào khung trời mơ.

Khi nó lớn hơn một chút, đủ để biết cách đọc kinh tối mà không cần phải gây ồn ào, không còn bị ngủ gục, thì cả ông bà nội đều mất. Ông bà cùng dự giờ kinh với nó từ trên một góc nhỏ của bàn thờ. Một cách mơ hồ, nó tin rằng ông bà nội trên bàn thờ đang nhìn nó, đang nghe tiếng nó đọc kinh, đang cùng cầu nguyện với nó. Nó xin ông bà nội cầu nguyện với Chúa cho gia đình nó bình an, cho ba má nó sức khỏe, cho anh em nó học hành giỏi giang…


Gia đình nó chuyển đi làm ăn xa. Đi trong đêm. Nơi xứ lạ quê người, cả gia đình nó vẫn tiếp tục thói quen đọc kinh tối, như một phần sinh hoạt không thể thiếu của gia đình. Ba má nó vẫn thành kính, mấy đứa em nó vẫn đơn sơ dâng lời nguyện trong đêm. Chỉ có nó là khác.

Nó mơ hồ nhận ra những nghi nan đang ngày càng lớn dần giữa lòng mình. Những thăng trầm nghiệt ngã trong hoàn cảnh của gia đình bắt nó phải đặt lại câu hỏi về vị Chúa mà nó hằng cầu nguyện. Chúa có yêu thương người ta hết không? Chúa có quyền phép thật không? Tại sao Chúa đã liên tục làm ngơ trước những thăng trầm của gia đình nó? Chúa hình như đã chẳng bênh vực người nghèo trước những áp đặt và bóc lột của người giàu. Chúa dường như cũng chẳng đủ quyền năng để đem đến những kết thúc có hậu như các vở tuồng cải lương. Nó đã bao lần nguyện xin Chúa tha thiết, thế mà… Từ một vị Chúa quyền năng như ông Vua, ông Tiên, ông Bụt, hình ảnh Chúa trở nên mờ nhạt, mơ hồ và ngày càng vụn vỡ trong nó. Giữa lòng nó trổi lên câu hỏi mà nó không thể nào cưỡng lại được: Có Chúa không? Có Chúa thì sao Chúa lại để cho gia đình nó gặp bao nhiêu rủi ro đến độ phải bỏ quê mà đi, đi như những người trốn nợ, bị người ta hắt hủi khinh khi đủ điều. Gia đình nó đã làm gì có lỗi đâu?

Nó cũng bắt đầu hoang mang, không dám chắc rằng ông bà nội vẫn cùng đọc kinh với nó mỗi tối? Ông bà nội chết rồi kia mà! Có chắc là sau khi chết, người ta vẫn còn hiện diện được với con cháu không? Những điều nó học được ở trên trường khác xa những gì mà nó mơ hồ xác tín từ hồi còn nhỏ lắm…

***

– Chào ba con đi học về, chào bác Tư con đi học về.

Chào khách xong, vứt vội chiếc cặp vào góc, nó chạy xuống bếp lục cơm ăn tranh thủ để còn kịp giờ làm thêm buổi tối. Trên nhà, ba nó và ông Tư, bạn hàng bán hủ tíu gõ, vẫn tiếp tục câu chuyện:

– Nghe nói thằng cháu học khá lắm hả anh Năm?

– Dạ, cũng được anh Tư ạ!

– Thằng nhỏ giỏi thiệt, vừa đi học vừa đi làm… à, mà nó học cùng lớp với mấy nhỏ con bà bác sĩ đầu ngõ hả?

– Dạ…

– Nói hổng phải khen, tui thấy anh nhịn tốt thiệt, cái bà bác sĩ đó cứ cà khịa anh hoài, nào là nghèo mà bày đặt hay nói chữ, nào là bán cháo lòng mà cũng bày đặt cho con đi học… phải mà bả gặp tui…

– Thôi mà anh Tư…

– Bộ chú hổng bực mình hả?

– Dạ… thì cũng bực chứ, nhưng mà nhịn được thì tốt hơn anh ơi!

Ngập ngừng một chút, ba nó tiếp:

– Với lại tui cũng không quen chửi rủa người ta. Mình chỉ có một cái miệng. Cũng cái miệng này tối tối mình đọc kinh cầu nguyện với Chúa, mà cũng cái miệng này mình tru tréo chửi rủa người ta… làm vậy coi sao được!

– Mà nè, chú nói cầu nguyện tui mới nói…

Một chút im lặng dè chừng, rồi ông tư tiếp:

– Người ta nói nhà chú tối nào cũng cầu nguyện, cầu nguyện hoài mà…

– …mà có khá hơn chút nào đâu, phải hông anh Tư?

– Tui chỉ nghe họ độc mồm nói vậy thôi, đừng buồn chú Năm à!

– Không đâu anh Tư, họ không hiểu cũng phải thôi, vì chính tui là người trong cuộc mà cũng đã phải trải qua một thời gian dài nghi nan thất vọng…

Ở nhà dưới, đang nhai dở miếng cơm, nó lắng tai để theo dõi câu chuyện. Nhà trên, giọng ba nó trầm trầm tiếp tục:

– Tui hỏi Chúa hoài, sao để cho nhà con khổ quá… nhưng mà đến Thị Trấn này, tui mới thấy nhiều người còn khổ và đáng thương hơn mình nhiều anh Tư à! Có người nghèo khổ vì thiếu thốn tiền bạc, nhưng đáng thương hơn là những người tiền bạc ê hề trong nhà mà cũng khổ, khổ vì giành giật bon chen, khổ vì con cái hư hỏng…

Ngừng một lúc rồi ba nó tiếp:

– Cũng có những lúc tui ước ao giá mà mình giàu hơn, đỡ khổ hơn, nhưng mà nghĩ lại thấy nghèo mà gia đình đầm ấm lại là một cái phúc…

– Ừ, tui thấy gia đình chú nghèo mà hạnh phúc thiệt đó, hổng phải nhà nào cũng có được đâu.

– Với lại đọc kinh cầu nguyện hơn nửa đời người, tui mới cảm nghiệm được một điều quan trọng: Chúa là Cha anh Tư à! Cha thì biết con mình cần gì, và bao giờ cũng dành cho nó cái tốt nhất. Con tui nó muốn nhiều thứ, nhưng là cha thì tui chỉ nên cho những thứ nó cần. Còn nhiều thứ nó muốn mà không thật sự cần thiết cho nó, thì cho làm gì phải hông anh Tư?

– Chú đang nói về chuyện của Chúa với gia đình chú hả?

– Dạ.. chỉ tiếc là hồi đó tới giờ, tui thường đến với Chúa không phải như một đứa con đến với cha, nhưng mà như một thằng ăn xin. Tui kỳ kèo hoài mà hông được, nên đâm chán là đúng rồi!

– Vậy chứ cầu nguyện mà hổng xin thì chú biểu làm cái gì? – ông Tư ngạc nhiên.

– Thì cũng xin chứ, nhưng mà không phải là xin Chúa làm theo ý mình, mà là xin làm sao cho mình đủ can đảm làm theo ý Chúa.

– Làm theo ý Chúa là sao? – Ông Tư lại thắc mắc.

– Là chấp nhận và sống vui với hiện tại của mình khi mà mình đã cố gắng hết sức, là tin rằng hiện tại này do Chúa muốn, là tốt nhất cho mình, cho gia đình mình.

– Tin rằng hiện tại này là tốt nhất cho mình – ông Tư lẩm bẩm – tối nào chú cũng cầu nguyện như vậy, hèn chi tui thấy chú vẫn bình an và sống vui được.

– Giữ được thói quen như vậy, tui cám ơn ông bà mình nhiều lắm anh Tư à! Hồi nhỏ tui đọc kinh ào ào, đọc riết rồi thuộc, mà có hiểu gì đâu. Giờ mới biết phải từ từ thì những điều mình đọc, mình thuộc mới thấm dần vào máu thịt mình…

Im vắng. Hình như mỗi người đang bận theo đuổi một thế giới riêng của mình. Ông Tư đang trầm ngâm, như đang suy nghĩ lung lắm về những điều mới mẻ vừa được nghe. Còn ba nó, ông đang dõi mắt nhìn lên khung hình ông bà nội trên bàn thờ, như đang dõi về một khung trời linh thánh nào đó…


Nhà dưới, nó chẳng buồn nhai cơm nữa. Cuộc đối thoại của hai người lớn mở ra quá nhiều điều cho nó phải suy nghĩ. Lần đầu tiên trong đời nó thấy ba mình lạ quá. Đằng sau cái vẻ bề ngoài trầm lặng và cam chịu, lúc này dường như nơi ông còn có một cái gì đó thẳm sâu, một cái gì đó linh thiêng, một cái gì đó nó không thể gọi tên được. Phải chăng cái chiều sâu linh thánh ấy vốn là một phần tiềm hữu trong mỗi con người, vốn trường tồn bất biến, và vốn thường bị người ta dẹp để vào một góc khuất?

Nắng chiều sắp tắt. Gió loạc xoạc thổi vào ngôi nhà tranh lặng lẽ. Cứ mỗi lần đón gió chiều, nó lại thấy nhớ quê da diết. Nó nhớ những ngày cả đại gia đình quây quần trong giờ kinh tối. Đó là những ngày êm đềm và đầm ấm nhất trong hoài niệm tuổi thơ của nó. Bất chợt nó nghe như trong gió có mùi hương trầu thoang thoảng, nhè nhẹ, dặt dìu, mà dai dẳng, mà như gần gũi lẩn khuất đâu đây…

Thủ Đức 16.05.2008
Cao Gia An, S.J., Tập Truyện Ngắn Hoa Phượng Về Trời, Nxb Tổng Hợp TpHCM, 2014, tr. 45-55.


“Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6, 31)


Cho ta một khoảng cách
Ta nhìn lại cuộc đời
Cho rõ ràng tách bạch
Những nhập nhằng dở hơi.


Cho ta một khoảng cách
Ta nhìn lại mặt người
Bằng nhãn quan đã sạch
Những lệch nghiêng vẽ vời.

Cho ta một khoảng cách
Ta tìm lại đời ta
Bằng tình yêu nguyên vẹn
Đủ gần và đủ xa.

Tự nhiên sẽ giãn ra
Những dằng co dai dẳng
Tự nhiên sẽ nhạt nhòa
Bao muộn phiền cay đắng.

Những ôm đồm níu giữ
Tự nhiên sẽ rụng rơi
Trong nhẹ nhàng thanh thản
Ta cân lại cuộc đời…

Cho ta một khoảng lặng
Ta nghe tiếng lòng mình
Trong tịnh tâm khiêm lắng
Trong cúi đầu lặng thinh.

Cho ta một khoảng vắng
Ta ngồi với riêng ta
Trên lối về gặp lại
Một chân dung thật thà.

Cho ta một khoảng trắng
Ta vẽ lại đời mình
Những gì là ngay thẳng
Những gì là nguyên trinh.

Cho ta một khoảng cách
Sống chậm lại nhịp đời…
Để bình an cảm nếm
Và yêu trọn kiếp người.

Cao Gia An, S.J.




Chỉ cần một chút hồi tâm
Đã nghe tiếng gọi âm thầm trong tim
Đường hoang đã mỏi cánh chim
Đời hoang đã sợ ngập chìm bến mê


Chỉ cần ước muốn quay về
Tình Cha đã chảy tràn trề trong con
Càng chờ càng đợi mỏi mòn
Tình càng nung nấu sắt son vững bền

Chỉ cần một chút vùng lên
Đã nghe sức sống tràn lênh láng lòng
Giậm chân rũ bỏ bụi hồng
Buông tay rũ bỏ đèo bồng cuồng si

Chỉ cần một bước chân đi
Quan san cách trở ngại chi đường dài
Trời xanh rộng mở tương lai
Đất tươi theo mỗi gót hài nở hoa

Chỉ vừa lấp ló từ xa
Đã chìm gọn giữa tay cha đón mừng
Tội đời bỏ lại sau lưng
Về… Vui như thể chưa từng chia ly

Chỉ cần tay chắp gối quỳ
Nghe lời hòa giải thầm thì thẳm sâu…
Chỉ cần làm lại từ đầu
Cách ngăn đã có nhịp cầu tình Cha

Chỉ cần chân bước vào nhà
Chẳng mơ chi nữa cao xa cuộc đời
Tình Cha êm ái gọi mời
Nhà Cha chứa cả đất trời mênh mông

Chỉ cần một chút tấm lòng
Sẽ reo hạnh phúc trong vòng tay Cha.

Cao Gia An, S.J
Roma Mùa Chay 2014




Cha Tâm hẹn hò với con Linh Gà ở quán cà phê Sợi Đêm. Cái tin giựt gân ấy chảy từ xóm nhà thờ xuống xóm chợ, lan qua hai bên xóm bờ kinh, tràn ra khắp xứ. Chẳng mấy chốc mà ai cũng biết.
Người thương thì xua tay lắc đầu: Đồn chi mà đồn thất nhơn ác đức vậy, mắc tội chết! Cha Tâm sao lại có thể chứ! Kẻ ghét thì rung đùi lẩm bẩm: Đấy đấy thấy chưa, đã bảo mà! Chỉ được cái vẻ đạo mạo bề ngoài thôi!

Ở xứ này không ai không biết con Linh Gà. Làng xóm thường có thói quen gọi tên người đi cùng với tên nghề nghiệp, như Bà Năm Cháo là người bán cháo, Bà Sáu Bún là người bán bún. Con Linh Gà không bán gà. Nó làm gà. Có một thời người ta gọi nó là con Linh gà móng đỏ. Hình như cái tên đó dài quá, người ta gọi tắt lại là Linh Gà. Nó sống ở cuối xóm đạo, mỗi ngày cứ đi đi về về như cái gai trước mắt mọi người. Trong cái xóm đạo toàn tòng này, sự có mặt và lối sống của nó là một cái ung nhọt làm người ta nhức nhối. Có rất nhiều người lấy làm tiếc vì chỉ đẩy được nó về cuối xóm đạo, chứ không hoàn toàn nhổ bật được nó ra khỏi danh sách những con chiên của Chúa trong Giáo xứ.

Ở xứ này cũng không ai không biết quán Sợi Đêm. Đó là cái quán cà phê của xóm không có đạo, nằm sâu hun hút, vừa đủ chạm vào ranh giới ở cuối xóm đạo. Chắc nhờ mấy sợi dây điện chớp nháy nhập nhòe mỗi tối mà quán có tên Sợi Đêm. Với dân xóm đạo, Sợi Đêm là biểu tượng của cám dỗ. Cha xứ tiền nhiệm đã từng lên bục giảng cấm tiệt giới trẻ bén mảng đến cái quán ấy. Cha còn dọa sẽ ra vạ tuyệt thông cho gia đình nào để cho con cái bước chân vào cái chốn bùn nhơ tội lỗi đó.

Cha Tâm là một Cha trẻ, mới về nhận xứ được gần hai tháng. Sau ngày đi nhận Cha ở Tòa Giám Mục về, ông Chánh Trương chép miệng tự hỏi: Cha mình còn trẻ quá, liệu có thể gánh nổi cái xứ đạo có truyền thống dài hơn rất nhiều so với tuổi đời của Cha ấy không đây?

***

Cha Tâm nhìn thấy nàng lần đầu tiên vào một buổi trưa đầy nắng. Từ cửa sổ lầu hai của nhà xứ nhìn ra, hầu như có thể nhìn thấy cả con đường chính kéo dài từ đầu xứ đến cuối xứ. Nàng đi về trên con đường ấy mỗi trưa, lần nào cũng dừng lại bên ngoài cánh cổng nhà thờ cúi đầu chào Chúa trước khi đi tiếp. Từ khi Cha Tâm về nhận xứ, cổng nhà thờ đã không còn khóa chặt, để người trong xứ ai muốn đều có thể tự tay đẩy cổng mà vào nhà thờ bất cứ khi nào cần. Nhưng với trường hợp của nàng, cổng khóa hay không hình như không quan trọng. Hình như chưa bao giờ nàng có ý định đẩy cổng bước vào. Chưa bao giờ Cha Tâm gặp nàng đi Lễ. Hình như bước chân của nàng chưa bao giờ vượt quá ngưỡng của cái cổng nhà thờ.

Cha Tâm không nhìn thấy rõ mặt nàng, nhưng bị ấn tượng bởi cái dáng cúi đầu vừa rụt rè vừa thành kính bên ngoài cổng nhà thờ. Ngạc nhiên hơn khi cử chỉ ấy được thực hiện với sự trung tín đều đặn mỗi ngày. Cái dáng lẻ loi một mình của nàng giữa trưa đầy nắng chừng như chạm vào một góc nào đó trong trái tim vị linh mục trẻ. Từ ngày về nhận xứ, có thể nói Cha đã đầu tư hết sức hết lòng cho việc phát triển các đoàn thể, đẩy mạnh các phong trào, chăm lo chu đáo cho việc phụng vụ và cầu nguyện. Cha ước mong xây dựng Giáo xứ thành một mái gia đình, để ai cũng có thể bước chân vào nhà Chúa như bước chân vào mái nhà của mình. Vậy mà vẫn còn có những người bị dạt ra ngoài lề sao? Vẫn có những người dừng lại bên ngoài cổng nhà thờ sao? Còn bao nhiêu con chiên bơ vơ lạc lõng như thế? Liệu Cha đã chu toàn bổn phận mục tử chưa khi chỉ chăm chút cho những chuyện gọi là kế hoạch vĩ mô, gọi là đường hướng phát triển, gọi là tổ chức long trọng và hoành tráng? Liệu chỉ mở cổng nhà thờ, và chờ, thì có đủ để những con chiên lạc trở về không? Đã bị gọi là “chiên lạc” rồi, không có ai vẽ lối, thì làm sao biết đường mà trở về? Trong cái mô hình mà Cha gọi là “gia đình Giáo xứ”, có chỗ cho những mảnh đời sai lầm cơ nhỡ được đón nhận, được tha thứ, và làm lại cuộc đời không?

Sau một thời gian dò hỏi, Cha Tâm biết được nàng tên là Linh. Tên đầy đủ trong sổ rửa tội là Maria Trần Thị Linh, con bà Maria Trần Thị Lành. Nàng mang họ mẹ, chỗ ghi họ và tên cha bỏ trống.

Những người được Cha hỏi thăm về Linh phản ứng rất khác nhau. Mấy bà đạo đức thì giẫy nẫy khuya tay: Cái ngữ ấy Cha hỏi làm gì chứ! Mấy cụ ông thì chậm rãi, giọng chắc nịch: Cha ơi, nhà nó bị vạ tuyệt thông mấy chục năm nay rồi! Giới trẻ thì cười khích khích: Con bé đó làm gà, sống bằng vốn tự có đó Cha ơi! Chưa biết gì về cuộc đời Linh, nhưng Cha Tâm đã mơ hồ nhận ra tại sao Linh không đặt chân vào nhà thờ. Làm gì có chỗ nào cho nàng trong lòng cộng đoàn giáo xứ này! Có rất nhiều truyền thống và nề nếp vần xoay như một cái vòng khép kín, sẵn sàng hất văng ra bên ngoài bất cứ kẻ nào không khép mình vào khuôn khổ! Trong đầu Cha Tâm hiện lên rất rõ lời dụ ngôn trong Tin Mừng: “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?” (Lc 15,4). Làm sao để đi? Làm sao để tìm? Đâu là giá trả để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?

***

Ông Bảy, trưởng hội Legio của Giáo xứ, xin gặp Cha Tâm để thưa về chuyện của Linh. Câu chuyện bắt đầu từ xa lắm, khi mẹ của Linh và ông Bảy còn là bạn nối khố. Ông ngoại của Linh đã từng là ông Trùm và là một trong những cộng tác viên đắc lực nhất của Cha Cố trong những ngày lập xứ. Mẹ của Linh là con gái một, được tiếng là đẹp người đẹp nết. Từ nhỏ, mẹ của Linh đã tham gia ca đoàn. Giọng ca ngọt như mật và gương mặt thiên thần của cô bé đã làm chết mê chết mệt không biết bao nhiêu trái tim của các chàng trai trong xứ. Nhưng ông bà ngoại của Linh thì muốn con gái một của mình sẽ dâng mình cho Chúa. Cả đời ông bà đã cống hiến cho việc phục vụ nhà thờ nhà thánh, ông bà ước mong con gái mình cũng thuộc về Chúa. Vậy là cả cuộc đời trọn vẹn của lễ dâng.

Mọi ước nguyện tốt lành vỡ vụn khi cái bụng của con gái ông bà Trùm bỗng nhiên phình ra ngày một to, không che giấu vào đâu được. Có gặng hỏi hay tra khảo thế nào thì mẹ của Linh cũng nhất định không mở miệng cho biết ai là tác giả của cái bào thai. Để làm gương răn đe những người trẻ trong xứ, Cha Cố cấm không cho cô vác bụng đến nhà thờ, cấm không cho xưng tội rước lễ. Người ta thôi gọi ông bà ngoại của Linh là ông bà Trùm. Thay vào đó là những cái bĩu môi, những lời mỉa mai, những câu chửi xéo đầy ẩn ý. Ông bà ngoại của Linh hoàn toàn sụp đổ. Họ dời nhà vào trong sâu, ở cuối xóm đạo, lây lất sống trong câm lặng và lần lượt chết trong đắng cay tủi hổ.

Năm Linh được mười ba tuổi thì mẹ nó chết. Bà chết đúng như cách bà đã sống: bên rìa của cuộc sống. Không một ai lui tới thăm nom, cũng không một ai kinh kệ cầu nguyện cho kẻ bị coi là đã mất linh hồn. Bà được chôn bên rìa nghĩa trang xóm đạo, trong khu đất dành cho những người đã chết mà vẫn còn vương mắc tội vạ chưa được tha giải, như những người tự tử, những kẻ công khai ngoại tình…

Rồi mọi chuyện chìm vào im lặng. Không ai biết Linh đã lớn lên như thế nào. Cũng không ai biết tại sao nó theo cái nghề đáng bị xỉ vả và nguyền rủa như thế. Khi người ta kịp mơ hồ nhận thấy, nó đã bung ra như một cái ung nhọt vô phương cứu vãn. Thoáng một chốc, cái cơ duyên của mọi sự hất hủi năm nào bỗng vặn mình lớn lên trong vóc dáng đầy đặn của một cô thiếu nữ. Linh mang gương mặt giống hệt của mẹ, chỉ khác ở thái độ lầm lì và bất chấp. Từ đầu xóm tới cuối xóm, nó cứ khinh khỉnh ngẩng mặt mà đi, như thể muốn tuyên bố với cả thế giới rằng đã không ai nuôi được nó ngày nào thì cũng chẳng ai có quyền chen vào cuộc sống riêng của nó. Cái đầu của nó chỉ cúi xuống, rụt rè và thành kính, mỗi khi đi ngang qua nhà thờ. Chỉ mỗi một chỗ đó thôi!

Ông Bảy kết thúc câu chuyện dài về cuộc đời của Linh khi ngoài hiên nhà thờ bóng chiều vẫn đầy nắng. Nhà thờ vẫn vang đều đặn tiếng kinh chiều của hội đoàn Dòng Ba và Giới Hiền Mẫu.

Cha Tâm nghe lòng mình nghẹn đắng. Tính ra thì giá trả cho một sai lầm trong thời tuổi trẻ của mẹ Linh là sự hủy hoại của cả ba thế hệ. Nếu người mắc sai lầm đáng bị gọi là tội nhân, thì tội nhân đã ôm tủi hổ xuống mồ, bố mẹ của tội nhân thì cho đến chết cũng đã không dám ngước mặt nhìn đời, con của tội nhân thì không có cơ hội để sống một cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác. Đáng không? Do đâu mà ra cái bể trầm luân như thế? Còn có cơ hội nào để tìm và cứu những gì hư mất không?

***

Cha Tâm bày tỏ không giấu giếm mối quan tâm đặc biệt của mình đối với trường hợp của Linh. Cha ra bài sai cho ông Bảy và mấy thành viên trong hội Legio đến thăm viếng và tìm cách nói chuyện với nàng. Sau một thời gian rất dài, một buổi trưa đầy nắng, Linh xuất hiện trước cổng nhà thờ. Sau khi cúi đầu chào Chúa, nàng đứng lại thật lâu, bên kia cánh cổng, chờ đợi. Nhác thấy bóng Cha Tâm vừa xuất hiện, nàng buông gọn một câu thách thức:

– Cha khỏi cần phải tốn công gởi người đến thăm dò con nữa. Con biết là Cha muốn nói chuyện với con. Nhưng con đã hứa là sẽ không bao giờ đặt chân một bước vào nhà thờ này đâu. Chiều nay Cha có dám gặp con ở quán cà phê Sợi Đêm không?

Sau câu thách thức, nàng quay lưng đi thẳng. Nghe chuyện, ông Bảy và mấy người trong Legio thấy tức rực. Cái con… nói chuyện với Cha kiểu gì mà… Nhưng Cha Tâm không xem đó là thách thức. Cha gọi là hẹn hò. Gương mặt Cha nhìn về phía ông Bảy, tươi rói như người sắp bắt được của:

– Chiều nay ông Bảy đi với tôi nhé!

***

Đường vào quán cà phê Sợi Đêm tưởng ngắn mà dài và sâu hun hút. Cây cối hai bên rậm rịt, giây điện giăng ngang dọc như tấm mạng nhện tủa ra tứ phía. Quán chiều vắng khách. Từ mấy cặp loa ẩn trong hốc cây, bài nhạc vàng cứ vang ra nhừa nhựa “Ta lần mò leo mãi, không qua được vách sầu…”.

Linh ngồi sẵn đợi Cha ở cái bàn nằm ngay lối vào:

– Cha để con chờ lâu quá, cứ tưởng là Cha không đến…

Đó là câu chào của Linh, mở đầu cho một cuộc nói chuyện diễn ra kỳ lạ lắm.

– Linh hẹn Cha đến đây, có chuyện gì muốn nói với Cha không?

– Dạ không. Con chẳng có chuyện gì để nói!

– Vậy sao lại hẹn Cha?

– Là con làm theo lời mẹ con thôi…

– Mẹ con?

– Dạ. Trước khi chết mẹ dặn con đừng có bỏ nhà thờ, giống mẹ. Mẹ nói Cha này không cho vào nhà thờ, biết đâu có Cha khác lại cho. Mẹ cứ chờ một “Cha khác” hoài, nhưng không chờ được. Vậy là mẹ chết. Mẹ biểu con tiếp tục chờ. Cha để con chờ lâu quá, cứ tưởng là Cha không đến…

– Cha đến xứ này đã hơn hai tháng rồi. Lúc nào Cha cũng ở trong nhà thờ mà. Sao con không đến tìm Cha?

– Con không đến! Đâu có chỗ cho con trong cái nhà thờ ấy mà đến…

– Có mà. Cha thấy có tên con trong sổ rửa tội, nghĩa là con vẫn là một thành viên trong giáo xứ này. Con đã được rửa tội rồi mà, phải không?

– Tại lúc đó người ta ẵm ngữa con vào nhà thờ để rửa tội. Mẹ nói ân huệ đó là để cứu rỗi linh hồn con. Đó là lần đầu tiên, tới giờ cũng là lần cuối cùng con vào nhà thờ

– Cha thấy lần nào đi ngang nhà thờ con cũng dừng lại cúi đầu chào Chúa, là mẹ dạy con, phải không?

– Dạ, mẹ biểu con hứa. Mẹ nói trong nhà thờ của giáo xứ không có chỗ dành cho mình, nhưng hy vọng mình có chỗ trong nhà của Chúa… – Im lặng một chút, Linh lại tiếp – Nhà thờ của mình to và đẹp như vậy sao lại không có chỗ? Hồi nhỏ con không hiểu đâu. Lớn lên, từ từ con mới hiểu đó Cha…

***


Người ta lại kháo nhau chuyện Cha Tâm thương con Linh Gà một cách đặc biệt. Tuần nào cũng hẹn hò với nó. Có ông Bảy trưởng hội Legio làm chứng. Nghe đâu Cha ấy còn muốn mở đường cho nó vào nhà thờ, còn tính chuyện cho nó xưng tội và rước lễ nữa chứ, thật là chẳng còn ra thể thống gì! Đúng là tuổi trẻ ngang tàng, cứ im ỉm mà làm, chẳng có quy cũ nề nếp gì hết! Loạn, loạn rồi…

Lâu lâu, người ta cũng hay kể cho nhau nghe về bài giảng kỳ lạ của Cha Tâm.

“Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha…”

Thưa quý ông bà và anh chị em

Bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe dài quá. Không biết có ai đủ kiên nhẫn để nghe cho tới đoạn kết không? Chúng ta thường gọi đây là dụ ngôn đứa con hoang đàng. Thật ra, đứa con hoang đàng chỉ là một nhân vật trong dụ ngôn thôi. Còn một nhân vật khác nữa, ở phần kết. Người cha trong dụ ngôn có tới hai đứa con, nhưng hình như chúng ta chỉ để ý tới một mà quên mất một. Phải để ý cả hai thì chúng ta mới thấy đây là câu chuyện về sự đổ vỡ trong tình anh em. Chừng như hai người không thể nào ở chung dưới một mái nhà. Người này ở lại thì người kia dứt áo ra đi. Người kia trở về thì người này kiên quyết không chịu vào nhà. Người Cha phải làm sao đây? Có thể làm gì được đây? Cảnh huynh đệ không nhìn mặt nhau sẽ còn phải kéo dài đến bao lâu nữa đây?

Người ra đi, bị gọi là kẻ tội lỗi, kết cục bước vào ở trong nhà của Cha. Còn người ngày ngày ở lại trong nhà Cha, tự xem mình là kẻ công chính, cuối cùng lại tự đặt mình ở ngoài cổng. Chúng ta gặp mình trong nhân vật nào? Người con thứ hay người con cả? Hay cả hai? Đâu là chỗ của chúng ta, trong nhà hay ngoài cổng?

Rốt cuộc, liệu người con cả có bỏ lại mọi thứ ở bên ngoài, để bước vào nhà, vui với Cha và với em của mình không?



Người ta không biết lục bình trôi từ đâu đến, và cũng chẳng ai biết rồi cánh hoa kia sẽ dạt về đâu giữa biển trời mênh mông!
Người ta không biết lục bình trôi từ đâu đến, và cũng chẳng ai biết rồi cánh hoa kia sẽ dạt về đâu giữa biển trời mênh mông!


Vừa nghe tiếng tôi chào, bà đã buông lời trách móc :
– Cậu đó hả? sao lâu nay hổng chịu ghé thăm tui?
+ Dạ… con mới thăm bà hôm Chủ nhật tuần trước mà!
– Dzậy hả! mới có một tuần thôi hả? Dzậy mà tui tưởng là lâu lắm chứ! Tui mù lòa có biết gì đâu, buồn lắm cậu ơi! Có cậu dzô đây tui mừng lắm, thỉnh thoảng nhớ ghé thăm tui nghen cậu!…

Muốn cho bà vui, tôi đùa:
+ Dạ, bây giờ thì thỉnh thoảng con zô thăm bà, chứ ít bữa nữa con cũng già, rồi con vô đây ở chung với bà luôn cho vui hen

Thoáng mỉm cười hiện lên trên khuôn mặt nhăn nheo của bà. Nhưng sau đó là tiếng thở dài não ruột:
– Thôi đi cậu ơi! Cậu còn trẻ mà đã biết lo mần dziệc phước đức, thì cầu Trời Phật độ trì cho cậu, để cậu khỏi phải lâm vào cảnh như tui…

Rồi bà tiếp với cái giọng đều đều nhưng nghèn nghẹn và đầy bi phẫn:
– Sao trên đời này lại có những kẻ bất nhân như thế chứ! Khi chúng nó còn nhỏ, mồ côi bố mẹ, tui đem dzề nuôi, lo lắng chăm sóc cho tụi nó đầy đủ, tui có tiếc gì cho tụi nó đâu. Dzậy mà khi tui già, tui mù mần hổng ra tiền nữa thì bị tụi nó hắt hủi… Cậu biết không, nó đem chén cơm dằn xuống bàn trước mặt tui “Nè, ăn đi bà già mù. Đồ cái thứ báo đời!”. Bao nhiêu năm được tui nuôi dưỡng, cuối cùng tụi nó trả ơn bằng cách kêu xe xích lô tới chở tui đem đổ xuống trước cổng chùa này, như người ta trút một cái bọc rác!…

Tôi biết kí ức đang sống lại trong bà, miền kí ức đau thương và cay đắng không thể nào phai dù đã hơn hai năm trôi qua. Bà đã đi sắp hết cuộc đời làm người. Dấu ấn thời gian lưu lại trên khuôn mặt bà những nét nhăn nheo khắc khổ. Còn dấu ấn cuộc đời, lại nghiệt ngã hơn, hằn sâu trong lòng bà những vết thương không thể nào chữa lành được. Từ hai hốc mắt sâu hoắm không còn chút tinh anh của bà, đôi dòng lệ cuộn tròn, trào ra rồi chảy thành dòng qua những nếp nhăn nheo của đôi gò má xương xẩu. Vài tia nắng hắt từ khung cửa sổ đậu lại trên khuôn mặt bà, làm ánh lên hai hàng nước mắt long lanh. Mỗi lần kể chuyện cho tôi nghe bà đều ngồi yên bất động, chỉ có đôi môi mấp máy và cặp mắt nheo nheo như đang hướng về một vùng trời vô định.

Ngoài xa kia, dòng sông Sài Gòn vẫn bình yên trôi lờ lững. Lác đác vài bụi lục bình dập dềnh trôi trên sóng nước. Cánh lục bình làm tôi liên tưởng đến một kiếp người. Người ta không biết lục bình trôi từ đâu đến, và cũng chẳng ai biết rồi cánh hoa kia sẽ dạt về đâu giữa biển trời mênh mông!

Có một thời gian tôi ở trong tình trạng lao đao khi muốn đi tìm cho tương lai của mình một lối đi. Chiều chiều, tôi hay ra đứng bên dòng sông Đồng Nai, ngắm những cánh hoa trôi nổi bồng bềnh. Đem so sánh tương lai đời mình với cánh hoa lục bình, tôi thấy có cái gì đó na ná: mong manh phiêu bạt, rồi sẽ chẳng biết sẽ về đâu? Nhưng rồi cũng đến giai đoạn tôi quyết định hướng đi cho tương lai đời mình. Cánh lục bình cho tôi một bài học quý giá: cuộc đời mong manh và vắn vỏi là thế, nên tôi cần tìm cho mình một Bến Đỗ an toàn và bền vững hơn. Tìm về với Đấng là Cội Nguồn và Cùng Đích của đời tôi. Đó là căn nguyên đức tin của tôi.

Giờ đây, ngồi đối diện với bà – cánh lục bình già cỗi – tôi bỗng nhận ra Đức Tin của mình quý giá biết bao. Vâng, tôi là cánh lục bình giữa cuộc đời mênh mông. Bé nhỏ và long đong, nhưng không chập chờn vô định. Tôi dần học biết được ý nghĩa cuộc đời mình. Tôi dần học biết mình từ đâu tới và sẽ về đâu. Lúc này đây, tôi thấy lòng mình bừng lên ước ao muốn được chia sẻ cho bà niềm tin của tôi về Đấng Tuyệt Đối là cội nguồn và cùng đích của mọi loài. Tôi muốn dùng Lời Ngài để tâm sự với bà rằng: “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười”. Tôi muốn nói cùng bà về sự sống đời sau, về lòng thương xót của Đấng là Tình Yêu… nhưng buồn làm sao, những điều ấy chỉ có thể là ý tưởng! Bà đang ở trong chùa, là tín đồ của Phật giáo! Cái ranh giới Phật giáo – Công giáo tuy mong manh nhưng vẫn là cái ranh giới! Hơn nữa, nhiệm vụ của tôi lúc này, nơi này là làm chứng tá bằng chính hành động chứ không phải là bằng lời nói hay thuyết giảng… Chợt nhớ tới lời của Mẹ Têrêxa Calculta: “Truyền giáo là giúp cho người ta sống tốt với đạo của mình”, tôi hỏi bà:
+ Bà ơi, ở đây bà có hay cầu kinh khấn Phật không?
– Có chứ, tôi ăn chay niệm Phật suốt cả đời mà. Ở trong này mỗi ngày tôi còn được nghe thuyết pháp và giảng giải kinh Phật nữa.
+ Vậy sao bà không dâng hết mọi chuyện vui buồn lên cho Đức Phật?…
– Ừ thì tui buồn tui tâm sự với cậu vậy chứ, không dâng hết cho Phật thì dâng cho ai bây giờ? Có như vậy thì cái tâm mình mới tĩnh được để mà cầu kinh chứ! À, mà cậu có hay cầu kinh không?
+ Dạ, con … không biết, bà chỉ cho con đi!
– Cậu cầu như thế này nè : “Nam mô a di đà Phật, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Thích Ca Mâu Ni đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn… A di đà Phật”
+ Bà ơi, vậy thì thỉnh thoảng bà nhớ cầu Phật cho con với nghen!
– Ừ, .. Nam mô a di đà Phật, cầu cho cậu được bình an may mắn tai qua nạn khỏi. Cầu cho cậu có được người vợ đẹp, sinh cho cậu bảy tám thằng con trai để sau này có chỗ cậy nhờ… A di đà Phật!

Bỗng dưng lúc này tôi cảm thấy mình bé nhỏ vô cùng. Tôi, bà, và mọi người… tất cả đều là những sinh linh bé nhỏ tội nghiệp. Ai cũng cần được Ơn Trên độ trì cứu vớt. Bà cầu Phật cho tôi, còn tôi, tôi sẽ cầu nguyện cùng Chúa cho bà. Đạo là Đường. Chúng tôi đi theo hai con đường khác nhau, nhưng dường như đang nhắm về cùng một đích.

***
Từ hồi còn nhỏ tôi vốn đã không thích chùa lắm. Ở quê tôi, người ta luôn phân định rạch ròi ranh giới giữa Công giáo và Phật giáo, luôn có những cái ranh giới bất khả xâm phạm giữa xóm đạo và xóm chùa, giữa nghĩa trang của Phật giáo và nghĩa trang Công giáo. Trong tâm tưởng của tôi thời thơ ấu, các ngôi chùa với những hàng cột đen bóng, những hình bát quái với mùi nhang khói nghi ngút… dường như luôn mang cái vẻ ảm đạm và u ám. Bây giờ thì tôi mới biết cái u ám đó nằm ngay trong chính thành kiến của tôi.

Tôi đến thăm ngôi chùa này chỉ được vài lần. Thời gian tuy ngắn ngủi nhưng cũng đủ để chúng tôi làm quen và được nhiều người quý mến. Cửa chùa thì luôn rộng mở đối với mọi người! Từ sự rộng mở ấy, tôi có cái nhìn đẹp hơn về một tôn giáo bạn.

Ngôi chùa tọa lạc ngay bên cạnh bờ sông, êm đềm và tĩnh lặng. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là pho tương phật bà Quan Âm uy nghi đứng giữa sân. Pho tượng quay mặt nhìn về phía dòng sông đang hiền hòa gợn sóng. Chạy song song với bờ sông là con đường nhỏ phủ đầy bóng trúc được lát gạch tàu phẳng phiu dẫn vào ngôi chánh điện. Vòng sang phía sau ngôi điện thờ là hai dãy nhà nhỏ đơn sơ. Đó là nhà dưỡng lão của chùa, là mái ấm dành cho những người già cả cô đơn không nơi nương tựa.

Nơi đây, tôi đã học được nhiều điều và đọc thấy nhiều giá trị Tin Mừng. Đó là tấm lòng quảng đại từ bi của nhà chùa và các Phật tử hảo tâm. Họ sẵn lòng mở rộng vòng tay để tiếp nhận những người già nua cô độc. Đó là gương phục vụ vô vị lợi của các cô, các dì ở chùa đối với những người già. Họ phục vụ tận tâm từ những người bại liệt, mù loà đến những người già khó tính hay giận hay hờn…

Con thấy không, hồi đó là cô thiếu nữ, bây giờ là bà già xương bọc da. Cứ tưởng như mới ngày hôm qua, vậy mà… đúng là kiếp phù sinh
Con thấy không, hồi đó là cô thiếu nữ, bây giờ là bà già xương bọc da. Cứ tưởng như mới ngày hôm qua, vậy mà… đúng là kiếp phù sinh
Đặc biệt hơn, nơi những người già bị bỏ rơi, tôi tìm thấy hình ảnh của Đức Kitô nghèo hèn và cô độc, nhưng vẫn đẹp đẽ lạ thường. Họ dẫn tôi đi vào trong một thế giới khác hẳn thế giới mà tôi đang sống. Thế giới của người già chẳng chút ồn ào phức tạp, nhưng giản đơn và chân tình. Mỗi khi hết buổi làm việc chúng tôi chào tạm biệt các bà để ra về, tình cảm quý mến của các bà được thể hiện bằng cách giấm giúi gởi cho chúng tôi những gói quà nho nhỏ, những bọc kẹo, vài trái chuối… Mỗi khi từ chối, dù có khéo léo cách nào đi nữa, tôi vẫn luôn nhìn thấy nét buồn và nỗi hụt hẫng như dâng trào trong mắt các bà. Một lần, khi tôi dắt xe ra đến cổng chùa thì có một bà chạy theo, trên tay bà là vài gói mì tôm và một nải chuối. Nhìn dáng quày quả của bà, tôi xúc động lặng người, và nhận ra một điều quý giá. Con người được sinh ra không chỉ cần được yêu thương, nhưng cần có người để cho họ yêu thương. Điều ấy càng đúng với một người làm bà, làm mẹ. Thật nhẫn tâm nếu tôi lại từ chối tấm lòng của các bà, từ chối để cho mình được yêu thương!

Cũng nơi những người già này, tôi học được cái nhìn về cuộc đời đầy kinh nghiệm và đầy triết lý nhân sinh. Một lần nọ, khi đang lom khom cắt móng chân cho một bà cụ thì bà hỏi tôi “Con đạo Phật hay đạo Công giáo?”. Tôi ngước lên nhìn bà và chỉ mỉm cười. Như hiểu ý tôi, bà tiếp : “Ừ, thì bà hỏi thế thôi! đạo nào cũng tốt hết con à! Đạo nào cũng dạy mình lo làm việc lành để tích đức cho kiếp sau. Ham hố gì đâu trong cái cuộc đời phù sinh này chứ!”…Rồi bà cho tôi xem mấy tấm hình của bà chụp hồi còn trẻ “Con thấy không, hồi đó là cô thiếu nữ, bây giờ là bà già xương bọc da. Cứ tưởng như mới ngày hôm qua, vậy mà… đúng là kiếp phù sinh”. Rồi bà lên giọng ngâm nga:
Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng vạn cảnh giai không.
Ai ơi lấy Phật làm lòng,
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Vâng, nơi đây tôi nhìn thấy cái mong manh, phù sinh của cuộc đời. Tâm sự với nhiều người, tôi thấy các bà ai cũng đã có một quá khứ với nhiều ước vọng cao xa, từng vật lộn với cuộc sống, từng muốn thu gom tích góp cho mình… nhưng rồi cũng đến thời gối mỏi lưng còng, đành buông xuôi tất cả, trả lại cho cuộc đời tất cả.

Họ lấy Phật làm lòng, tu thân tích đức để mong thoát khỏi luân hồi số kiếp. Còn tôi, tôi có Chúa là Nguồn Ơn Cứu Thoát. Thái độ cung kính và thành tâm của họ dành cho Đức Phật khiến tôi phải chạnh lòng khi đặt lại tương quan giữa mình và Chúa. Chúa của tôi đáng yêu và gần gũi biết bao! Chúa biết rõ những yếu đuối của kiếp người. Chúa biết tôi không thể tự mình vươn lên để thoát khỏi vòng tục luỵ. Chúa không để tôi phải một mình đối chọi với cuộc đời, cũng không tính sổ với tôi sòng phẳng theo kiểu trả công cho tôi dựa vào những “công đức” tôi làm được. Mọi sự có là gì đâu trước mặt Chúa! Chúa cúi xuống nâng tôi lên khi tôi cùng lùng bùng trong lũng lầy của cuộc sống. Tất cả là hồng ân. Tất cả là ơn nhưng không của Chúa… Vậy mà đã bao lần tôi thờ ơ lãnh đạm. Tôi thả hồn theo những mơ mộng phù du của cuộc đời. Thậm chí, tôi còn chỉ muốn dựa vào sức mình để bơi lái chèo chống nữa.

Cám ơn nhà chùa đã rộng tay đón tiếp chúng tôi. Cám ơn các bà đã tin tưởng và yêu mến chúng tôi. Cám ơn Chúa đã cho tôi một môi trường tông đồ tuyệt vời để nhìn ra Chúa nơi mọi người, mọi sự.

Ba Sông 12.2003
Được tạo bởi Blogger.