HƯƠNG SEN GIỮA MÙA VỌNG

(Dâng kính Mẹ Vô Nhiễm)


Quê hương con cứ tới mùa đông lạnh,
Lũ lụt tràn đồng, bão tố liên miên…!
Đường nứt vỡ bờ cây thẳng hóa xiên,
Mẹ phờ phạc bao đêm dài nước bạc…


Con sông xanh giờ bèo trôi xơ xác,
Tiếc làm sao bên ấy chiếc hồ sen.
Cánh trắng lá xanh dưới nắng bình yên,
Giờ còn lại chỉ một màu trắng đục…!



Cho dẫu cứ đắng cay màu thế tục,
Mùa Vọng đã về nhắc chuyện thiêng liêng.
Chúa lại đến đây thăm viếng mảnh đời riêng,
Cất hết khăn tang, và lau khô dòng lệ…

Mùa Vọng tím như một lời đoan thệ,
Giao ước nghìn năm nay đã trỗ hoa.
Mẹ vào đời mang hương sắc bay xa,
Như hừng đông lên giữa đông dài sắc tím !

Mẹ chúng con, Mẹ Chúa Trời Vô Nhiễm,
Cánh sen giữa lầy rực ngát hương thiêng.
Mảnh đất mỡ màu Thiên Chúa chọn riêng,
Tòa ngọc trắng đựng “nhụy vàng Con Chúa” !

Cho dẫu biết vẫn mùa đông héo úa,
Vẫn đợi, vẫn chờ, mong mãi “bước chân xa” !
Mẹ mang Chúa về trời đất sẽ hoan ca,
Mùa Vọng sẽ mãi là mùa xuân miên viễn !

Sơn Ca Linh
Lễ Mẹ Vô Nhiễm 2017

MẸ VÔ NHIỄM


Hỡi người trinh nữ thơm duyên
Măng thon tay chạm vô biên của Trời
Dạ nên cung điện Ngôi Lời
Nhân sinh chỉ một mình người đầy ơn

Giữ tình Trời đất keo sơn
Địa đàng nhiệm ý kết hôn cùng Bà
Nơi Bà Đấng Thánh sinh ra
Mang ơn Cứu độ giao hòa nhân gian

Người là Hoàng Tử Bình An
Bà đầy phúc đức nên hàng Mẫu Nghi
Tinh tuyền Ngọc thể lưu ly
Hồn không vướng nhiễm điều chi tội tình

Lạy Bà Thánh Mẫu Đồng trinh
Cho tôi Cứu Chúa tế sinh tuyệt vời
Mang ơn vũ lộ xuống đời
Đem tôi từ đất lên trời thơm duyên

Lạy Bà Vô Nhiễm Tội Truyền
Giúp tôi nên thánh giữa miền dương gian

07-12-2013
Mic. Cao Danh Viện

NGÔN NGỮ TIN MỪNG TRONG DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM


Mỗi lần nghĩ về quê hương, nghĩ về đất nước, nghĩ về những giá trị truyền thống của dân tộc, tôi chợt nghe vang vọng đâu đây những lời ca trong khúc nhạc “Đất Nước” : Bài hát được nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn dệt nhạc phỏng bài thơ của thi sĩ Tạ Hữu Yên : “Đất Nước tôi thon thả giọt đàn bâu…Đất Nước tôi từ thuở còn năm nôi, sáng chắn bảo giông chiều ngăn nắng lửa. Lao xao trưa hè một giọng cao dao, lao xao trưa hè một giọng ca dao…”.




“Thon thả giọt đàn bầu, lao xao trưa hè một giọng ca dao”, theo tôi hình ảnh giản đơn đó, âm thanh dung dị đó đã gói gém tất cả cái hồn, cái chất, cái “dáng đứng Việt Nam” đầy ắp thân thương và gần gũi, sâu lắng và mượt mà. Và có lẽ đó cũng chính là một trong những cánh cửa mở ra cho những ngôn ngữ nào, văn hóa nào muốn “đi vào tâm hồn Việt Nam, muốn hội nhập văn hóa Việt Nam”.

May mắn làm sao, trân trọng làm sao! Ngay từ buổi khai sinh Giáo Hội tại Việt nam, các Vị Thừa Sai tiên khởi, các Vị Tiền Bối khai đạo của Hội thánh Việt Nam, khi giới thiệu Chúa Kitô cho Dân Việt, khi đem hạt giống Tin Mừng rắc gieo trên cánh đồng Việt Nam, đã đi trên cái nẽo “thon thả giọt đàn bầu, lao xao câu ca dao” đó ; nghĩa là đã khôn khéo giới thiệu một “Tin Mừng mang dáng đứng Việt Nam”, một giáo lý gần gũi với tâm thức, ngôn từ và quan niệm tín ngưỡng của đồng bào Việt Nam, dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà những câu ca dao ru con thường ngày đã cưu mang một nội dung tín ngưỡng tôn giáo, một tôn giáo thờ trời, một tín ngưỡng gần gũi với mạc khải Thánh Kinh, mạc khải về sự quan phòng của Thiên Chúa:

Tháng Năm gặt hái đã xong

Nhờ Trời một mẫu năm nong thóc đầy

Lạy trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Lấy ruộng tôi cày

Lấy đầy bát cơm,

Lấy rơm đun bếp…



Trăm năm dù có thế nào

Dưới thì có đất trên cao có Trời

I. LỜI THIÊN CHÚA MANG “DÁNG ĐỨNG NHÂN LOẠI”

Chọn lựa cách “hội nhập văn hóa” để chuyển tải Tin Mừng, để loan truyền chân lý cứu độ sao cho hiệu quả và phong phú, cách làm của Cha Ông ta đó nào đâu có phải là chuyện mới mẻ gi đâu ! Từ thuở xa xưa khi bộ tộc của Ít-ra-en còn trong thời “ăn lông ở lổ”, khi tổ phụ của dân tộc họ, cụ Áp-ra-ham còn lang thang trên các thảo nguyên sống đời du mục, Thiên Chúa đã áp dụng nguyên tắc “hội nhập văn hóa” mang tính “nhập thể” rồi. Có nghĩa là Lời Mạc Khải của Thiên Chúa khi đi vào thế giới đã chọn đi qua “một chiếc cửa nhân loại” là “lịch sử của dân tộc Ít-ra-en” với tất cả những yếu tố nhân văn, địa lý, xã hội, chính trị, kinh tế, pháp luật, lịch sử …của dân tộc nầy. Toàn bộ tuyệt tác Thánh Kinh Cựu và Tân ước phải chăng là “Lời mạc khải nhập thể giữa lòng nhân loại qua lịch sử của dân tộc It-s-ra-en”, là cuộc “hội nhập văn hóa” của chính Thiên Chúa để chuyên tải cho nhân loại những chân lý của trời cao, một cuộc hội nhập thiết thân, sâu sắc như mưa, như tuyết thấm sâu trong mãnh đất trần gian :

“Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời

không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất,

chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc,

cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn,

thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta,

sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả,

chưa thực hiện ý muốn của Ta,

chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.”

(Is 55, 10-11)

Cũng chính với nguyên tắc “hội nhập văn hóa” đó, mà chúng ta tìm thấy ngôn ngữ của Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước mang nhiều “dáng đứng” khác nhau, theo trào lưu lịch sử văn hóa xã hội của dân tộc Ít-ra-en : Từ thể văn mang tính huyền thoại, cổ tích (Sáng Thế, Tin mừng thời thơ ấu), đến anh hùng ca lịch sử (Xuất Hành, Samuen, Ma-ca-bê-ô…), pháp đình lề luật, phụng tự (Thứ luật, Lêvi…), khải huyền tiên tri (Đa-ni-en, Ê-giê-ki-en, Khải huyền của Thánh Gioan…), châm ngôn huấn đạo (Khôn ngoan, Châm Ngôn, Giảng Viên..), thi ca trữ tình (Diễm tình ca), truyện ngắn tình yêu (Hô-sê…), ca kinh nguyện cầu (Thánh vịnh…).

Và khi “Ngôi Lời thành xác phàm và cắm lều ở giữa chúng ta” (Ga 1,14), thì Ngài cũng không làm gì khác hơn cái cách “sư phạm truyền thống” của Thiên Chúa. Ngài đã nói Lời Thiên Chúa bằng ngôn ngữ của dân tộc Ngài, Ngài đã vận dụng những chất liệu của cuộc sống đương thời để diễn tả các chân lý cao sâu của huyền nhiệm Nước Trời : Những hình ảnh chúng ta gặp thấy trong Tin Mừng như : “Người Mục Tử vác chiên trên vai”, “Cây nho sai trái”, “Tấm lưới thả xuống biển”, “Những cô trinh nữ cầm đèn đi đón tân lang”, “cây hoa huệ ngoài đồng”, “con chim se sẻ trên cành cây”… nào có xa lạ gì với đời thường của dân Palestine thuở ấy. Quả thật “ngôn ngữ của Thiên Chúa mang dáng đứng nhân loại là thế đó !

II. NGÔN NGỮ TIN MỪNG TRONG “DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM”

(Hay, cách “HỘI NHẬP VĂN HÓA” của Giáo Hội Việt nam)

Thật không “phải đạo” chút nào nếu Hội Thánh lại đi ngược hay không chọn đi con đường mà Thiên Chúa đã chọn, mà Đức Kitô đã đi : con đường nhập thể, con đường hội nhập văn hóa”. May mắn làm sao, trên cuộc hành trình sống và chuyển tải đức tin suốt hơn 2000 năm nay, Hội Thánh đã vận dụng mọi yếu tố tốt đẹp của văn hóa, văn minh con người trong việc diễn tả, sống và loan truyền chân lý đức tin. Thánh Phêrô, Thủ lãnh các Tông Đồ, Giáo Hoàng đầu tiên, ngày từ những ngày đầu Hội Thánh đã được Thánh Thần linh ứng cần phải chọn lựa con đường “hội nhập đó qua thị kiến “tấm khăn lớn với đủ mọi thú vật, rắn rết…” (Cv 10, 9-16). Trong khi đó Thánh Phaolô, một vị Thánh ký, một thần học gia, một nhà truyền giáo vĩ đại đã tóm gọn nguyên tắc nầy trong mấy từ cô đọng và súc tích : “Không còn chuyện phân Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà ; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3, 28). Và thế là Hội Thánh lớn mãi lên, vươn mình trên mọi miền thế giới, mang Tin Mừng Chúa Kitô rắc gieo trên khắp các cánh đồng văn hóa thế giới ; và cứ như thế, Tin Mừng của Chúa đã mang “dáng đứng của nhiều dân tộc, nhiều ngôn ngữ, nhiều loại hình văn hóa, lễ nghi, phụng tự… của mọi dân trên khắp địa cầu. Công Đồng Vatican II đã long trọng xác nhận điều đó như một nguyên lý nền tảng để hình thành và xây dựng Giáo Hội : “Giáo Hội, tức Dân Thiên Chúa, họp thành Nước ấy, không loại bỏ di sản trần thế của bất cứ dân tộc nào ; trái lại, Giáo Hội cổ võ và thu dụng tất cả những gì tốt lành nơi tài sản, nguồn lực và phong hóa của các dân tộc, và khi thu dụng, Giáo Hội tinh luyện, kiện toàn và thăng hóa chúng” (Hiến Chế Giáo Hội chương II, số 12). Trong khi đó, với Tông huấn “Ecclesia in Asia” (Giáo Hội tại Á Châu”, Đức Gioan Phaolô II đã có những giáo huấn rạch ròi : “Từ viễn ảnh nầy, thấy rõ ràng việc Phúc Âm hóa và hội nhập văn hóa liên hệ với nhau cách tự nhiên và mật thiết. Tin mừng và việc rao giảng Tin Mừng chắc chắn không đồng hóa với văn hóa, không tùy thuộc vào nó. Nhưng Nước Thiên Chúa đến với muôn dân là những người liên kết sau xa với một nền văn hóa, và do đó việc xây dựng Vương Quôc không tránh khỏi mượn các yếu tố từ các nền văn hóa nhân loại. Vì vậy, Đức Phaolô VI nói việc tách biệt Tin Mừng ra khỏi văn hóa là thảm trạng của thời đại chúng ta, gây ảnh hưởng sâu xa trên cả việc rao giảng Tin Mừng và nền văn hóa” (GHTAC số 21).



May mắn làm sao ! Những nguyên tắc nầy, những định hướng nầy đã được Cha Ông ta áp dụng từ lâu. 
Thật vậy, không đợi phải có “Công đồng chung Vatican II với định hướng của Hiến Chế “Vui Mừng và Hy vọng”, không đợi đến những chỉ thị cụ thể có tính mục vụ thực tiển của Tông huấn “Giáo Hội tại Á Châu”, ngay từ đầu, khi Tin Mừng được gieo trồng trên Đất Việt, Cha Ông ta đã biết thế nào là “Hội nhập văn hoá”, thế nào là “diễn tả Tin Mừng bằng ngôn ngữ và văn hoá bản địa”, thế nào là “trình bày ngôn ngữ Tin Mừng trong dáng đứng Việt Nam”. Chúng ta thử đọc lại chứng từ của Cha Đắc Lộ, một Nhà truyền giáo vĩ đại, một nhà văn hóa lớn khi nói về công nương Catarina, môt tín hữu của giai đoạn Tin Mừng mới đi vào Đất Nước ta : “Còn con gái Bà, công nương Catarina (cùng mang thánh dánh như mẹ) rất ham học biết và suy gẫm các mầu nhiệm của đạo, và vì công nương rất giỏi về thi ca bản xứ, nên đã soạn bằng thơ rất hay tất cả lịch sử giáo lý, từ tạo thiên lập địa cho đến Đức Ki-tô giáng thế, cuộc đời, sự thương khó, Phục sinh và Lên trời của Người. Lại còn thêm ở cuối tập thơ một đoạn tường thuật việc chúng tôi tới Đàng Ngời và công cuộc khởi sự rao giảng Tin Mừng. Tác phẩm nầy rất có ích vì không những giáo dân tân tòng từng ngâm nga trong nhà, nơi thành thị cũng như chốn thôn quê, mà cả nhiều lương dân, khi ca hát và thích thú với lời ca dịu dàng, thì cũng học biết được những mầu nhiệm và chân lý đức tin” (A. De Rhodes- Histoirre du Royaume de Tunquin. Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài). Nhà học giả Phạm Đình Khiêm, trong bài tham luận tại cuộc TỌA ĐÀM “MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA CÔNG GIÁO VIỆT NAM TỪ KHỞI THỦY ĐÉN ĐẦU THẾ KỶ XX”, đã nhận xét thêm về sự kiện nầy bằng những dòng trân trọng : “Thế là khi đức tin vừa gieo vào lòng đất chốn kinh kỳ (1627), thì từ một lá ngọc cành vàng đã nảy sinh thiên trường ca vang dội khắp xứ, nhờ phương tiện phổ biến là những bản in khắc gỗ mà đất Thăng Long rất sở trường. Đất nghìn năm văn vật có khác!”. (Nhìn qua những chặng đường thi ca Công Giáo Việt Nam. Phạm Đình Khiêm).

Trước hết, chúng ta nên dành riêng sự trân trọng và biết ơn đến các Thừa sai tiên phong đem Tin Mừng Đạo Chúa đến quê hương nầy, và đã vận dụng ngôn ngữ Việt Nam để chuyển tải Tin Mừng cho dân Việt chúng ta. Dấu ấn đặc biệt nhất có lẽ là tác phẩm giáo lý bằng chữ quốc ngữ đầu tiên : “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY” do Cha A. De Rhodes chủ biên và xuất bản năm 1651)

Kế tiếp những công trình “hội nhập văn hóa” mang tính đột phá và tiên phong đó, Hội Thánh non trẻ Việt Nam tiếp tục lên đường chuyển tải Tin Mừng và chân lý cứu độ qua những công trình văn hóa mà cho đến mãi hôm nay chúng ta chỉ biết cúi đầu bái phục :

- Giáo sĩ Majorica (Dòng Tên) : với trên 50 tác phẩm vừa dịch, biên soạn, sáng tác bằng văn xuôi hay văn vần chữ Nôm chuyển tải giáo lý, hạnh các thánh…

- Thầy Phanxicô, cựu hòa thượng : Với tác phẩm Hán-Nôm là bản Kinh Nguyện Giỗ CẢM TẠ NIỆM TỪ, quen gọi là PHỤC DĨ CHÍ TÔN

- Thầy giảng Gioan Thanh Minh : Với 15 phẩm bằng chữ Nôm ca ngợi các danh nhân, các Thánh

- Linh mục Lữ –Y Đoan (1613-1678): Với tác phẩm SẤM TRUYỀN CA bằng thể thơ lục bát

- Ông Raphael Đắc Lộ (1611-1687) : Với các tác phẩm thi ca : VÃN THÁNH GIUSE và VÃN ÔNG TOBIA

- Tác phẩm lục bát trường thi INÊ TỬ ĐẠO VÃN với 563 câu thơ lục bát kể chuyện tử đạo của Bà Inê năm 1700

- Linh mục Philipphê Bỉnh viết nhiều tác phẩm với nhiều thể loại : trước tác, biên soạn, dịch thuật, hồi ký, thơ… đặc biệt với tác phẩm SÁCH SỔ SANG CHÉP CÁC VIỆC

- Linh mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874) : Nhiều tác phẩm Hán-Nôm : VIỆT NAM GIÁO SỬ DIỄN CA, LÂM NẠN PHỤC QUỐC HÀNH, MINH DÂN VỆ ĐẠO KHÚC, VĂN TẾ GIÁO DÂN TỬ NẠN, VĂN TẾ CÁC ĐẲNG LINH HỒN, GIÁO NẠN TRONG QUỐC BIẾN…

- Thánh Phan văn Minh : Với thi phẩm “PHI NĂNG THI TẬP”

-Linh mục Trần Lục (1825-1899) : Với các tác phẩm thi ca lục bát : HIẾU TỰ CA (1088 câu), NỮ TẮC THƯỜNG LỄ (1016 câu), NỊCH ÁI VONG ÂN (440 câu).

- Ngoài những tác giả với tác phẩm, tư liệu mang tính chuyên môn về thần học, giáo lý, tu đức…, còn có nhiều loại hình “hội nhập văn hóa khác” trong các lãnh vực khác như : chính trị (Các bản điều trần của LM. Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) ; kiến trúc : (các nhà thờ Hảo Nho, Bình Sa (Ninh Bình), An Vân, Đốc Sơ, An Truyền (Huế), Trung Lao, Thôn Đông (Nam Định), Ba Làng (Thanh Hóa), đặc biệt là quần thể kiến trúc Nhà Thờ Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình) ; sử học (Đại Nam quốc sử diễn ca của Trương vĩnh Ký (1837-1898), tiểu thuyêt (Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887) ; kịch (Kịch thơ Mùa Xuân Thánh, Quần Tiên Hội của thi sĩ Đơn Phương 1991) ; múa (Các loại hình Dâng Hoa tháng Đức Mẹ) ; Biên khảo, nghiên cứu (Phạm Đình Khiêm, Võ Long Tê (Mai Hoa Công Chúa, Minh Đức Vương Thái Phi, Người chứng Thứ Nhất : biên khảo lịch sử của học giả Phạm Đình Khiêm ; riêng Võ Long Tê có trên 50 công trình nghiên cứu và sáng tác. Trong số đó phải kể các công trình nghiên cứu thơ ca Hàn Mặc Tử…) ; báo chí (Thánh Thể báo, 1919 địa phận Phát Diệm, Thánh Giáo Tuần Báo Bắc Kỳ (1920-1923), Trung Hòa Nhật Báo (Hà Nội, 1924-1943), nhật báo Công Giáo Đồng Thinh, 1927-1937 và tờ tuần báo Công Giáo Tiến Hành , 1936-1938, tạp chí Sacerdos indosinensis (1927, tạp chí Dức Bà Hằng Cứu Giúp (1929 của ĐP Hà Nội, tuần báo Văn Côi (Nam Định), Vì Chúa (Huế), Lời Thăm (Qui Nhơn)…; thi ca (Thơ Nôm Phước Môn tuyển tập thơ của Nguyễn Hữu Bài do Nguyễn Thức sưu tập (1959), Sảng Đình thi tập của linh mục J.M. Nguyễn Văn Thích (1943). Trong lãnh vực thi ca, chúng ta làm sao không nhắc đến những tên tuổi lừng danh trên thi đàn Việt Nam như :

- Hàn Mặc Tử (1912-1940) với những bài thơ bất hủ như Thánh Nữ Đồng Trinh, Ra Đời,

- Bàng Bá Lân (1912-1988), một Kitô hữu tân tòng, với các bài thơ “Đêm Giáng Sinh”, “Cầu nguyện với Đức Mẹ”, “Cảm hóa.

- Hồ Dzếnh (1916-1991), một Kitô hữu tân tòng, với tuyển tập thơ “Tác Phẩm Đầu Xuân (1944) với nhiều bài thơ Công Giáo.

- Phạm Đình Tân (1913-1933) : với tập thơ “Lời Thiêng”

- Linh mục thi sĩ Xuân Ly Băng (1936) : Với nhiều tập thơ đạo như Thơ Kinh, Hương Kinh, Hiến Chương Nước Trời, Bài Ca Thương Khó…

- Lê Đình Bảng (1942) : với các thi phẩm : Hành Hương, Lời tự tình của bến trần gian, Quỳ trước đến vàng…

- Linh mục Trăng Thập Tự : Trường ca Anrê Phú Yên, Tiên Tri, Quỳ Hoa...

Chúng ta còn phải ghi nhận nhiều đóng góp khác trong việc diễn tả Lời Chúa, Thánh Kinh bằng ngôn ngữ Việt Nam, cho dù không phải là những tác phẩm được phổ biến sâu rộng, nhưng đã góp phần không nhỏ trong tiến trình Hội Nhập Văn Hóa của Giáo Hội Việt Nam. Đó là các nỗ lực của các tác giả như Tống Viết Toại (Phúc Am diễn ca, 1956), Mai Lâm (Thánh Vịnh Toàn tập, 1958), Long Giang Tử (Phúc Am diễn ca, 1975), Linh mục An Sơn Vị (Ngủ Kinh, Thánh Vịnh thánh ca, Tân ước), Linh mục Giuse Đinh Cao Thuấn (Trường ca cứu độ , Ca vang Lời Chúa, đường về Đất hứa,), linh mục Cao Vĩnh Phan (Trường ca Dân Chúa : giáo lý bằng thơ lục bát), linh mục Lê quang Trình (Kinh thánh Khởi nguyên, Thánh Vịnh bằng thơ lục bát)…và hôm nay, chúng ta đang tưởng niệm, đang nhắc nhớ đến một con người, một linh mục và một thi sĩ đã góp phần to lớn trong tiến trình Hội Nhập Văn Hóa của Hội Thánh Việt Nam : đó là Cha F.X. Nguyễn Xuân Văn với đại thi phẩm trường thiên lục bát 9764 câu thơ, thi phẩm về cuộc đời Chúa Cứu Thế qua bốn Tin Mừng : “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”.

Chính Cha Nguyễn Xuân Văn đã bộc lộ ý định “Hội nhập” nầy khi Ngài nhắn gởi chúng ta trong lời Phi lộ của tác phẩm :

Tôi muốn đem Lời Chúa

Lời thơ Tình Thương

Ghép thành vần

Đặt lên miệng các bà mẹ

Để từ đó

“Chảy vào tai các em bé,

Đang nằm trong nôi.

Hay trên cánh tay dịu hiền của các bà

Như dòng sửa ngọt

Chứa đầy chất dinh dưỡng siêu phàm

Để nuôi các em lớn lên

Trong tình thương của Chúa…

“Tôi ước ao Lời Chúa,

đến với các bạn

với những kẻ khó nhọc và gánh nặng

Những người mất niềm tin

Mất hy vọng trên cõi đời nầy.

Hỡi các bạn ! Hãy lắng nghe

“Đây là Sứ Điệp Tình Thương,

Ngân vang muôn thuở, vấn vương muôn lòng”

(Sứ điệp Tình Thương, Lời Phi lộ)

Với “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”, tác giả Nguyễn Xuân Văn có thực sự đã đạt được mục đích ấy chưa ? Để trả lời câu hỏi ấy, và nhất là để một lần nữa khẳng định rằng : khi được gieo trồng trên mãnh đất Việt Nam, quả thật, “ngôn ngữ của Tin Mừng đã mang dáng đứng Việt Nam”, tôi xin được giới thiệu những bài khảo luận, những nhận định và phê bình, những cảm nhận và tưởng nhớ của một số học giả, nhà nghiên cứu, văn, thi sĩ, các Đấng Chủ Chăn, những bạn hữu thân thiết và những học trò… về cố linh mục thi sĩ F.X.Nguyễn Xuân Văn và tác phẩm “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG” của Ngài. Đây cũng chính là món quà nhỏ xin kính dâng về Cha Phanxicô Xaviê như nén hương lòng tưởng niệm nhân ngày Đại Giỗ giáp hai năm qua đời của Ngài : 10.01.2002 – 10.01.2004.

Linh mục Giuse Trương Đình Hiền
Nguồn: http://www.dunglac.info/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=118&ia=1778

CHÚA VỀ !


Chúa về !
như cơn mưa chợt về trong nắng hạn
Để đất hồn con lên những búp non xanh
Để cây hoang chợt nẩy lộc đâm cành
Để suối khô tràn dòng xanh nước mát



Chúa về !
Để lòng con qua bao mùa héo hắt
Tìm được niềm vui, hy vọng nở hoa
Mảnh đời con chợt tươi sáng ngọc ngà
Chân mở lối thênh thang đường đi tới


Chúa về !
Như anh sao đêm chợt về trong đêm tối
Thắp đời con dài những tối mênh mang
Sáng ấm lên ngày xuân mới huy hoàng
Tim reo hát khúc tình ca rộn rã

Chúa về !
Cho đời hoang bát ngát xanh màu mạ
Vết hoang tàn giờ thay thịt đổi da
Vầng khăn tang từng phủ trắng muôn nhà
Nay tiếng hát, nụ cười vang khắp ngõ

Chúa về !
Như cánh bồ câu từ miền đất lạ
Mang cành non về nhắn gởi tin vui
Đã qua rồi cơn hồng thủy dập vùi
Một đất mới một trời tươi khai mở

Chúa về !
Như ông chủ tìm đến nhà tôi tớ
Như Đức Vua đi tìm gặp thứ dân
Căn nhà hoang thân tội lỗi ngập tràn
Bổng bừng dậy tin yêu niềm vui mới

Chúa về !
Cho con thỏa bao năm chờ tháng đợi
Sương hồng ân tuôn đỗ tự mây trời
Mắt mõi mòn thôi giọt đắng tuôn rơi
Lòng ca hát khúc tân ca hớn hở

Chúa về !
Để nối lại những chuyện tình duyên nợ
Cho đất trời thôi cách biệt từ đây
Để hôm nay và đường tới tương lai
Tình Chúa, tình người thắm nồng mãi mãi !

Sơn Ca Linh

MÙA VỌNG CHO QUÊ HƯƠNG

“Bên bờ sông Babylon
ta ra ngồi nức nở mà tưởng nhớ Sion”
(Thánh Vịnh 136, 1)


Một ngày ta chợt thấy
Người đi giữa phố phường
Trong vợi vời ánh mắt
Lấp lánh mộng hồi hương

Trong mắt người ta gặp
Chút gì của riêng ta
Chút gì riêng chỉ có
Trong mắt kẻ xa nhà

Một ngày ta lặng lẽ
Bên bờ Babylon
Nghe trong ta nức nở
Bao vọng ngóng mỏi mòn

Quê hương thành đất khách
Dằng dai cuộc lưu đày
Bóng chiều rơi trên mắt
Huyền cầm lơi trên tay
Quê hương xa ngút ngát
Thời vọng niệm gấm hoa
Trong chập chùng tản lạc
Trong hỗn độn mù xa...

Vẫn từng ngày nuôi mộng
Ngày gặp lại cố hương
Khi cửa Trời mở rộng
Khi mây tầng mưa sương

Vẫn từng ngày ngóng đợi
Quê hương ta chuyển mình
Quê hương mùa cứu rỗi
Quê hương Đấng Cứu Tinh

Quê hương mùa nắng mới
Quê hương ngợp bình minh

Lm. Giuse Maria Cao Gia An
Roma – Mùa Vọng 2014


HÃY DỌN ĐƯỜNG


Tâm tình chờ đợi con hôm nay
Mùa Vọng mừng reo sướng ngập đầy
Bác ái thi hành chớ biếng nhác
Yêu thương phục vụ luôn hăng say
Núi cao bạt đẽo san bằng phẳng
Thung lũng vun đầm lấp thẳng ngay
Sửa đổi tâm hồn thật sạch đẹp
Dọn đường Chúa đến. Ôi, vui thay !

Suy niệm CN II MV Mc 1, 1 - 8
Lm.Đam Khuất Dũng sss

MAU DỌN NHÀ


Mau dọn nhà đón mừng vị thượng khách
Từ trời cao xuống đất thấp viếng thăm
Kìa Người đến trên lối đi cực sạch
Cực tinh tuyền, trong vắt tận chân tâm

Mau dọn nhà cho Người vui trú ngụ
Chút đơn sơ vừa đủ nét thanh tao
Lòng mến thương như tình đương chớm nụ
Duyên đất trời ngây ngất phút kết giao

Mau dọn nhà cho Người thương dời chuyển
Cõi thiên đường thánh điện xuống nơi đây
Cả Ba Ngôi sẽ thường hằng bất biến
Trong lòng em chân, thiện, mỹ đắm say

Mau dọn nhà cho Người vui hạnh phúc
Thỏa lòng yêu đôi bờ vực cách xa
Từ nay thôi tháng năm dài mơ ước
Có em rồi trong kiệu rước ngàn hoa

Mau dọn nhà, nhé em, Người đang đến
Nụ tầm xuân xanh biếc nở hồn nhiên
Đức công minh trùng phùng lòng thương mến
Em khiêm quì mừng hạnh ngộ thần duyên

ả giang hồ

SÁM HỐI VÀ THANH TẨY


Tuần II Vọng B
“Có Đấng quyền thế hơn tôi, đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quay dép cho Người”
(Mc 1, 1-8)

Này đây ngôn sứ của Ta
Dọn đường sửa lối từ xa đến gần
Từ nơi hoang địa xa xăm
Về trong cô lặng nội tâm một mình
Người là ngôn sứ công bình
Ăn châu chấu, uống mật ong rừng lớn lên
Lông lạc đà, áo che thân
Bôn ba đôi gót chân trần báo tin
Ăn năn sám hối thật tình
Nhận ơn Thanh Tẩy trầm mình Jordan
Ngày cứu rỗi đã đến gần
Người nên cao trọng bội phần hơn Gioan
Dừng thôi những cuộc lạc hoan
Lắng lòng khiêm nhường hồi tâm trở về
Bỏ đi điệp giấc đam mê
Công minh sống giữa bộn bề nhân gian
Ơn Thánh Tẩy đẹp vô vàn
Nên cung điện Chúa rỡ ràng giáng sinh
Khởi đầu cho một chuyện tình
Nhân gian cùng với thiên đình giao duyên


Mic. Cao Danh Viện


MƯA BUỒN CHIỀU VỌNG


Vọng đến con còn đứa bé hư
Bao năm Cha đợi vẫn ngần ngừ
Vọng là Cha vọng, con đâu vọng
Nghịch lý muôn đời chốn thế cư!

Vọng đến rồi đi có thấy chi
Đường cong lối quẹo vẫn ôm ghì
Đồi cao lũng thấp còn chưa bạt
Khúc khuỷu gập ghềnh những lối đi

Nào Vọng, nào Chay, ngóng với mong
Đợi chi đợi mãi héo hon lòng
Qua đi ơn Chúa theo dòng nước
Đục mãi đâu còn biết đến trong!

Mưa gió về theo mỗi Vọng buồn
Mơ hồ, chuông lẫn dưới mưa tuôn
Đường trần mỏi gối nghe lòng lạnh
Lãng tử chiều nay nhớ cội nguồn.

Giu-se Nguyễn Văn Sướng

NHƯ HOANG MẠC CHỜ MƯA


Con đốt đuốc soi tìm mình trần trụi
Giữa nẻo đường trần thế đứng lơ ngơ
Tháng năm trôi mòn mỏi đã mệt phờ
Mà đêm tối mịt mù màu hoang vắng

Chúa trồng con đâu mong tìm quả đắng
Trắng tay hoài dầu ân phúc no dư
Bao chuyến qua còn đứng mãi chần chừ
Còn lưỡng lự? Còn ngần ngừ nấn ná?

Con tự hỏi sao còn chưa đáp trả?
Khi lòng hoài khát vọng những cao siêu
Khi bâng khuâng trống vắng biết bao chiều
Tìm chi đó, đợi chi mà quyến luyến

Như hoang mạc chờ mưa về thỏa nguyện
Đất khô cằn mong sương sớm thâu đêm
Con đợi Ai hồn chín nẫu ngọt mềm
Xin kíp đến Ai kia Người hãy đến

Trời cao hỡi sương sa Người đáng mến
Mưa nguồn về tuôn đổ Đấng Công Minh
Con nay đang hoài khao khát ân tình
Mùa trông đợi tím mong chờ khát vọng.

Giu-se Nguyễn Văn Sướng

MÙA VỌNG CỦA LÃO TUẦN PHIÊN


Con thèm chút gió ngoài sân
Chút hoa lá, chút nắng gần, mây xa
Thèm bước đi, tuổi ngọc ngà
Thèm sao sức sống bao là hồn nhiên

Thèm vì góc nhỏ rất riêng
Trơ vơ một chỗ bên hiên cuộc đời
Ngó ra cho hết kiếp người
Có thèm đành chịu đổi dời được đâu

Ngồi hôm nay, chờ mai sau
Nhớ bao tội lỗi, nghe bao ân tình
Chúa yêu từ buổi bình minh
Còn yêu đến lúc một mình cô đơn
Chẳng oán trách, chẳng giận hờn
Bao dung, từ ái vô ngần thứ tha

Ngồi nghe gõ nhịp giang hà
Thuyền đời đã sẵn về xa mịt mùng?
Ngồi chờ tiếng vọng ba chuông
Tuần phiên nức nở nỗi buồn, niềm vui

Một chuông quá khứ chôn vùi
Hai chuông thương tiếc ngậm ngùi tiễn đưa
Ba chuông về lại Quê Xưa
Cội Nguồn Hiện Hữu vào Mùa Yêu Thương

Ba Chuông


DỌN ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA

(Cảm nhận từ TMCN B Vọng 2,Mc1,1-8)


Như tiên báo bao ngàn năm trước
Thánh Gio An đã được sai đi,
Rao tin: cứu độ tới kỳ,
Ăn năn thống hối trở về cùng Cha.

Thánh tuyên bố: Con Cha sẽ đến,
Phép Rửa Người: ân điển Thánh Linh
Người là chính Đấng Cứu Tinh
Quyền năng, phép tắc, nặng tình xót thương.

Là tín hữu trên đường sống đạo
Mùa Vọng về loan báo Tin Mừng,
Dọn lòng thanh sạch, hiến dâng,
Dọn đường đón Chúa, cậy trông phúc lành…

Thế Kiên Dominic


TÂN NIÊN PHỤNG VỤ


Tân niên phụng vụ lại vừa sang.
Mùa Vọng hàng năm: phải sẵn sàng:
Hồn xác sạch trong, chăm khấn nguyện,
Tâm tư tỉnh thức, khỏi hoang mang.
Huân công tín đức: mong toàn thắng,
Thừ thách gian nan: chẳng chịu hàng.
Mừng lễ Giáng Sinh: còn vọng tới
Nước Vua Cứu Thế đại vinh quang…

Thế Kiên Dominic

MẦM SỐNG ĐẠO C1

(Nghe, đọc, suy tư)

Hai yêu
Người Kitô hữu nguyện trung thành,
Tin cậy tình thương Chúa Chí Linh.
Mến Chúa, yêu người như luật dạy
Và luôn ngưỡng vọng phúc trường sinh..

Man na mới
Thời Cựu Ước Man na dân chế biến
Thành món ăn đủ hương vị ngon lành.
Và ngày nay, Chúa ban Bánh Trường Sinh.
Cùng Lời Chúa, dưỡng nuôi người tín hữu.

Ánh ngày mai
Thất bại, khổ tâm trong quá khứ
Quên đi để tiến bước hiên ngang.
Tương lai sán lạn đều căn cứ
Dĩ vãng bỏ quên, không bẽ bàng.

Ba điều giản đơn
Ba điều chính yếu giản đơn.
Phải làm, phải giữ, xin ơn độ trì.
Ai ơi! Luôn phải nhớ ghi.
Trung thành giữ đạo, ắt thì Chúa thương

Thế Kiên Dominic

ĐÁP LỜI MỜI GỌI


Gioan Tẩy Giả kêu mời,
Mọi người dương thế đổi đời tận căn.
Bỏ đi lòng dạ kiêu căng,
Cuộc đời quá khứ, bao năm gian tà.
Trở về gặp lại người Cha,
Cùng bao kẻ khác như là anh em.
Chính nhờ biết sống mọn hèn,
Chẳng cho tự phụ bôi đen trí lòng.
Xác hồn luôn được trắng trong,
Lại còn chan chứa mênh mông ân tình.
Vũ hoàn thoát khỏi chiến chinh,
Muôn loài vui hưởng hòa bình tình thương.
Đây là cách thế dọn đường,
Cho Chúa ngự đến trên dương gian này.
Mọi người được sống sum vầy,
Khi lòng ai nấy tràn đầy tình thương.

CN 2 MVNB 10/02-2017
Hai Tê Miệt Vườn

CÁCH THỨC DỌN ĐƯỜNG


Bạt đi tự phụ kiêu căng,
Loại trừ hành động hung hăng hại người.
Ta cần sám hối, đổi đời,
Bỏ đàng tội lỗi, xa rời dối gian.
Đây là cách thế dọn đàng
Ngõ hầu đón Chúa, lòng tràn sướng vui.
Quá khứ, tội ác chôn vùi,
Bất công thù oán đẩy lùi thật xa.
Từ nay ta sống chan hòa,
Với bao kẻ khác: đậm đà lòng nhân.
Chính nhờ luôn biết thực hành,
Những điều Chúa dạy nhiệt tình hăng say.
Biết đem khối óc bàn tay,
Dựng xây thế giới đẹp hay mọi đàng.
Mọi người từ giã trần gian,
Đến quê thiên quốc ngắm nhan Chúa Trời.

CN 2 MVNB 10/02-2017
Hai Tê Miệt Vườn

(Kính dâng hương hồn nữ tu Dòng Mến Thánh Giá Vinh-Anna Trần Thị Phượng, vừa qua đời trong một tai nạn xe trên đường mua bánh Trung Thu cho các trẻ em nghèo, 4/10/2017)


Giữa những đường đời đang héo úa,
Có những cành phượng vĩ tươi xinh,
Rực thắm tin yêu nồng nàn sắc đỏ,
Cho cuộc đời luôn ướp mặn hương tình !



Đường đã chọn, con đường Thập Giá,
Có ngại gì bao nẻo gian truân.
Hiu hắt đông buồn, dãi dầu nắng hạ,
Sưởi ấm đêm thu bếp lửa nhân quần !



Cho dẫu phận chân mềm tay yếu,
Chẳng lụa là không chút phấn son…
Chiếc áo dòng đen bên đời khuất nẻo,
Hương thắm tình yêu sắc đỏ vẫn còn !



Như “hạt lúa gieo vào lòng đất”,
Chị vừa dâng Hy lễ hôm nay.
Chiếc bánh Trung Thu thêm mùi vị ngọt,
Đồi Can-Vê đỏ rực cánh hoa nầy !


(6/10/2017)
Sơn Ca Linh


Chúa ơi,
Xin mở dùm đôi mắt con ra,
Sao trời chưa kịp tối mà đôi mi nó cứ sụp xuống !
Con chẳng nghe được gì lời cha đang giảng,
Dẫu biết rằng… lễ Chúa Nhật chiều nay !


Thú thật với Chúa,
Con đến nhà thờ mà chưa kịp rửa đôi tay,
Vừa quăng đôi gánh, chiếc áo dài mặc vội.
Chiếc áo 4 tuần liền cũng chưa kịp ủi,
Thế mà cũng lọt mất bài nhập lễ du dương…!


Ở giữa cộng đoàn,
Mà sao con thấy nhiều người lạ hơn quen,
Phận buôn gánh bán bưng chỉ mình con, không lẽ ?
Đôi vai con bây giờ mới nghe đau nhè nhẹ,
Và đôi chân lội bộ cả ngày
nên bây giờ chỉ muốn ngồi bệt xuống thôi.

Giật mình tỉnh lại,
Con đã ngủ gục qua luôn bài giảng rồi,
Đôi mắt cố mở ra nó liền đóng lại.
Dâng lễ mà thế nầy chắc tội to biết mấy,
Nhưng Chúa ơi,
Thông cảm cho con cả một ngày vất vả bon chen.

Mệt mỏi lo toan, manh áo miếng cơm,
Tiền học cho con, thêm tiền nhà trọ…
Của lễ của con gồm bao nhiêu đó,
Chứ biết dâng gì cho Chúa nữa đâu !

Chúa ơi,
Tha cho con tội ngủ gục, chia trí, lôi thôi…
Con hứa tuần sau về sớm con đi cáo giải.
Riêng bây giờ, Chúa mở dùm đôi mắt con trở lại,
Để con tiếp tục cho trọn phần Thánh lễ chiều nay.

Sơn Ca Linh
(Viết thay tâm tình của một bà mẹ tôi quen)

 

Hạ về nhớ chuyện “trăm năm”[1],
Bóng xưa Mẹ đứng âm thầm xa xôi.
Đường quê heo hút lưng đồi,
Mây treo nắng bạc bóng sồi chênh vênh.
 
Đồi Cova sáng mông mênh,
Mục đồng mấy bé nhìn lên sửng sờ[2]…!
Trong tà áo trắng nên thơ,
Mẹ âu yếm gọi Mẹ chờ lời kinh.
 
Nguyện cho đời hết chiến chinh,
Mân Côi chuỗi ngọc hòa bình đến mau.
Ăn năn cải thiện nguyện cầu,
Trái tim của Mẹ cùng nhau tôn sùng.[3]
 
Trên trời Mẹ vẫn thủy chung,
Đồng hành mỗi bước khốn cùng trần ai.
Trăm năm chuyện vẫn nối dài,
Fa-ti-ma đó nhớ hoài ngàn sau !
 
“Ngày của Mẹ” có chi đâu,
Cho con dâng một kinh cầu “A-Ve”.
 
Sơn Ca Linh (Mother ’ Day 14/5/2017)
(Nhân ngày Mother ’ Day và Kỷ niệm 100 năm Mẹ Fatima 1917 – 13/5 – 2017)

[1] Năm nay Giáo Hội mừng kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima (Bồ Đào Nha) : 1917 - 2017
[2] Đức Mẹ hiện ra lần đầu tiên với ba em bé chăn cừu : Lucia, Phanxico và Giacinta vào trưa ngày 13/5/1917 tại ngọn đồi Cova Iria thuộc giáo xứ Fatima nước Bồ Đào Nha
[3] Sứ điệp của Đức Mẹ Fatima đó là : Ăn năn cải thiện đời sống, siêng năng lần hạt Mân Côi và tôn sùng Trái Tim Mẹ.





























 
PHẢI CHĂNG CŨNG MỘT CHỮ “VÌ” ?
(Thầy là đường – Ga 14,5)

Vì Ngài là đường,
Nên cô Maria đã khước từ nguyện ước riêng,
Để một đời hụt hơi với con đường “xin vâng” thánh ý.
Chàng thợ mộc Giuse lại cũng y như thế,
lầm lũi cả một đời im lặng quên mình.
Vì Ngài là đường,
Nên các nhà đạo sĩ trèo non lặn suối hy sinh,
Bất kể gian nan, dặm dài, quyết noi theo sao lạ.
Rồi ba mươi năm sau,
Có vị tiên tri lừng danh Tẩy Giả,
Xung phong dọn đường cho Ngài ngự giá thân chinh.
Cũng bởi chọn đường nầy mà chấp nhận hy sinh,
Thân tội tù và kết cục : chiếc đầu trên đĩa !
Vì Ngài là đường,
Nên đám vạn chài Ga-li-lê lưới thuyền gác lại,
Chấp nhận một cuộc đời “xất bất xang bang”.
Lê-vi bỏ nghề “hái ra tiền” rủng rỉnh giàu sang,
Chọn sống lang thang không cửa nhà, không “viên đá gối” !
Vì Ngài là đường,
Nên biết bao những kẻ mù câm tăm tối,
Dắt díu nhau gặp cho được, tìm cho ra.
Những anh chị em cùi hủi bệnh tật xót xa,
Đường Giêsu đã đóng lại cả một đời tăm tối.
Vì Ngài là đường,
Mà người thiếu phụ bán hoa tội lỗi,
Quyết trở về để nhỏ những giọt nước mắt ăn năn.
Chàng thu thuế Gia-kê giàu sụ lăng xăng,
Một lần gặp để bắt đầu đi theo con đường mới.
Vì Ngài là đường,
Mà ánh mắt của tên tử tù giữa cơn hấp hối,
Đã thấy rực lên niềm hy vọng Nước Chúa cận kề.
Đã gọi tên “Maria” về giữa cơn mê,
Và gieo nắng phục sinh trên hoang tàn mộ trống !
Vì Ngài là đường,
Nên lối Em-mau từ đây thôi hoang vắng,
Tấm lưới trống thâu đêm giờ cá đã ắp đầy.
Và trên muôn vạn nẻo đường thế giới hôm nay,
Ngài chính là Mục tử,
Đang dẫn chiên lên đường về đồng xanh suối ngọt !
Sơn Ca Linh (Phục Sinh 2017)
 

PHẢI CHĂNG CŨNG MỘT CHỮ “VÌ” (2) ?
(Thầy là sự thật – Ga 14,6)

Vì Ngài là sự thật,
Nên mới hiểu được cái giá của “tội A-đam, E-Va”,
Khi rũ nhau phản bội luật truyền và cùng ăn trái cấm !
Mới hiểu hết chiều sâu chiều rộng,
Trong cõi lòng đứt ruột của Abraham khi hiến tế con yêu.
Vì Ngài là sự thật,
Nên tấm bản đồ gia phả đan dọc trăm chiều,
Đâu thiếu chỗ của những hạng người cùng đinh tai tiếng.
Nên mới hiểu nhà tiên tri cô độc Êlia một mình độc chiến,
Để tái lập cương thường và thánh luật của Gia-vê.
Vì Ngài là sự thật,
Nên con đường giải thoát làm sao thiếu bóng Mô-sê,
Và máu “con chiên xuất hành”,
Chỉ hiện thực tròn đầy vào buổi hoàng hôn trên núi Sọ.
Vâng, những trang Cựu ước còn sờ sờ ra đó,
Nếu Ngài không là sự thật,
Mãi muôn đời sẽ chỉ là những dòng chữ chết mông lung !
Vì Ngài là sự thật,
Nên những khổ đau, nghèo đói, khốn cùng…
Đã trở nên con đường dẫn đưa vào cõi phúc.
Những đứa con hoang, những cuộc đời ô nhục,
Vẫn tìm được lối về trong mái ấm nhà Cha.
Vì Ngài là sự thật,
Nên lạ gì những chứng gian, những bản án thối tha,
Thập giá, mão gai…vẫn ngập đầy trên dương thế.
Hai ngàn năm với bao nhiêu thế hệ,
Máu chứng nhân cho “sự thật Ngài” nhuộm khắp năm châu.
Vì Ngài là sự thật,
Nên “hàng trăm lít rượu nhiệm mầu”,
Để tiệc cưới Ca-na nối dài niềm vui hạnh phúc.
Nên vài tấm bánh, con cá của em thơ nhỏ rức,
Đã làm nên đại tiệc cho cả vạn con người.
Vì Ngài là sự thật,
Nên “mộ trống tang thương” đã bừng lên ánh sáng rạng ngời,
Và mặc “chỗ nước sâu”,
Thuyền Phêrô vẫn nhịp nhàng chèo ra phía trước.
Và từ đó nẻo trần gian với bao chiều xuôi ngược,
Chỉ “Sự thật Ngài” mới hoàn toàn giải thoát chúng sinh !
Sơn Ca Linh (Phục Sinh 2017)






















































































hình minh họa
(Chút hoài niệm 42 năm “Tháng 4 đen”)
Anh đã hẹn em xuân nầy sẽ gặp,
Để trọn lời nguyền đính ước trăm năm.
Để bên nhau cùng ngắm ánh trăng rằm,
Và hái tặng em đóa hồng tươi ân ái !
 
Nhưng bước hành quân nối dài trở lại,
Hết Bình Giã, Đồng Xoài, tới Đỗ Xá, Pleime.
Xuân Mậu Thân hay “đỏ lửa mùa hè”,
Không phải dối em nhưng anh đành lỡ hẹn !
 
Có những bình minh anh nhờ cánh én,
Mang dùm anh lời nhắn gởi cho em.
Một bài thơ anh vừa viết trong đêm,
Dưới ánh hỏa châu vang rền đạn lửa !
 
Anh cứ tưởng hòa bình không xa nữa.
Đã qua rồi Char-li hay máu đổ Khe Sanh.
Nhưng đường hành quân cứ biền biệt trôi nhanh,
Mà chẳng thấy mùa xuân sang biển lặng !
 
Bước chân anh càng dày thêm cay đắng,
Mỗi ngày qua bạn bè chết trước mất sau.
Thượng Đức, Ban Mê, Quảng Trị…đổi màu,
Đường số 7 Phú Yên ngập tràn máu đổ !
 
Cuộc hẹn cùng em nhạt nhòa vụn vỡ,
Mảnh quê hương giờ rách nát thảm thương.
Cả lũ bọn anh xơ xác trên đường,
Thương tích đầy mình, con tim rách nát…
 
Chiều tháng 4, trong hơi tàn phờ phạc,
Anh nguyện đôi lời xin Trời chứng dùm anh.
Lỗi hẹn cùng em, dù chẳng muốn, thôi đành.
Xin lỗi em, đừng chờ, anh xin vĩnh biệt !
Sơn Ca Linh (Tháng 4/2017)



































 
EM CÓ VÀO THÀNH SÁNG HÔM NAY ?
(Cảm nhận Lễ Lá)
Sáng nay nghe vọng bên đường lớn,
Tiếng hô vang, bụi cát tung bay.
Mở cửa trông nhà em cuối xóm,
Em có vào thành sáng hôm nay ?
 
Thì ra em đã đi từ sáng,
Trên tay phất phới một cành xanh.
Chân bước miệng cười tươi rỡ rạng,
Người đông như sóng dạt vô thành !
 
Ta lủi thủi theo em đàng cuối,
Vừa nghe kháo láo chuyện về Ngài.
Đã mấy năm tiếng đồn vang dội,
Giêsu ngôn sứ lại là đây !
 
Lộng vàng, ngựa quý đâu chẳng có,
Giản đơn trên một chú lừa con.
Giáo khiên thay những cành lá nhỏ,
Đại đế quang lâm quá giản đơn !
 
Không lẽ Đấng dùng năm chiếc bánh,
Đãi đoàn dân đến cả mấy ngàn.
Đấng biến rượu ngon từ nước lạnh,
Mà sao chẳng có chút cao sang !
 
Đấng loan tin Nước Trời đang tới,
Cho điếc nghe, câm nói, què đi…
Nước Trời đó, nhà Cha đón đợi,
Con hoang đứng dậy bước quay về !
 
Đấng đã từng lau khô dòng lệ,
Đời xanh xao mẹ góa Na-in,
Người chết trở về trên dương thế,
Tử thần nay thua Đấng phục sinh !
 
Đấng dạy luật tình yêu tối thượng,
Dám hy sinh cho kẻ mình yêu.
Đấng dạy bảo những ai làm lớn,
Phải nên người phục vụ trăm chiều…
 
Đấng mới đây thôi từ huyệt mộ,
Đã thối om xác chết La-da-rô.
Quyền năng chỉ một lời tuyên bố :
Đứng lên đi ra khỏi nấm mồ !...
 
Cùng với em theo Ngài đi tới,
Chẳng biết ngày mai sẽ tới đâu ?
Nghìn năm đã dân ta mong đợi.
Biết đâu đây là phút nhiệm mầu !
Sơn Ca Linh (Lễ Lá 2017)
 


CHO TÔI XIN CHÚT DẦU THƠM EM NHÉ !
(Cảm nhận Thứ Hai Tuần Thánh – Xức dầu thơm tại Bê-ta-ni-a – Ga 12,1-8)

Cho tôi xin chút dầu thơm em nhé,
Để mang về mà cất giữ phòng thân,
Và để ai quanh lối xóm đang cần,
Tôi mang đến và chia cho chút xíu !
 
Bởi tôi biết dầu của em tuyệt diệu,
Dầu cam tùng chỉ có một không hai.
Tỏa hương thơm cho đến vạn dặm dài,
Mang hơi ấm nồng nàn muôn thế kỷ.
 
Dầu của em với cội nguồn tuyệt mỹ,
Chất liệu bằng tình mến chẳng phôi pha.
Với niềm tin vị chân chất đậm đà,
Mà hương sắc là cho đi phục vụ !
 
Em đã xức một lần trong quá khứ,
Nhưng “chân Thầy” mãi mãi vẫn còn đây.
Vẫn cần dầu thơm yêu mến đong đầy,
Vẫn cần hương vị ngọt ngào hy tế !
 
Dầu của em sẽ hong khô dòng lệ,
Và mang về niềm hy vọng tin yêu.
Sẽ tỏa hương trên những lối tiêu điều,
Và nở nhụy khai hoa mùa hoang tái…!
 
Mặc thế gian cứ cho là lãng phí,
Xức chân Thày đâu tính toán thiệt hơn !
Nhà Hội Thánh luôn cần tỏa hương thơm.
Nên tôi xin chút dầu thơm em nhé !
Sơn Ca Linh (Tuần Thánh 2017)

CHUYỆN “3 GIỜ CHIỀU THỨ SÁU”
(Cảm nhận Thứ Sáu Tuần Thánh)
Vào lúc 3 giờ chiều,… Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn rồi trút linh hồn.
(Mt 27,46-50)
Trần gian có một ngày buồn,
“3 giờ thứ Sáu hoàng hôn tím màu”.
Có người gục chết thương đau,
Dấu tình yêu đó gươm thâu tim mình.
Một đời vẹn lễ hy sinh,
Viết xong một khúc thơ tình thiên thu.
Nhiệm mầu dáng đứng Giê-su,
Thân treo thập giá nghìn sau nhắc hoài.
Hóa thân hạt lúa đọa đày,
Đau thương nát mục để rày đơm bông.
Ý Cha vẹn nghĩa tơ lòng,
Tình trần bát ngát non sông muôn trùng.
Chung chia phận kiếp đời chung,
Sống thương đau, chết mịt mùng xót xa.
Tình yêu giờ đã đơm hoa,
Chết từ đây mới đi xa trở về.
Thập giá kia vẹn câu thề,
Tình Giê-su đó trọn bề con tin !
Sơn Ca Linh (Thứ Sáu Tuần Thánh 2017)

TA MONG MÃI BUỔI HỪNG ĐÔNG HÔM ẤY
(Cảm nhận Phục Sinh, Ga 20,1-10)
Ai đã sống
Mà không từng đi qua hay trải nghiệm
Những đêm dài buốt giá thương đau.
Đêm hận thù phản bội,
Đêm tương tàn huynh đệ say máu giết nhau,
Đêm chẳng thấy ngày sau,
Bởi tương lai chỉ một màu hoang tái !
Đêm vĩnh biệt người thân,
Để chẳng bao giờ có ngày mai trông thấy.
Đêm vợ xa chồng,
Đêm đứng lặng nhìn con cái đi hoang.
Đêm tật nguyền thương tích,
Xác thân như một mớ hoang tàn,
Đêm nhấp chén quang san,
Lòng nhứt buốc theo người đi kẻ ở.
Đêm nước mắt tuôn,
Ướt những bờ vai thon nức nở,
Đêm tàn duyên nợ,
Ôm xác ai mà sập cả bầu trời.
Đêm gió ngừng thổi,
Và mưa nặng hạt bổng thôi rơi,
Vì mắt mẹ chơi vơi,
Mong mãi bóng con mịt mù xa khuất.
Đêm của tối tăm,
Lê thê chuỗi ngày đắng cay tù ngục.
Đêm hoang tàn oan khúc,
Vương vải xương tàn mộ địa thê lương.
Đêm rẽ chia, thù hận,
Im bặt rồi nhạc khúc yêu thương,
Nương vắng đồi cao
Đêm ngập tràn mão gai, thập giá !...
Nên ta thức đêm nay,
Như một kẻ lang thang ăn mày phép lạ.
Để bình minh rộn rã,
Ta theo chân nàng kiều nữ Sa-lem.
Để kiếm tìm hy vọng, và gặp gỡ quan chiêm,
Đấng chiến thắng bóng đêm,
Và đánh bại tử thần vừa chỗi dậy !
Vâng, chỉ có Ngài…
Nên ta mong mãi buổi hừng đông hôm ấy !
Sơn Ca Linh (Vọng Phục Sinh 2017)
MỪNG CHÚA PHỤC SINH
KHÔNG LẼ HÔM NAY THUYỀN GÁC MÁI !
(Chút cảm nhận Phục Sinh từ Ga 21,1-14)
Nhớ chuyện ngày xưa trên biển vắng
Thầy bảo “chèo ra chỗ nước sâu”
Dẫu có cuồng phong hay biển lặng,
Mạnh dạn mà bủa lưới giăng câu !
 
Đường Thầy dẫn càng đi thấy lạ !
Ánh vinh quang mỗi lúc xa mờ
Nhưng lại cứ gần hình thập giá
Chuyện Nước Trời lại chỉ ươm mơ !
 
Và rồi những tay chài lưới đó
Tan bầy rã đám thật ê chề
Kẻ phản, người quay lưng chối bỏ
Chán nản đành quay gót trở về !
 
Rất lạ, từ buổi bình minh ấy
Tin vui ngày thứ nhất trong tuần
Ai nấy xôn xao Thầy sống lại
Niềm vui xen cả nỗi bâng khuâng!
 
Và lại sáng nào trên bãi vắng,
Tiếng Thầy vang gọi giữa bâng quơ.
Mẻ cá lạ lùng tay lưới nặng,
Bữa điểm tâm ngon lại sẵn chờ !
 
Rồi tất cả những chàng trai ấy
Dương thuyền ra mọi “chỗ nước sâu”
Thúng bột trần gian giờ đã dậy
Men tình yêu cứu độ nhiệm mầu !
 
Lệnh của Thầy xưa còn nguyên đấy
Biển trần gian đầy “chỗ nước sâu”
Không lẽ hôm nay thuyền gác mái
Ngoài kia cá đợi lưới giăng câu !
Sơn Ca Linh

Lm. SƠN CA LINH


 
Nẻo đường cát bụi trần gian đó
Một thoáng mà nay đã đi qua!
Thì ra hình hài hạt bụi nhỏ
Thuyền cha rày đỗ bến quê nhà (2)!
 
Đếm bước thời gian qua mấy chặng
Tình yêu là những “dấu chân đôi”(3)
Theo những mùa vui, mừng, cay đắng
Nắng mưa giông tố cũng qua rồi!
 
Đã hẵn người đi không “tiếc nuối”(4)
Nhưng người ở lại vẫn chênh vênh
Cõi biệt ly nào không “đắm đuối”
“Chợt hiểu ra” đời vốn lênh đênh!
 
Từ nay hết dấu chân mục tử
Có còn chăng bóng cũ xa xôi
Nhẹ gánh thênh thang đời lữ thứ
Vì nay “Chúa ẵm tôi lên rồi”!
 
Lm. Sơn Ca Linh, 01-3-2017
 
Một nén hương lòng kính dâng về Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống (Nhạc sĩ Thông Vi Vu) vừa được Chúa gọi về sáng nay, 01/3/2017.

(1) Lời của ca khúc “DẤU CHÂN” của cố Giám Mục Nhạc sĩ Thông Vi Vu, tức Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám Mục Phan Thiết :
Hôm nao thấy dấu chân đôi:
Đó là Chúa đi bên tôi.
Hôm nào còn một dấu chân thôi:
Là bởi vì Chúa ẵm tôi lên rồi.
(2) Đức Cha Giuse từ giã cõi đời lúc 8 giờ sáng ngày thứ Tư lễ Tro, 01/3/2017.
(3) Lời của ca khúc “DẤU CHÂN” (như đã dẫn trên).
(4) Những chữ trong ngoặc kép của đoạn thơ nầy trích từ lời bài hát “ĐÔI KHI” của GM. Ns.Thông Vi Vu (Đức Cha Giuse)


































(Kính dâng hương hồn Đc Phaolô Nguyễn Văn Hòa,
Người vừa ra đi trong chính đêm Valentine’Day, 14/2/2017)


Chiếc lá về cội,
Chiếc lá vừa rơi trong đêm,
Bầu trời hơi tối lại,
Khi một ánh sao chợt vừa vụt tắt !
Cánh én ngoài kia,
Tối nay mang nốt trầm hiu hắt,
Không phải mùa xuân mà với một tin buồn !
Nghe nhè nhẹ đâu đó,
Có dòng nước mắt tuôn,
Hay một nỗi tiếc thương
đọng thành lời than thở !
 
Người đã đi qua với mối tình nặng nợ,
Của người mục tử che chở những đàn chiên.
Như người nghệ sĩ,
Tiếng dương cầm còn vang mãi triền miên,
Mà khúc hát Sêraphim
ngân hoài theo năm tháng !
 
Vẫn biết dòng sông,
Phải trôi về bao la biển rộng,
Chấp nhận phận người,
Lại trở về nguồn cội vô biên,
Nhưng trong đáy sâu,
Của một miền thăm thẳm trái tim,
Vẫn nứt kẻ một đường riêng nhức nhối.
 
Nén hương lòng,
Kính tiễn cha hành hương đi về cội,
Mau hợp đoàn cùng muôn triệu thánh nhân.
Để khúc Sêraphim,
Cả thiên đàng cùng đồng giọng vang ngân,
Riêng cõi thế vạn lần thương tiếc nhớ !
 
“Requiescat In Pace” (R.I.P)
Kính dâng về cha một lời kinh nhỏ !
Sơn Ca Linh





































 
(Tặng những mùa xuân “tuổi xế chiều” !)
clip_image001
Ta cứ tưởng mình còn xuân sắc lắm,
Có ai ngờ thời gian đã sang đông !
Hèn chi rớt đâu đây sợi tóc trắng,
Lá mùa thu vừa rơi xuống bên sông !
 
Ta cứ ngỡ đường ta đi vẫn cũ,
Vẫn đầy hoa chào đón bước chân xưa !
Nhưng đâu mất, hai bên giờ rất lạ,
Tìm mòn hơi nào gặp chút hương thừa !
 
Ta lặng lẽ như con thuyền ghé bến,
Như tàu chiều vừa bỏ lại sân ga.
Biết còn không có ai người quyến luyến,
Hay bây giờ ta lại chỉ mình ta !
 
Ta thảng thốt giật mình xoay bước tiếp,
Sao bây giờ chân nặng những ưu tư !
Nẻo tương lai khi nào ta mới kịp ?
Mà hôm qua phế tích tự bao giờ !
 
Ta đã thấy bên đường hoa rụng hết,
Không biết đêm nay cành có đâm chồi ?
Trót chọn lên đường, có không, sinh, diệt !
Miễn trong hồn xuân gõ nhịp, thế thôi !
 
Sơn Ca Linh



























 

CÓ LẼ NÀO !
(Một chút cảm nhận về mầu nhiệm Emmanuel- CN IV Mùa Vọng)




clip_image001


Có lẽ nào ta đang vắng Chúa ?
Nên thấy hồn hiu quạnh hoang liêu.
Thấy chung quanh trống vắng tiêu điều,
Và trong lòng “bổng dưng muốn khóc”…!
Chúa không về hay ta bội bạc ?
Khép kín lòng trong góc tối riêng.
Ta xuyến xao trăn trở triền miên,
Và buông mất bàn tay của Chúa…!
Có lẽ nào lòng ta tắt lửa ?
Chút tro tàn lạnh ngắt tình thân.
Còn đâu tình Chúa lẫn tha nhân,
Hồn câm nín và trái tim cô độc…!
Chúa không còn hay ta khô khốc ?
Mảnh đất hồn gai góc rong rêu.
Sợi chỉ đời ngang dọc sân si,
Che phủ hết mọi đường ánh sáng…!
Chúa ra đi hay mình hết bạn ?
Lạt tâm tình cạn nghĩa tâm giao.
Cõi linh thiêng nay ngập ồn ào,
Tiếng dục vọng thay lời kinh nguyện…!
Có lẽ nào Chúa thôi lưu luyến ?
Chẳng chờ mong, dứt nghĩa bội tình.
Bỏ mình ta trong nỗi điêu linh,
Giữa sóng thét, gió gào, bão lửa ?
Không !
Em-ma-nu-el chính là Cứu Chúa !
Giữa đời ta mọi cảnh truân chuyên,
Đi cùng ta vạn nẻo chông chênh,
Vẫn đợi chờ yêu thương tha thứ…!
Rồi sẽ thấy trong ta đầy ứ,
Lửa tình yêu, phấn khởi hân hoan.
Đường ta nay dọn sạch đa đoan,
Bừng sáng lại tiệc vui ngày ấy !
Lm. Sơn Ca Linh



CÓ PHẢI CHÚA HAY LÀ AI KHÁC ?
(Một chút cảm nhận về mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh)
clip_image003
Có phải Chúa hay là ai khác ?
Mà sao con thấy lạ quá chừng !
Giữa mùa đông mưa dầm gió bấc,
Bé lạnh lùng nên khóc rưng rưng !
Không lẽ Chúa quyền năng cao cả,
Bước vào đời kiếp phận lầm than ?
Chọn sinh nơi hang lừa máng cỏ,
Mà không phải điện ngọc cung vàng ?
Có phải Chúa hay là ai vậy ?
Mái gia đình tăm tối cần lao !
Đục, cưa, bào, …mồ hôi nhễ nhại,
Chàng trai nghèo bình dị thế sao ?
Chúa mà sao âm thầm lặng lẽ ?
Xếp hàng đi giữa đống phàm nhân.
Chiên vô tội vẫn cùng thanh tẩy,
Mà trên vai nặng gánh tội trần !
Sao Chúa lại không là quan án ?
Quét sạch đời tội lỗi bùn nhơ.
Mà chọn lớp cùng đinh mạt hạng,
Để chung chia chén tạc chén thù ?
Chúa thánh thiện sao mà như thế ?
Đĩ điếm, thuế vụ, kẻ phong cùi…
Chẳng chút tị hiềm không phân rẽ,
Để mang về hy vọng niềm vui !
Không lẽ Đấng ngàn xưa tiên báo,
Được Thần Linh thánh hiến xức dầu ?
Để mang tin mừng, đem chính đạo,
Lại cơ hàn bụi bặm thế sao ?
Sau hết, có lẽ nào lại Chúa ?
Mà chịu xử như một tội nhân !
Chịu đóng đinh bên người trộm cướp,
Và chết trong khổ nhục muôn vàn !
Không phải ai đâu mà Chúa đấy !
Lời Toàn Năng nhập thể vào đời.
Men cứu độ từ đây đã dậy,
Tình yêu chân lý đã lên ngôi !
Lm. Sơn Ca Linh



Hai ngàn năm trước,
Trên những nẻo đường cát bụi xứ Palestina,
Đột nhiên, có đoàn lũ lớn bé trẻ già,
Khố rách áo ôm, nam thanh nữ tú…
Ai nấy trằm trồ, cùng nhau kháo láo :
Có một Vị Thầy,
Từ làng quê Na-da-rét, đích thị Rabbi !

Thầy : tên cúng cơm cha mẹ đặt GIÊSU,
Thầy : nghề thợ mộc, xuất thân hàng lê dân áo vải.
Thầy : Từng lao động với những giọt mồ hôi nhễ nhại,
Thầy : từng chen lẫn giữa đoàn người tội lỗi bước xuống dòng sông.
Thầy : từng quy tụ đám đông,
Để truyền giảng một Tin Mừng mang tên Nước Chúa !
Thầy : từng đem niềm vui cho bao tâm hồn héo úa,
Thầy : đem tin yêu cho những ai thất vọng ê chề !
Thầy : rọi sáng bao tâm hồn lạc lối u mê,
Thầy : trả lành lặn cho bao phận người đui què mẻ sứt…
Thầy : ban sự sống cho ai đang nằm trong cõi chết,
Thầy : đưa về nhà Cha những người con tội lỗi đi hoang.
Thầy : mang nụ cười vui gieo trên mọi ngả đàng,
Thầy : chung chén rượu cưới, bữa cơm gia đình đạm bạc.
Thầy : vui với trẻ em, chữa những người phung cùi, điếc lác,
Thầy : cũng khóc, cũng giận, cũng buồn, cũng vui.
Thầy : luôn xót xa và trăn trở bùi ngùi,
Trước một đàn chiên bơ vơ, lạc loài, đói khát.
Thầy : sẵn sàng chấp nhận trở nên hạt lúa mì mục nát,
Thầy : chọn con đường chết khổ nhục thương đau.
Thầy : muốn học trò noi gương Thầy rửa chân cho nhau,
Thầy : ban tặng : giới răn yêu thương làm luật mới.
Thầy : không để kẻ tin Ngài phải ưu sầu mong đợi,
Thầy : oai hùng từ mố trống đĩnh đạc phục sinh.
Thầy : thắp sáng niềm tin, ban sức sống Thần Linh,
Thầy : ban bình an và ơn cứu độ cho muôn dân thế giới.
Thầy : sai các môn sinh hãy mang Tin Mừng cùng đi tới,
Thầy : hứa sẽ hiện diện mãi mãi cho đến cuối thời gian…

Nhớ về Thầy, hôm nay xin ghi vội đôi hàng,
Như một chút lễ dâng, của tên học trò đã từng được Thầy cho thọ giáo !

Lm. Sơn Ca Linh, (20/11/2016)

VỌNG GÌ ĐÂY !
(Một chút cảm nhận khi Mùa Vọng trở về)





Vọng gì đây em ơi, mùa đông tới,
Lá khô cành và mưa lạnh tiêu điều,
Ngày em đi “lửa tắt bình khô rượu” [1],
Đường vắng em thành trơ trọi đìu hiu !

Vọng gì đây Bố ơi, chiều tan học,
Con một mình trong nổi nhớ mông mênh.
Cái kiếp mồ côi nào ai biết được,
Đời vắng cha con chỉ thấy chông chênh !

Vọng gì đây khói lam chiều đã tắt,
Ngày mẹ đi xa bếp trống quạnh hiu.
Còn lại chăng những tháng năm dằn vặt,
Nổi nhớ mong chiều quặn thắt trăm chiều !

Vọng gì đây phương trời xa xôi ấy,
Bóng con nhạt dần khuất dấu thương yêu.
Quê hương đây cửa nhà ta vẫn mở,
Chắp nhặt từng ngày nổi nhớ chắt chiu.

Vọng gì đây tháp chuông giờ vẫn thế,
Gọi ai lên đền thánh mỗi chiều lên.
Bước chân ai mãi xa xôi biền biệt,
Sân giáo đường giờ vắng lặng mông mênh !

Vọng gì đây khi tình yêu đã  vỡ,
Vợ xa chồng con mất mẹ vắng cha,
Nghĩa yêu thương thôi không còn duyên nợ,
Mái ấm gia đình giờ nên bãi tha ma !

Vọng gì đây con chết từ lòng mẹ,
Huynh đệ tương tàn xáo thịt nồi da !
Sự ác lên ngôi, bạc tiền uy thế,
Nghĩa bạn tình người chỉ còn nổi xót xa…!

Vọng gì đây khi quê hương ta đó,
Sống dập dềnh trong nổi sợ khôn nguôi.
Chất độc tràn lan tình người dối trá,
Biển đẹp, rừng tươi nay đã xa rồi !

Vọng gì đây khi mùa đông lại tới,
Lại dọn đường lại vang khúc ươm mơ.
Lại nghe ai đó gióng lời mong đợi. [2]
Mà sao ta hình như vẫn thờ ơ ?

Vọng gì đây, Chúa ơi, Người có đến,
Xin mang nhiều chỉ quà tặng tình yêu.
Tình yêu hôn nhân, tình yêu đôi lứa,
Tình mẹ, tình cha, tình đủ trăm chiều.

Vọng gì đây : chỉ mình ta đáp trả,
Chỉ mình ta san lấp những hố sâu,
Chỉ mình ta trở về mang chứng tá,
Chúa sẽ theo ta trở lại địa cầu !

Lm. Sơn Ca Linh
(Mùa Vọng 2016)



[1] Thơ của Vũ Hoàng Chương : “Em ơi lửa tắt bình khô rượu, đời vắng em rồi vui với ai…”
[2] Tin mừng Matthêô trong CN I MV năm A : “Anh em hãy sẵn sàng, vì giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44)

CHUYỆN KỂ VỀ THẦY !


Hai ngàn năm trước,
Trên những nẻo đường cát bụi xứ Palestina,
Đột nhiên, có đoàn lũ lớn bé trẻ già,
Khố rách áo ôm, nam thanh nữ tú…
Ai nấy trằm trồ, cùng nhau kháo láo :
Có một Vị Thầy,
Từ làng quê Na-da-rét, đích thị Rabbi !


Thầy : tên cúng cơm cha mẹ đặt GIÊSU,
Thầy : nghề thợ mộc, xuất thân hàng lê dân áo vải.
Thầy : Từng lao động với những giọt mồ hôi nhễ nhại,
Thầy : từng chen lẫn giữa đoàn người tội lỗi bước xuống dòng sông.
Thầy : từng quy tụ đám đông,
Để truyền giảng một Tin Mừng mang tên Nước Chúa !
Thầy : từng đem niềm vui cho bao tâm hồn héo úa,
Thầy : đem tin yêu cho những ai thất vọng ê chề !
Thầy : rọi sáng bao tâm hồn lạc lối u mê,
Thầy : trả lành lặn cho bao phận người đui què mẻ sứt…
Thầy : ban sự sống cho ai đang nằm trong cõi chết,
Thầy : đưa về nhà Cha những người con tội lỗi đi hoang.
Thầy : mang nụ cười vui gieo trên mọi ngả đàng,
Thầy : chung chén rượu cưới, bữa cơm gia đình đạm bạc.
Thầy : vui với trẻ em, chữa những người phung cùi, điếc lác,
Thầy : cũng khóc, cũng giận, cũng buồn, cũng vui.
Thầy : luôn xót xa và trăn trở bùi ngùi,
Trước một đàn chiên bơ vơ, lạc loài, đói khát.
Thầy : sẵn sàng chấp nhận trở nên hạt lúa mì mục nát,
Thầy : chọn con đường chết khổ nhục thương đau.
Thầy : muốn học trò noi gương Thầy rửa chân cho nhau,
Thầy : ban tặng : giới răn yêu thương làm luật mới.
Thầy : không để kẻ tin Ngài phải ưu sầu mong đợi,
Thầy : oai hùng từ mố trống đĩnh đạc phục sinh.
Thầy : thắp sáng niềm tin, ban sức sống Thần Linh,
Thầy : ban bình an và ơn cứu độ cho muôn dân thế giới.
Thầy : sai các môn sinh hãy mang Tin Mừng cùng đi tới,
Thầy : hứa sẽ hiện diện mãi mãi cho đến cuối thời gian…



Nhớ về Thầy, hôm nay xin ghi vội đôi hàng,
Như một chút lễ dâng,của tên học trò đã từng được Thầy cho thọ giáo !



                         Lm. Sơn Ca Linh
                         (20/11/2016)


[1] Thơ của Vũ Hoàng Chương : “Em ơi lửa tắt bình khô rượu, đời vắng em rồi vui với ai…”
[2] Tin mừng Matthêô trong CN I MV năm A : “Anh em hãy sẵn sàng, vì giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44)
Được tạo bởi Blogger.