Linh mục Trần Cao Tường sinh năm 1948 tại Chí Tĩnh, Ninh Bình. Năm 1959-1967: Tiểu chủng viện thánh Phaolô Phú Nhuận, Sài Gòn. Tốt nghiệp Triết học và Thần học tại đại chủng viện Urbano và Lateranense, Roma năm 1970 và 1973. Thụ phong linh mục ngày 6 tháng 4 năm 1975; nhập tổng giáo phận New Orleans, Louisiana. Phụ trách cộng đồng Versailles, New Orleans East (1975-1991) và giáo xứ Assumption of Mary, Louisiana (1991-2011); sáng lập Mạng Lưới Dũng Lạc (2005) chủ trương góp tài liệu và gầy dựng Tủ Sách Dũng Lạc xây nhà văn hóa và văn học Công giáo. Qua đời: vào lúc 11g56 sáng Chúa Nhật 21-11-2010.

(Mời xem các bài viết này tại: http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&id=61&page=1)

Khi còn học trung học ở Tiểu chủng viện Phú Nhuận, Trần Cao Tường đã yêu thích văn chương và ước mơ dùng văn chương để giới thiệu Tin mừng cho đồng bào và đồng loại. Trong những năm học Đại chủng viện tại Rôma, ước mơ ấy được định hướng theo tinh thần Công đồng Vaticanô II và được gợi hứng nhiều từ triết lý an vi của Kim Định, rồi 30 năm sau khi làm linh mục, đã được thể hiện qua Mạng Lưới Dũng Lạc (www.dunglac.org). Tại mạng lưới này, ông theo đuổi việc góp tư liệu xây nhà văn hóa và niềm tin.

Qua những bài viết về Hàn Mạc Tử, ông lý giải sự đột biến tài năng Hàn Mạc Tử bằng hai sự kiện:
- Sự biến đổi khác thường nơi những người “trở về từ cõi chết”, theo những quyển sách đúc kết từ lời chứng của những người trong cuộc
- Sự kiện em bé 10 tuổi, lớn lên trong một môi trường xa lạ với Kitô giáo và chưa bao giờ học vẽ, bỗng dưng được ơn soi sáng để vẽ nên những bức tranh thần kỳ. Hơn thế nữa, em còn kể lại những ơn lạ đã nhận được, trong đó có ơn được trực tiếp gặp gỡ Thiên Chúa và được đưa lên thiên đàng.

Thoạt nghe, ta dễ xếp ngay cả hai sự kiện ấy vào những chuyện nhảm nhí. Thế nhưng cả những điều xảy ra nơi một số lãnh vực khác dường như cho lại thấy cuộc sống nhân loại ngày nay đang tiến tới những biên thùy giữa Vô Cùng và Hữu Hạn. Chẳng hạn, các phương tiện truyền thông đang giúp thực hiện điều xưa kia chỉ là ước mơ: chuyện vãn với người ở xa qua cả miệng nói, tai nghe và mắt thấy; việc phát huy nhân điện để sống khỏe và chữa bệnh; những phụ nữ kiên trì mang thai nhiều năm đã sinh những đứa con xinh đẹp và thông minh...
Đang khi Hữu Hạn vươn tới Vô Cùng thì Vô Cùng cũng đang ngỏ lời với Hữu Hạn bằng những sự kiện lạ thường.
Khi viết về “Hàn Mạc Tử và Tôn Giáo” (PCĐ-1, 85-98), giáo sư Phan Cự Đệ đã đọc bài viết của Trần Cao Tường về sự kiện thứ nhất và ghi nhận: “Bài viết của linh mục Dũng Lạc Cao Tường đã mở ra một hướng tiếp cận mới đối với một số hiện tượng tâm linh. Nhưng kết luận của chúng tôi lại khác với những kết luận của vị linh mục Thiên Chúa giáo” (Sđd, tr. 92). Nếu đã đọc cả những bài viết về em bé Akiane, có lẽ vị giáo sư cũng có thêm những ghi nhận khác chăng?
Lm TRĂNG THẬP TỰ

Bài viết này được trích từ bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, linh mục Trăng Thập Tự chủ biên, tập I, trang 363-366.


Trích đoạn bài thơ Ave Maria (Thánh Nữ Đồng Trinh Maria)

Trường ca Hàn Mạc Tử của Phạm Duy được kết bằng một ca khúc vút bay từ cảm hứng “thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu” trong bài Thánh Nữ Đồng Trinh Maria:
Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì!
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang.
Nguyễn Bá Tín trong “Hàn Mạc Tử Anh Tôi” đã cho biết xuất xứ và ý nghĩa của tiếng kêu Phượng Trì:
“Hôm ấy hai anh em chúng tôi đi xem một cuốn phim Tàu “Hỏa Thiêu Lầu Liên Tự. Nội dung là một câu chuyện kiếm hiệp được dựng nên trong bối cảnh vua Càn Long lợi dụng các môn phái võ hiệp để đánh phá ngôi chùa Hồng Liên, một cứ điểm quan trọng nhằm chống lại triều đình Mãn Thanh thời bấy giờ. Xong trận chiến, Cam Phượng Trì, người anh hùng lỗi lạc phái Nga Mi lên đỉnh núi cao, nhìn xuống chiêm ngưỡng chiến công đã đạt. Anh rùng mình khi thấy bao bạn bè anh bị tàn sát. Buồn rầu, anh quay gót phi thân lên ngọn núi, lấy đà, dùng thuật phi hành bay mãi lên cao cho đến khi mất dạng.
Một nữ hiệp là Diệp Tiểu Thanh, vốn yêu mến anh chạy theo tìm. Tiếng nàng gọi: Phượng Trì, Phượng Trì... Phượng Trì, Phượng Trì... vang dội khắp nơi mà con phượng hoàng vĩ đại đó không quay trở lại. Hai tiếng “Phượng Trì” ám ảnh anh Trí một cách kì lạ say đắm đến nỗi đêm sau anh đi một mình xem chiếu lại, anh suýt soa khen ngợi liền mấy hôm. Anh nói: Phượng Trì, cái tên thật tuyệt, nghe như bay lên cao, bay lên cao, hay quá!” (trang 78-79).
“Anh có vẻ rất thích chí khi tìm được hai chữ “Phượng Trì”... lại rất gần gũi với biểu tượng phượng hoàng của anh” (trang 80):
Nhớ khi xưa ta là chim phượng hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất.

Beethoven đã chữa bệnh bằng nhạc cho chính đời mình, biểu trưng qua bản hòa tấu số 6 với tựa đề là “Mục Đồng”. Đang gặp chuyện buồn mà nghe bản Mục Đồng là tự nhiên thấy lòng mình thảnh thơi hẳn ra. Hãy nhập thân làm một mục đồng dẫn đàn chiên ra cánh đồng cỏ, có suối chảy róc rách, tâm hồn thanh thản đầy nhựa sống, bạn bè nhởn nhơ vui vẻ. Dòng nhạc đoạn này thật nhẹ, êm như mây trời, đẹp như bờ hoa dại bên đường.

Nhưng bỗng chốc cơn mây đen ùa tới phủ kín ngột ngạt. Sấm chớp hãi hùng. Tiếng nhạc giật đùng đùng gây ấn tượng sợ hãi như đang bị vất vào cơn giông bão khủng khiếp hết đường thoát.
Vậy mà ở đoạn cuối nhạc lại diễn lên một cảnh thật ngạc nhiên. Bão tự nhiên hết, người mục tử hoàn hồn reo vui ca khúc tạ ơn, như thấy lòng mình mọc cánh bay lên một khung trời mới rộng mở thênh thang.

Thì ra nghệ sĩ là người nhìn thấy diễn tiến ba nhịp trong một vũ khúc cuộc đời. Diễn tiến này khoa chữa bệnh tâm thần cũng đã khám phá ra. Bệnh nhân phải được hướng dẫn “nhớ” lại những lúc sung sướng được ấp ủ yêu thương trong đời mình. Rồi qua giai đoạn hai khó khăn hơn, là phải nhận diện và vật lộn với điều khổ tâm vốn cố tìm cách quên đi. Và giai đoạn cuối cùng là có thể “làm hòa” lại với những đau khổ đó. Qui trình này nhà tâm lý có thế giá bậc nhất thời đại là Karl Jung gọi là “Individuation”, dịch thoát theo từ của Tagore là “thực hiện toàn mãn”.

Hàn Mạc Tử lại là chính hiện thân của diễn tiến cuộc vũ hóa xem ra rất mâu thuẫn này: từ những êm đềm thơ đẹp đến những vật vã cô đơn bệnh cùi, rồi được ơn tác động tìm lại niềm vui như mọc cánh thênh thang, không gì cản trở mình được nữa. Đó là tiến trình mọc lông vũ, mọc cánh.
Vậy thì đây cũng là con đường Việt Nam. Bầm dập khổ lụy chẳng sao hiểu nổi. Nhưng chỉ biết chắc một điều: có một Việt Nam khổ nạn, thì sẽ có một Việt Nam phục sinh, trong một diễn trình lớn hơn. Có một người cùi Hàn Mạc Tử, thì cũng có một thiên tài Hàn Mạc Tử. Đó là mầu nhiệm cuộc sống: cơn khổ nạn sinh thành.
Bệnh nhân phải được hướng dẫn “nhớ” lại những lúc sung sướng được ấp ủ yêu thương trong đời mình. Rồi qua giai đoạn hai khó khăn hơn, là phải nhận diện và vật lộn với điều khổ tâm vốn cố tìm cách quên đi. Và giai đoạn cuối cùng là có thể “làm hòa” lại với những đau khổ đó.

3. Lực vũ hóa


Trường ca Hàn Mạc Tử là một khúc vũ với tiến trình mọc cánh bay lên, hóa giải mọi oan khiên. Đúng là Đường Vượt. Việt có nghĩa là Vượt. Vậy thì trường ca này phải là một Việt Đạo Ca, khúc hát trên Đường Vượt, điệu hò vượt đồi vượt nương những khổ lụy trong cuộc sống, mà cuối cùng là cái chết “đi vào ngàn mai” khi “nghe vang tiếng gọi càn khôn”. Vượt qua bờ hữu hạn sang bờ vô hạn, vượt bờ sinh tử, tử sinh, vượt qua cái tôi nhỏ bé mà vươn tới hòa nhập vào cái “ta” đại thể. Phương thức vượt cần đến cánh chim thiêng. Ngàn mai nào? Tiếng gọi càn khôn nào? Có phải chỉ là một lực hút vũ trụ để tan loãng vào cõi mông lung mờ mịt đáng sợ đến lạnh người, hay là cảm nghiệm được chính Thiên Chúa “Tình Yêu rung động lớp hào quang” như Hàn Mạc Tử đã thấy?

Đau khổ vốn gắn liền với kiếp người như một định mệnh. Có những đau khổ giải quyết được, có những đau khổ không thể giải quyết được. Đau khổ là một phi lí đối với những ai chạy trốn nó. Đau khổ lại là một mầu nhiệm mang ý nghĩa trong tiến trình chung đối với những người có con mắt để mà thấy như Hàn Mạc Tử. Mọi người cũng như Nguyễn Du với khúc Đoạn Trường, dù có “Tân Thanh” hay “Vô Thanh” đều phải nhận:
Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra!

Nơi Hàn Mạc Tử, việc hóa giải thật lạ lùng: được biến đổi do thần lực Tình Yêu mà cũng là cứu cánh cuộc đời. Một khi đã cảm nghiệm thấy Chúa Tình Yêu, thì lạ quá: “mọi cù lao trôi nổi xứ mêng mông, sẽ qui tụ thâu về trong một mối”. Thì ra tình yêu mới là lực vũ hóa, mới là yếu tố then chốt trong lộ trình hóa giải của Hàn Mạc Tử. Tình yêu là thuốc thần và là năng lực thật theo khoa học ngày nay, như Teilhard de Chardin, một nhà thần học mà cũng là một nhà khoa học, đã chứng nghiệm sức mạnh lạ lùng ấy:
“Một ngày kia, sau khi chúng ta đã làm chủ được gió, sóng biển, thủy triều, và trọng lực, chúng ta sẽ khai mở được năng lực của tình yêu; và khi đó, đúng là lần thứ hai con người khám phá ra lửa”.
Con đường vượt này không còn do sức riêng nhỏ bé của mình được nữa, cũng không do bất cứ suy tưởng của đạo này đạo kia do loài người tìm ra, mà phải do chính “nguồn thiêng liêng yêu chuộng”; sức mạnh tình yêu của Chúa “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6).

Lửa tình yêu đã biến đổi Hàn Mạc Tử, đã làm cho Hàn Mạc Tử mọc cánh là chim phượng hoàng theo đúng nghĩa. Đó là một thực chứng. Tình yêu đó được biểu hiện qua Đức Mẹ luôn sẵn sàng cứu giúp khi gặp nguy khó:
Maria, linh hồn tôi ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.
Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn
Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế
Tôi cảm động rưng rưng đôi dòng lệ.

Trong “Hàn Mạc Tử Anh Tôi”, Nguyễn Bá Tín đã cho biết lý do những thay đổi lạ lùng chứa chất nhiều bí ẩn nơi Hàn Mạc Tử:
“Anh Trí là một người bình thường như mọi người, đôi khi còn tầm thường trong những cơn “hỉ, nộ, ái, ố, lạc” trong cuộc đời. Thế nhưng cái gì đã xảy đến, biến đổi anh trở thành khó hiểu như vậy?

Tôi đã từng theo dõi những ham mê, những diễn tiến tâm trạng, những thay đổi tính tình, trong những năm ở gần anh, nên không thể không xem đó là một điều lạ lùng. Theo tôi, biến cố anh suýt chết đuối ở bờ biển Quy Nhơn là yếu tố quyết định cuộc thay đổi ấy. Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn còn sợ hãi vì thấy anh không còn giống anh nữa, anh khác lạ đi với đôi mắt lạc thần. Cảnh tượng đó ám ảnh tôi mãi. Tôi tin anh đã được ơn cứu trợ lạ lùng của Đức Mẹ, và biến cố trên đã ảnh hưởng sâu đậm đến đường hướng sáng tác của anh”.
"Tôi tin anh đã được ơn cứu trợ lạ lùng của Đức Mẹ, và biến cố trên đã ảnh hưởng sâu đậm đến đường hướng sáng tác của anh"

“Khả năng cảm thụ tế nhị trong văn chương, trong âm nhạc đều bắt đầu từ đó, từ lúc anh sống thu hình lại cả tâm hồn lẫn thể xác ngược với những ham muốn dồi dào đã có sẵn từ bẩm sinh. Đang bồng bột nông nổi đầy sức sống, đi từ ham mê này đến ham mê kia, bỗng đột nhiên anh dừng lại, rồi chìm vào một trạng thái đăm chiêu đến xuất thần. Hiện tượng đó đã đến với anh một cách thình lình, như chớp lòa sáng chói, khiến anh ngất đi, ngơ ngác mù mịt, để rồi biến cải anh hoàn toàn” (trang 113-114).
Tìm đường vượt, hóa giải oan khiên..., Phạm Duy đã từ đạo ca vượt tới thiền ca. Rồi từ thiền ca vượt tới Trường ca Hàn Mạc Tử, hát thánh ca trên đường về cõi ánh sáng muôn năm. Ông Trần Văn Ân đã nhận xét về tác phẩm này: “Phạm Duy đã vượt Phạm Duy về mọi mặt, nội dung, chủ đề, hình thức, nhạc thuật. Trường ca Hàn Mạc Tử là biểu kiến của Phạm Duy về cuộc đời, về đất nước, về tình yêu, về con người và về Thượng Đế. Nó là một lựa chọn phù hợp nhất, mãnh liệt nhất. Phạm Duy mượn Hàn Mạc Tử để nói lên cái đau khổ tột cùng của một kiếp người... mà chỉ có Đạo, chỉ có Thượng Đế mới cứu rỗi được thôi”. “Vào lúc xế chiều của cuộc đời, Phạm Duy mới dành cả một trường ca để xưng tụng một thi sĩ lỗi lạc, đồng thời cũng là để vinh danh Thiên Chúa. Như vậy là con người nghệ sĩ mà ai cũng tưởng là vô đạo, đã từng vào nhạc với tiếng chuông chùa, nay lại muốn đóng lại sự nghiệp của mình bằng tiếng chuông nhà thờ và bằng những lời ca vinh danh Đức Mẹ Maria” (Người Việt ngày 7 tháng 12-1993).

Đối với nhạc sĩ Phạm Duy, thì hình ảnh Đức Maria “Bà rất nhiều phép lạ” thật dễ cảm và thật gần gũi.

Người ngoại quốc thường nhận rằng người Việt mình có lòng sùng kính Đức Mẹ Maria một cách đặc biệt, có thể vì trong tiềm thức đã có sẵn hình ảnh chim Âu tổ mẫu bay suốt dọc dài lịch sử. Đức Maria là biểu hiện của tình yêu Thiên Chúa, là hiện thân nguồn “ánh sáng muôn năm”, là chim tiên, chim “Phượng Trì” theo ngôn ngữ riêng của Hàn Mạc Tử trong hình ảnh Đức Mẹ Bay Lên Trời.

Ba bài cuối của Trường Ca Hàn Mạc Tử là những khúc “nhạc thiêng liêng” nâng hồn những đứa con được “no rồi ơn vũ lộ hòa chan”, thành “thánh thể kết tinh”, có thể vượt thoát vòng hệ lụy nghiệt ngã mà bay bổng vào cõi “ngời chói vạn hào quang”:
Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
Không u tối như cõi lòng ma quỉ
Vì có Đấng Hằng Sống hằng ngự trị
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp u linh.
Trong “Hàn Mạc Tử Anh Tôi”, Ông Nguyễn Bá Tín đã nhận ra nguồn cảm hứng của anh mình phát sinh từ lòng Đức Maria là chính Ngôi Hai Thiên Chúa ra đời:
Hỡi sứ thần Thiên Chúa Gabriel
Khi Người xuống truyền tin cho Thánh Nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?
Người có nghe náo động cả muôn trời?
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca tụng bằng hương hoa sáng láng
Bằng tràng hạt bằng sao mai chiếu rạng
Một đêm xuân là rất đỗi anh linh.
“Anh nguyện được tâm tư trong sáng để lời thơ biến thành “muôn kinh trọng thể”:
Đây rồi, đây rồi, chuỗi ngọc vàng kinh
Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý
... .

Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước
Cho tình tôi nguyên vẹn tựa trăng rằm
Thơ trong trắng như một khối băng tâm
Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu.
Ave Maria! Reo như châu ngọc, thơm tho như hoa hương, sáng láng như thất bảo, làm xôn xao tinh tú, náo động muôn trời và vạn vật. Ave Maria! Nguồn vô tận mà “Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu”. Chưa bao giờ anh biểu lộ được hết tiên phong đạo cốt như trong bài Ave Maria. Anh nói đó là bài thơ đắc ý nhất trong cuộc đời anh” (trang 83).
Ước vọng bay vượt thoát lên khỏi hiện trạng nghiệt ngã vốn nằm trong tiềm thức chung của nhân loại. Ai mà chẳng một lần mơ thấy mình đang bay. Đặc biệt hình ảnh này nằm trong máu người Việt với truyện thiêng chim Tiên đẻ ra một trăm trứng nở ra một đàn chim con. Mẹ là chim thì các con cũng là chim. Những đứa con này cũng tập bay theo mẹ lên núi, mà đứa con điển hình là chú bé làng Phù Đổng bay lên núi Sóc Sơn.

Tín điều Đức Mẹ hồn xác Lên Trời với lễ mừng ngày 15 tháng 8 là một tôn vinh cao độ đối với Đức Maria từ thân xác con người hữu hạn có thể vươn lên vô hạn. Đó cũng là lễ xác quyết phẩm giá con người vốn có thể bay lên như chim phượng là một biểu tượng, mà khoa uyên tâm học ngày nay đang tìm cách khai triển. Đây mới là nhân bản đúng nghĩa, chứ sao lại đi phân thây uống máu nhau để bắt cho bằng được nhận mình là con vật tranh mồi: “người là con vật kinh tế!”

Lòng sùng kính Đức Mẹ trong nghĩa này cũng chính là lòng xác quyết về chính mình (self-image). Lòng sùng kính Đức Mẹ là một trong những nét nổi nhất của truyền thống Công giáo Việt Nam, qua chứng tích của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam với thánh Dũng Lạc là con chim đầu đàn. Không vị nào mà không được nhắc đến việc cầm tràng chuỗi trong tay trong nhà tù cũng như khi ra pháp trường. Vì chắc chắn:
Đây rồi, đây rồi, chuỗi ngọc vàng kinh
Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý.
như Hàn Mạc Tử cảm nghiệm, làm phương cách giúp mọc cánh bay lên được theo chim mẹ.

Thánh Lê Bảo Tịnh đã nói: “Đức Mẹ chẳng có thể chuộc tội cho ta được, song những ơn Chúa ban cho ta thì lại qua tay Đức Mẹ... Ai kính mến Đức Mẹ thật lòng thì Đức Mẹ sẽ mở lòng cho người ấy kính mến Đức Chúa Trời nữa”.


“Đức Mẹ chẳng có thể chuộc tội cho ta được, song những ơn Chúa ban cho ta thì lại qua tay Đức Mẹ... Ai kính mến Đức Mẹ thật lòng thì Đức Mẹ sẽ mở lòng cho người ấy kính mến Đức Chúa Trời nữa”. - Thánh Lê Bảo Tịnh

Thi hào Eliot đã để đời một lời thơ: “Ở cuối lộ trình, con người khám phá ra chỗ khởi đầu”.

Lộ trình vũ hóa của Trường Ca Hàn Mạc Tử không phải là một thứ thuốc mê an thần cho quên đi đau khổ của mình và trốn thoát trách nhiệm liên đới đồng loại, nhưng là mở ra một cuộc hành trình mới, bước vào cuộc sống với con mắt được khai mở: bỗng thấy Chúa hiện diện yêu thương qua mọi bước chân như hai môn đệ trên đường Emmaus. Ngài cũng đã và đang đi những bước như vậy trong cuộc sống mỗi người: “Đức Kitô đã chẳng phải trải qua như vậy rồi mới được vinh quang sao?” (Luca 24, 26). Mắt sáng lên hân hoan, trở lại báo tin mừng cho anh em mình: “Thầy đã sống lại và đang ở giữa chúng ta”. Bằng con mắt nghệ sĩ đích thực, bằng con mắt đức tin, bằng con mắt tình yêu được khai mở, Hàn Mạc Tử đã thấy Chúa có mặt tỏ bày tình yêu và “giải nghĩa yêu” qua mọi sự, dưới đáy nước hồ reo, qua tơ liễu run trong gió...
Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu...
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió,
Và để xem Trời giải nghĩa yêu.

Hàn Mạc Tử đã thấy được mọi cảnh vật, dù rất tầm thường, đều mang hương vị kỳ diệu như những phép lạ: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, Vườn ai mướt quá xanh như ngọc...” Chính nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã nhận ra: “Tất cả đều phải rất mượt mà, rất đậm đà, rất ngọc ngà... dù áo em chỉ là áo trắng, hoa đây chỉ là hoa bắp... Bởi vì thi sĩ Hàn Mạc Tử đã thấy Đạo ở tất cả, ở đáy nước hồ reo, và nhất là ở tình yêu...”

Đúng rồi, Trời đang giải nghĩa yêu qua mọi sự... dù là cùi, dù là mồ thối. Ngài đã sống lại và đang hiện ra: “Thầy đây, anh em đừng sợ... Bình an cho anh em... Các môn đệ vui mừng vì trông thấy Chúa”.
Phút thiêng liêng đã khởi đầu. Nào chúng ta cùng lên đường với trường ca vật lộn và phép vượt nhiệm mầu.

Lm DŨNG LẠC TRẦN CAO TƯỜNG


Bài viết này được trích từ bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, linh mục Trăng Thập Tự chủ biên, tập I, trang 391-399.



Cảnh thiên đàng do Akiane vẽ

Từ lúc 6 tuổi cô bé Akiane Kramarik đã làm cho nhiều người kinh ngạc với những bức tranh rất lạ. Người ta đã mua bức tranh đầu tiên của cô bé này với giá 10 ngàn Mỹ kim, rồi bức kế tiếp là 25 ngàn, 55 ngàn, và bây giờ thì ít nhất cũng từ 100 ngàn tới 1 triệu Mỹ kim. Tiền này dành hẳn cho việc giúp đỡ các trẻ em nghèo đói trên thế giới.

Bé Akiane đã đánh động nhiều người kéo theo sự chú ý từ nhiều phía. Lúc 10 tuổi, bé đã được mời lên chương trình Oprah, ABC, CBS, Fox, và 11 tuổi thì đài Tivi CNN phỏng vấn với một tiết mục đặc biệt. Cho đến hôm nay thì quả là bé Akiane đã trở thành một hiện tượng lạ, được biết bao báo chí và chương trình nói tới.

Akiane Kramarik sinh ngày 9 tháng 7 năm 1994 tại bang Illinois nước Mỹ, nhưng đã từng theo gia đình di chuyển qua Missouri, Colorado, Idaho. Ba của bé là người gốc Nga, vốn là người Công giáo nhưng không bao giờ giữ đạo. Mẹ gốc người Lithuania, là một người vô thần đặc sệt, không tin có Thiên Chúa. Chính cô bé cho biết: “Gia đình con không có gì liên quan tới Thiên Chúa cả, không ai biết cầu nguyện hay đi nhà thờ bao giờ”.

Cái khác thường của gia đình này là không cho con cái đi đến trường, mà chỉ dạy tại gia, và cũng không chơi với ai. Trong nhà thì không có Tivi. Vì thế bé Akiane làm gì có cơ hội học vẽ.
Lúc bé Akiane lên 4 tuổi thì một chuyện lạ xảy ra. Tự nhiên xuất hiện trong tâm trí bé chữ Thiên Chúa mà chưa bao giờ bé nghe biết bởi bất cứ nguồn nào. Bé kể lại: “Con bắt đầu tìm hiểu xem chữ đó có nghĩa gì hay là ai. Con thấy chữ đó thật kỳ diệu và quyền năng. Thì chính hôm sau con được gặp Chúa. Ngài chỉ cho con thấy thiên đàng. Thiên đàng đẹp lắm, và Chúa bắt đầu nói chuyện với con, về những chuyện tương lai đời con và gia đình con. Và con biết được rằng Đấng thần thiêng này thật vĩ đại nên con đã muốn nói cho người ta biết về việc này. Và Chúa bắt đầu dạy con vẽ. Chúa cho con ơn vẽ tranh nghệ thuật. Và với số tiền bán tranh do con vẽ, con sẽ giúp người nghèo đói cũng như các trẻ em trên thế giới”

         Trong thời gian gia đình chuyển tới bang Missouri thì một hôm tự nhiên cả nhà náo loạn kinh hoàng vì bé Akiane bỗng dưng biến mất. Bà mẹ hốt hoảng đã gọi cảnh sát, FBI... và người ta đã huy động lính tráng đủ loại để đi tìm bé. Đây là lần bé được bàn tay Chúa nhấc lên đưa lên thiên đàng.
“Trên đó con thấy nhiều thứ lắm, như là đi vào thường hằng. Mà con chỉ tả được một phần triệu thôi. Cảnh trí, thác nước tuyệt vời không có trên trái đất. Có nhiều màu sắc chúng ta chưa biết đến. Chúng ta chỉ có màu xanh, màu hồng, màu đen... Các màu ở thiên đàng thì khác hoàn toàn, rất tươi sáng và tương phản. Hoa thì đẹp lắm, trong sáng như pha lê... Con được đưa lên trời chỉ có vài giờ thôi mà có cảm tưởng như cả đời ở đó rồi. Mấy giờ đó con thực sự biến mất. Đang khi mọi người hốt hoảng tìm con thì một chỗ mở ra nơi cửa và con bước ra. Mẹ con không tin nổi là con đang bước tới. Mẹ nhìn con sửng sốt và òa khóc: “Từ nãy đến giờ con đi đâu?” Con nói “Con ở một chỗ nào đó mà sao mẹ tìm con làm gì?” Con nhìn thấy toàn cảnh sát và binh lính không à. “Mẹ à, con chỉ đi có vài giờ thôi mà. Con ở với Chúa trên thiên đàng, có gì mà ghê gớm vậy!” Lúc đó mẹ con cũng chưa tin nổi. Bà chưa muốn tin. Nhưng rồi bà bắt đầu kể những chuyện này...

“Có một thị kiến Chúa cho con thấy một cuộn sách bằng ánh sáng và trong đó đầy chim bay ra. Mỗi lần đọc thì có cả triệu ý nghĩa hiện ra. Cuộn sách trải ra vô tận, nhưng chỉ cần vài giây là con đọc hết. Con đã kể cho mẹ để mẹ ghi lại về cuộn sách ánh sáng này. Mẹ ghi ra độ lớn độ rộng cuộn sách. Con không nhớ nổi, nhưng thật kỳ diệu... con sẽ giữ mãi trong lòng”.

 “Con chỉ vẽ những gì đã thấy trên thiên đàng. Chúa dạy con vẽ. Mỗi ngày con thức dậy lúc 4 giờ sáng, xuống lầu và sau đó bắt đầu vẽ. Lúc đầu thường con không có ý tưởng gì về bức tranh sẽ vẽ ra sao, nhưng khi nặn màu sơn lên bảng pha màu rồi cầm cây cọ chấm vào sơn, và chính lúc con sửa soạn phết lên khung vải thì rất nhiều ý tưởng hiện ra trong tâm trí... Và Chúa như vẽ qua con. Con cảm thấy như vậy. Mỗi ngày con vẽ khoảng 5 tiếng, mỗi tuần 6 ngày”.

Khi bé lên 7 tuổi thì Chúa cho bé một tài năng khác nữa là làm thơ. Những ý tưởng cứ trào ra trong đầu bé viết ra không kịp. Bé phải nhờ anh và mẹ ghi viết ra giúp, vì họ viết nhanh. Có nhiều điều chính bé cũng chẳng hiểu. Cứ viết mà chẳng kịp suy nghĩ. Đây là hai món quà Chúa cho để bé có thể chia sẻ với người khác.
Tôi dạy dỗ thì người ta chạy trốn
Tôi lắng nghe thì người ta đến gần.
Sức mạnh của tôi là sự tĩnh lặng.
 I teach and they run away.
 I listen and they come.
 My strength is my silence.

Akiane với bức tranh Thung Lũng Thiên Đàng


Bé Akiane kể tiếp: “Con đã gặp Chúa, và thấy Chúa là Ánh Sáng, thân tình và hiền hậu (God is Light, warm and good). Ngài biết mọi sự và nói chuyện với con như một người cha. Lần đầu tiên gặp, Ngài sáng như mặt trời, nhưng con nhìn mà không bị lóa mắt. Và sau này khi lớn hơn lên, hình thể Ngài cũng rõ dần, rõ dần. Khi con lớn hơn nữa, Ngài tỏ cho con thấy rõ hơn nữa. Mỗi lần nhìn Ngài, con lại được thêm thần hứng sáng tác. Đôi mắt Ngài chỉ dẫn con vẽ và luôn tạo cảm hứng. Hình dáng Chúa đầy ánh sáng. Con thấy mắt Ngài thật quyền năng. Tuyệt vời”.

Có người xin bé kể lại giấc mơ này. Bé trả lời: “Đó không phải là mơ, mà là thật” (It was not a dream, it was real).
Bây giờ thì cả gia đình của bé Akiane đã tìm được Chúa và yêu đạo Chúa lắm, và biết thế nào là cầu nguyện, là chuyện trò với Chúa, là được mở vào cõi sáng để được sáng lên trong tâm, trong trí. Họ nghỉ chơi với cái trò vô thần lẩm cẩm nhảm nhí!

Thiên Chúa không còn là một ý tưởng trừu tượng, một suy diễn triết học, một số giáo lý phải học, một số điều phải tin, một số luật lệ phải giữ, một số nghi thức phải theo, nhưng là một ngôi vị ánh sáng tình thương, sống động thân tình gần gũi, gây tác động cảm hứng tâm linh, thay đổi nhãn quan cả một đời người. [...]

Thiên Chúa đã tỏ lộ trong Kinh thánh từ lâu điều mà bé Akiane mới được thấy. Chúa là Tình Thương, là Ánh Sáng.
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời... Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa” (Ga 3,16, 19-21).

The Light-Bearers (Những Người Mang Ánh Sáng)

Diễn tả 5 loại người nhận ánh sáng: một loại trốn chạy ngay dù với cả nguy hiểm; một loại chỉ biết tìm mồi trước mắt; một loại chỉ biết đánh nhau. Hai mẹ con cũng nhận ánh sáng nhưng còn để bóng tối bủa vây. Duy có một loại ngay trước thác nước đầy ánh sáng biết ngẩng đầu cao đón nhận với niềm sinh thú ngút ngàn.

Lúc này đời mình cũng nhiều bóng tối lắm. Tà lực lấn tới từ bên ngoài. Tà lực hoành hành từ bên trong. Nhiều lúc mình như bị lạc vào mê hồn trận bát quái đồ không sao tìm được lối thoát. Mình cũng đâu dễ dàng đẩy xa được bóng tối. Vậy giờ đây, mình cần để cho ánh sáng tràn vào thì bóng tối tức khắc bị đẩy lui.
Qua cảm nghiệm của bé Akiane thì Chúa chính là ánh sáng tình thương, có thực và sống động, chứ không phải là một hình ảnh lờ mờ hay một ý tưởng niềm tin mơ hồ nào! Lúc này với con mắt đức tin tôi cũng đang thấy Chúa hiện diện nơi đây, sáng lòa choáng ngợp như bé Akiane đã gặp. Chúa ở khắp mọi nơi mà. Chính lúc này con mắt thứ ba của tôi được mở ra. Vì Chúa nói rất rõ: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Bé Akiane đã từng nhận xét: “Ý nghĩa thực sự đàng sau những bức tranh vẽ là dù chúng ta là gì chăng nữa, hay được cắm trong những bình mắc tiền, nhưng nếu không có ánh sáng thì chúng ta bị héo liền”.
Vâng con tin chắc chắn đúng như lời Chúa xác định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được sự sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12).

Con tạ ơn Chúa, con chúc tụng Chúa, vì Chúa đang hiện diện với con lúc này, ánh sáng tình thương của Chúa đang bao phủ con, chiếu sáng trên con, và tâm trí con cũng đang được chữa lành sáng tươi rạng rỡ lên.

http://www.dunglac.info/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=61&ia=6758

Bài viết này được trích từ bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, linh mục Trăng Thập Tự chủ biên, tập I, trang 383-390.


Ghi chú của BBT: Quý độc giả có thể xem một số tác phẩm của Akiane tại đây.

Akiane đang vẽ bức Mother's Love

Được tạo bởi Blogger.