Lặng nghe chuông đổ mỗi chiều
Lá vàng tuôn rụng hắt hiu vườn nhà
Tiếng chuông trong gió ngân nga
Âm thanh rút ngắn đời ta dần dần

Rồi đây chuông vẫn còn ngân
Thân em khuất dạng khỏi sân khấu đời
Tìm về với Chúa em ơi!
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 181)

Có một mùa thu, thu rất thu
Mưa gió….hanh hao đẫm sa mù
Mẹ hỡi chính là mùa thu ấy
Khi mẹ lìa đời, con khóc hu
Con thấy cô đơn lạnh cuộc đời
Ra vào vắng mẹ lệ ròng rơi
Mùa thu từ đó ôi sầu thảm
Như tiếng vạc kêu cuối chân trời
Rồi cũng mùa thu con ly hương
Lá vàng theo gió bay bốn phương
Mây sầu giăng mắc lòng lãng tử
Chiếc én chân trời phận thảm thương….

Mẹ hỡi bao giờ cho hết thu?
Hết gió, hết mưa, hết sa mù?
Để dòng thơ con thôi sầu thảm
Con tóc bạc rồi, mẹ ở mô?
Mẹ trách con rằng: hỏi vẩn vơ
Mẹ ở trên trời chứ ở mô
Con ơi, hãy nhìn về phương ấy
Rồi hãy cầu nguyện để làm thơ:
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 180-181)

Buồn lòng không, hỡi người trinh nữ
Chờ đón tân lang trễ một giờ
(Mt 25, 1-3)
Ai có đêm nay nghe tiếng khóc
Năm người trinh nữ đứng bơ vơ
Sương trời ướt cả mùi son phấn
Lỡ chuyện trăm năm chậm một giờ
Ai có đêm nay nghe tiếng khóc
Giá buốt một trời gió mênh mông

Năm người trinh nữ buồn run rẩy
Xiêm áo không che nỗi lạnh lùng
Ai có đêm nay nghe tiếng khóc
Sượng sùng trinh nữ đứng cô đơn
Lá rụng cành gầy cơn gió lốc
Tan tành giấc mộng tối tân hôn
Ai có đêm nay nghe tiếng khóc
Mịt mù canh vắng dế giun than
Năm người trinh nữ buồn lai láng
Văng vẳng từ xa có tiếng đàn
Văng vẳng từ xa có tiếng đàn
Ôi còn đâu nữa bóng tân lang
Năm người trinh nữ sầu tuyệt vọng
Cửa đóng then cài… bước lang thang
Cửa đóng then cài… bước lang thang
Ôm đèn không đỏ dạ mang mang
Đường khuya trở gót lòng hiu quạnh
Dầu mỡ than ôi, chuyện đá vàng
Dầu mỡ than ôi, chuyện đá vàng
Biết chăng chẳng biết chàng hỡi chàng
Ai vào phòng tiệc xin nhắn gởi
Có kẻ ngoài này đứng khóc than.
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 179-180)


ĐỌC “TÔI NẰM XUỐNG”, THƠ XUÂN LY BĂNG


Một trăm bài thơ nói về sự chết thì một trăm bài thơ bi quan, cho dầu có bài thơ nói đến sự phiêu diêu miền cực lạc, hoà nhập với trăng sao nhưng lại xem thế gian là nơi đầy đau buồn mà mình vừa trút bỏ. Lần đầu tiên tôi đọc một bài thơ diễn tả cõi sống và cõi chết đều tràn lan niềm vui. Nhà thơ Xuân Ly Băng đã siêu thoát ngay tại thế gian nầy trong bài thơ “Tôi nằm xuống”, một bài thơ nói về sự chết mà không có tiếng chuông báo tử, không có tiếng mõ cầu siêu, không có tiếng khóc thút thít nhưng cả thế gian có ánh sáng, có màu sắc, có âm thanh rộn ràng, tích cực và tươi thắm, khiến cho người nằm xuống như khởi hành một chuyến viễn du đầy hạnh phúc tại nơi đi và đầy nguồn vui tại nơi đến.




Bài thơ có 13 khổ thơ, mỗi khổ đều có cụm từ “Tôi nằm xuống” ở mỗi câu đầu. Lần lượt 13 câu đầu của mỗi khổ thơ như sau:

- Tôi nằm xuống, quả đất vẫn quay đều
- Tôi nằm xuống, hoa vẫn nở bốn mùa
- Tôi nằm xuống, vẫn tiếng hót chim trời
- Tôi nằm xuống màu, biển xanh cứ xanh
- Tôi nằm xuống Hòn bà vẫn hiên ngang
- Tôi nằm xuống, vẫn cuồn cuộn dòng sông
- Tôi nằm xuống, lịch sử cứ vận hành
- Tôi nằm xuống con trẻ cư sinh ra
- Tôi nằm xuông vẫn chảy dòng sông Dinh
- Tôi nằm xuống vẫn uốn khúc Li Li
- Tôi nằm xuống chuông vẫn vọng thánh đường
- Tôi nằm xuống có ai khóc thương tôi?
- Tôi nằm xuống cuộc đời vẫn cứ đi

Như thế nghĩa là khi tác giả nằm xuống, thiên nhiên và con người vẫn bình thản, cái đẹp mà thượng đế dựng lên vẫn không hề suy suyễn. Tiếp theo câu thơ có cụm từ “Tôi nằm xuống”, những câu thơ sau đó trong 13 khổ thơ đều bày tỏ sức sống tự nhiên, hài hoà, trường tồn trong vạn vật và trong sinh hoạt của con người. Cho dầu có khi “Tôi Nằm Xuống” thế gian có biến động tiêu cực đối với niềm vui, đối với nguồn hạnh phúc thì vẫn là sự bình thường:

Tôi nằm xuống, lịch sử cứ vận hành.
Hết hòa bình thời lại đến chiến tranh.
Ngai tòa sụp đổ, ngai tòa dựng.
Lãnh thổ theo thời đổi lằn ranh.

Tôi nằm xuống con trẻ cứ sinh ra.
Đẩy về đất lạnh lớp người già.
Hỗn loạn tiếng cười chen tiếng khóc.
Xe tang đụng độ với xe hoa.

Trong cái nhìn bình thản vượt trên sự bình thường của một người đã chứng được lẽ cao siêu của “Đạo”, nhà thơ cho rằng mọi sự đều ở ngoài tôi. Bằng một câu thơ rất bình dị, nhà thơ đã bày tỏ lẽ huyền vi ấy trong quan niệm đạo, đời bằng câu thơ: “Tôi có hay không, chẳng hệ gì” trong một vế thơ sau.

Nhiều nhà thơ, kể cả những nhà thơ tôn thờ Đức Chúa Trời đều cho thế gian nầy là đau khổ. Họ thường hướng về một thế giới trên cao mà quên đi thế giới hiện tại với những niềm vui mà Thượng Đế đã ban cho họ. Đọc “Tôi Nằm Xuống” của Xuân Ly Băng ta thấy thế giới tồn tại một cách tự nhiên, trung tính đối với cuộc đời con người. Thương đế tạo ra quả đất nầy để “quay đều” để “hoa nở” để “ chim hót” để “biển xanh” cho con người sống và kể cả cho con người khi chết. Bài thơ không có lời tôn vinh Thượng Đế nhưng những hình ảnh tươi thắm của thế giới khi “tôi nằm xuống” rất tự nhiên như vô tình lan tràn vào hồn ta hương vị của một bản Thánh ca tôn vinh đấng Sáng Tạo.

Ở khổ thơ đầu, tiếp theo cụm từ “Tôi nằm xuống”, tác giả nói về sự vận hành của thiên nhiên vẫn cứ thế khi “tôi nằm xuống”:

Tôi nằm xuống quả đất vẫn quay đều.
Mặt trời lên xuống, mỗi sáng chiều.
Trăng tròn trăng khuyết, theo ngày tháng.
Lãng đãng mây trời gió đìu hiu

Tiếp những khổ thơ sau, nhà thơ nói nhiều đến sự tồn tại của đời sống thế gian và sự tồn tại của cuộc sống nơi địa phương mình đang ở. Tất cả điều mà nhà thơ mô tả hàm chứa một ý nghĩa của sự tươi thắm của thế gian đã có, hiện có và sẽ còn có sau khi tôi nằm xuống. Sự “Tôi Nằm xuống” của con người trong thơ hoá ra bình thản biết bao, êm đềm biết bao và an nhiên biết bao trong khi thiên nhiên và con người vẫn vận hành êm ái như bàn tay yêu thương vổ về người đi, người ở. Bài thơ làm cho tâm linh con người trút cái gọi là “khổ đế” ngay khi đang sống, nhìn thế gian đươi con mắt thiện cảm, để khi “tôi nằm xuống” thì lìa thế gian như rời một ngôi nhà thân yêu để đi đến một lâu đài hạnh phúc mà Thương Đế dành cho mình. Lâu đài đó nằm trong khổ thơ cuối của bài thơ:

Tôi nằm xuống cuộc đời vẫn cứ đi.
Tôi có hay không ? chẳng hệ gì.
Cái có của tôi: là Đức Mến .
Về cõi Vĩnh Hằng dẫn tôi đi.

Đức Mến là ai? Thiển nghĩ trên đời có nhiều tôn giáo, mỗi người thờ một Đức Mến của mình. Vậy có thể hiểu chung Đức Mến là Đấng Tối cao, đấng đưa ta đến hạnh phúc, cho ta sự bình an đến nỗi “Dầu ta đi trong trủng bóng chết, ta cũng chẳng sợ gì vì Đức Mến ở cùng ta”. Sung sướng cho ai nói như Xuân Ly Băng “Cái có của tôi: là Đức Mến”.

Nhà bình thơ Châu Thạch

Đọc “Tôi Nằm Xuống”, bài thơ nói về sự chết mà không chết. Toàn bộ bài thơ là sự sống, một sự sống không có chút bi quan nào. Mọi sự sinh hoạt trong cuộc đời được nhà thơ diễn tả tự nhiên và trường tồn y như trong bàn tay tể trị của đấng tối cao. Bài thơ đem đến cho ta lạc quan, cho ta ngắm cuộc đời bằng con mắt lìa tục, giải thoát ngay ở đời nầy và hướng về đời sau bằng sự tin yêu một cõi Vĩnh Hằng ./.




TÔI NẰM XUỐNG


Tôi nằm xuống quả đất vẫn quay đều.
Mặt trời lên xuống, mỗi sáng chiều.
Trăng tròn trăng khuyết, theo ngày tháng.
Lãng đãng mây trời gió đìu hiu.

Tôi nằm xuống, hoa vẫn nở bốn mùa.
Ngát tỏa hương trời, theo gió đưa.
Rực rỡ bướm tiên, phô màu sắc.
Sau trời đổ nắng, trời lại mưa.

Tôi nằm xuống, vẫn tiếng hót chim trời.
Nhí nhảnh trên cành, mỗi sáng mai.
Sương đọng cành khuya, như giàn ngọc.
Tí tách trong vườn, từng giọt rơi.

Tôi nằm xuống, màu biển xanh cứ xanh.
Trăm muôn đợt sóng, vẫn tung hoành.
Thủy triều lên xuống, là con nước.
Dã tràng xe cát, vẫn đều nhanh.

Tôi nằm xuống Hòn Bà vẫn hiên ngang.
Đội trời đạp nước, giữa đại dương.
Núi Cú trầm hùng nhìn âu yếm.
Một vùng Bình Thuận một Hàm Tân.

Tôi nằm xuống, vẫn cuồn cuộn dòng sông.
Dẫn nước bao la, tưới ruộng đồng.
Núi rừng còn đó, cây xanh biếc.
Quang cảnh thiên nhiên đẹp lạ lùng.

Tôi nằm xuống, lịch sử cứ vận hành.
Hết hòa bình thời lại đến chiến tranh.
Ngai tòa sụp đổ, ngai tòa dựng.
Lãnh thổ theo thời đổi lằn ranh.

Tôi nằm xuống con trẻ cứ sinh ra.
Đẩy về đất lạnh lớp người già.
Hỗn loạn tiếng cười chen tiếng khóc.
Xe tang đụng độ với xe hoa.

Tôi nằm xuống vẫn chảy dòng sông Dinh.
Bãi bến nhấp nhô lắm thuyền mành.
Phố thị La Gi thừa tấp nập.
Màu sắc âm thanh đủ loại hình.

Tôi nằm xuống vẫn uốn khúc Li Li.
Nối vùng Tân thiện với La Gi.
Gió mát bốn mùa lâng lâng thổi.
Đàn cò bay đến lại bay đi.

Tôi nằm xuống chuông vẫn vọng thánh đường.
Mỗi ngày hai buổi sáng chiều buông.
Chuông chùa Quảng Đức thỉnh đêm lạnh.
Gọi về cõi đạo, khách bốn phương.

Tôi nằm xuống có ai khóc thương tôi ?
Không khóc thì thiếu, khóc thừa thôi !
Thương xót làm chi, lộ trình ấy.
Mọi người sớm muộn phải qua rồi !

Tôi nằm xuống cuộc đời vẫn cứ đi.
Tôi có hay không? Chẳng hệ gì.
Cái có của tôi: là Đức Mến .
Về cõi Vĩnh Hằng dẫn tôi đi.

Xuân Ly Băng

Đêm nay Noel về
Hồn hỡi lắng tai nghe
Đàn muôn cung réo rắt
Dồn dập khắp sơn khê
Đêm nay Hài Đồng đến
Đem hoan lạc trời cao
Đêm nay thơ kính mến
Sẽ say ngã lao đao
Ôi Noel đêm trời nhiệm mầu
Rượu nồng ta không nếm
Sao lòng trí ngất ngư?
Ta say muôn ánh nến
Ngời rạng vạn hào quang

Ta say tiếng chuông vàng
Trong gió trời hổn hển
Từng trận đổ vang vang…
Ta say muôn lời kính
Thơm như hoa thiên đình
Êm như dòng suối nhạc
Đẹp như lệ đồng trinh
Ôi Noel! Đêm trời nhiệm mầu
Nhạc an hòa, thơ kính mến
Hương phượng thờ đang ngào ngạt dâng lên
Ban cho lòng người đau khổ trần gian
Hiểu ý nghĩa Noel miền cao cả.
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 178-179)

Mẹ cho con một mảng chiều
Có mây giăng tím chở nhiều nhớ nhung
Có đàn sáo lượn bên sông
Lưng trâu có chú mục đồng thổi tiêu
Hoàng hôn lá rụng thật nhiều
Khói lam tỏa nhạt xóm nghèo bơ vơ

Mẹ cho con một trời thơ
Trong chuông nhật một nhà thờ xa xa.
(Trích, Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 178)


Đàn lòng kết bởi muôn dây
Nhưng dây hạnh phúc còn gầy đàn ơi
Đêm đêm hướng mắt lên trời
Ôm đàn ta khóc mãi đời trích tiên
Đàn ta sầu thảm ưu phiền
Nghẹn ngào nức nở nhớ miền Trời xa
Trời xa mới chính quê ta
Muôn muôn hạnh phúc bao la phỉ nguyền

Suối thơ rừng nhạc vô biên
Trăng thanh bình tỏa sáng miền ái ân
Muôn hoa cỏ lạ vô ngần
Sắc hương ngào ngạt tuyệt trần thanh cao
Lưu ly đàn khóc nghẹn ngào
Sầu nơi dương thế ngày nào mới vơi
Kiếp đày ải chốn xa vời
Chìm trong bể khổ lệ đời mênh mang
Ai xin tôi một cung đàn
Đàn tôi viễn xứ muôn vàn chua cay
Vì đàn kết bởi muôn dây
Nhưng dây hạnh phúc còn gầy đàn ơi
Đêm đêm khóc nước trên trời.
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 177-78)


Đi vào miền cô tịch
Hái bông hoa tình yêu
Lượm những viên ngọc bích
Có khắc tên người yêu
Người yêu trên mây trời
Dù ta không thấy rõ
Người yêu trong ngọn gió
Dù chẳng động cành cây
Người yêu trong tiếng chim
Dù chim bay về núi
Em chẳng phải đi tìm

Hơi người còn nóng hổi
Người yêu trong hoa rơi
Người yêu trong lá đổ
Người yêu dưới chân trời
Người yêu trong cửa sổ
Hãy vào miền cô tịch
Hái bông hoa tình yêu
Mặc tình em thỏa thích
Chỉ có yêu và yêu.
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 176-177)





















Thời gian vào sa mạc
Sỏi đá hóa tâm tình
Hoa cỏ mặc tâm linh
Mây trời ca tình tự
Mưa rơi toàn ân tứ
Gió thổi rặt tình yêu
Từ sáng tới ban chiều
Không gian đầy thánh sủng

Ai bước vào thung lũng
Ai leo lên núi đồi
Đều gặp thấy Ngôi Lời
Và Chúa Cha hằng hữu
Với tình yêu vĩnh cửu
Của Ngôi Ba Thánh Thần
Cả một trời thiên ân
Một đại dương ánh sáng
Một nguồn suối hy vọng
Một biển sóng vĩnh hằng
Đang vây phủ toàn thân
Của người vào cô tịch
Miễn là chịu tiêu diệt
Con người cũ A-dam
Và mặc lấy huy hoàng
Vinh quang con người mới.
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 176)


Trước ngưỡng cửa lâu đài đêm tối
Lá hoa buồn khép vội bờ mi
Côn trùng rỉ rả âm i
Trời cao đã mọc một vì sao hôm
Gửi vào Chúa tâm hồn tín thác
Đêm linh hồn man mác tình yêu
Có bình minh sáng thật nhiều
Có hiu hiu gió mỗi chiều mơn man
Gửi vào Chúa muôn vàn giọt lệ
Đêm linh hồn xiết kể hân hoan
Du dương tiếng sáo tiếng đàn
Giữa cô liêu ấy chứa chan ân tình
Gửi về Chúa hoa cành hương thảo

Đêm linh hồn sáng đạo tình duyên
Có rừng thánh, có suối tiên
Có chiên con đứng dịu hiền trong mơ…
Đêm thời gian không mờ đêm thánh
Đèn Ba Ngôi chiếu sáng thần linh
Xuân về trên dãy trường sinh
Muôn vàn trinh nữ cầm cành huệ tươi.
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 175)

Khi vớt lên một cành củi mục
Và bắt về chiếc lá vàng trôi
Ta sẽ nghe tiếng hồn ai thổn thức
Lệ trào tuôn than khóc ngậm ngùi
Phải chăng xưa một cành đào diễm lệ
Chỗ vương môn mơn trớn vạn bàn tay
Phải chăng xưa một bông hồng áo não
Che mặt người hoa, đẹp chốn lầu Tây
Chiếc lá trôi chẳng phải là ngọc diệp
Đã từng nghe chuyện tài tử giai nhân
Đã từng ghi những lời tình thống thiết
Chỗ sang giàu của những Mạnh thường quân
Nhưng than ôi gió thời gian quét sạch
Hồn thảo thu man mác bóng tà dương
Khiến bao nhiêu cành vàng cùng lá ngọc
Dạt về đâu trên mặt đất vô thường

Hình hài có biến, hồn không tan
Khắp mặt đất này đi lang thang
Vương vào cây cỏ vào sông nước
Khiến tiếng chèo khuya nghe tiếng bẽ bàng
Và người nghệ sĩ những chiều hôm
Ngắm bóng non xa bỗng thấy buồn
Trời không mưa gió không tiễn biệt
Mà thấy trong lòng giọt lệ tuôn
Thôi đừng khóc nữa lá cành ôi
Có khóc đời cũng thế mà thôi
Vì trong thời gian có vĩnh cửu
Trong ly rượu nồng có mùi ngải cứu
Vị đắng đót sẽ còn lại muôn năm
Là lộc trời để nhắc nhở xa xăm.
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 174-175)


Chiều tàn trên bến cô liêu
Đò ngang thưa chuyến, quán chiều vắng tanh
Gió đưa hiu hắt trên cành
Đồng không sương bủa buồn tanh chim về
Hồn chiều lên ý não nề
Buồn ơi! xa vắng đê mê là buồn
Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!
Vang lên cao vút tầng mây
Rồi ngân nhè nhẹ như ngây ngất lòng

Tiếng êm nhạc gió rừng thông
Ru như tiếng trúc dịu trong chiều vàng
Rồi tan trong gió mênh mang
Những âm thanh đã nhịp nhàng trong tôi
Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 173-174)


Trong ánh dương vàng mỗi buổi mai,
Khi đám sương lam phủ ngọn đồi,
Và lúc trên cành chim đua hót,
Lòng con mến Chúa lắm, Chúa ôi!
Dưới ánh trăng vàng dệt nhớ thương,
Đất trời say đắm mộng sầu vương,
Chúa ơi, con mến trong đêm vắng
Tình Chúa mênh mang suốt canh trường…

Vườn nhà những độ hoa đâm bông,
Hương ngát trời mai, sắc thắm hồng,
Trong cánh bướm vàng bay nhỏ nhẻ,
Hương tình mến Chúa thoảng trên không…
Những buổi giao mùa, gió lê thê,
Thổi sầu oán hận khắp sơn khê,
Lạy Chúa con nghe trong tiếng gió
Lời ca tình ái khóc tỉ tê…
Tháp cũ chiều hôm nhả tiếng đồng,
Ngân nga dìu dịu vút trên không.
Chuông ơi, ta gửi lời yêu mến
Theo gió bay về tận thiên cung…
Mỗi lần con ngắm trời mây gió,
Lạy Chúa, làm sao hồn đê mê!
Ôi hình ảnh Chúa sao sáng tỏ
Trong núi rừng và khắp cả sơn khê!
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 173)

SUY NGHĨ CÚI ĐẦU
Trái tim con nhỏ bé,
Tình yêu Chúa bao la,
Lòng Chúa như trời bể,
Đời con giọt mưa sa ...
Chúa là trời ánh sáng,
Con ngọn đèn hắt hiu,
Chúa quang minh vô hạn,
Con một tia nắng chiều ...
Chúa chính là hiện hữu,
Không có thủy có chung,
Đời con một chút xíu,
Như giọt nước miệng thùng ...

Chúa chính là tồn tại
Tuyệt đối và vô biên
Kỳ dư là tương đối
Chuyển dịch và biến thiên
Đá vàng, ai hỏi tuổi?
Núi sông tự bao giờ?
Nhìn sao mỗi đêm tối,
Thân con thật bé thơ ...
Rồi ra biến dịch hết:
Biển cả thành nương dâu.
Sinh ly và tử biệt
Con suy nghĩ cúi đầu ...
Xin nhận con, lạy Chúa,
Vào thế giới Vĩnh Hằng
Thanh bình trăm muôn thuở,
Là Vương Quốc Thánh Tâm.
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 172-173)


























TRONG TIẾNG CHUÔNG CHIỀU
“Car tu nous a fais pour Toi et notre
coeur est sans repos jusqu`à tant
qu`il repose en Toi”
(St.Augustin)
“Con người chưa được vô biên
Là còn thổn thức ưu phiền tháng năm”
(Xuân ly băng)
Chiều lắng phủ không gian buồn ý chết,

Mây thê lương chở lệ về phương mô?
Gió lạnh lùng run rẩy lá cành khô
Chim từng chiếc qua sương chiều lặng lẽ ...
Không gian ơi! chiều nay tan thành lệ
Chảy trong lòng người viễn khách cô đơn.
Nhớ nhung chi khi trời xuống hoàng hôn
Để buồn ngấm uất hồn, ai nức nở ...
Người bâng khuâng khi trời chiều tắt thở,
Bỗng chuông vàng trong xóm giáo ngân nga.
Tiếng êm êm dìu dịu nhẹ lan ra
Qua gió chiều lên hương buồn ly biệt
Tiếng tôn giáo cùng người, ôi tha thiết!
Viễn khách ơi!
Viễn khách ơi!
Chiều nay cảm thấy lạnh rồi phải không?
Ý đời rét buốt mênh mông
Đường đời cô quạnh trong không gian buồn!
Tình đời đen bạc mười phương
Men đời không dậy trong sương gió đời!
Viễn khách ơi!
Viễn khách ơi!
Giờ đây cảm thấy lạnh rồi phải không?
Này nghe tiếng nhạc chuông trong
Lời AI VĨNH VIỄN nói cùng THỜI GIAN:
Tìm chi hoa nội trăng ngàn
Tìm chi hạnh phúc dương gian mà tìm?
Con người chưa được VÔ BIÊN
Là còn thổn thức ưu phiền tháng năm.
Này người viễn khách bâng khuâng
Đường lên ánh sáng đã gần không xa!
(Trích Có một vườn thơ đạo, trang 171-172)

Hình minh họa

Đức Ông GB. Lê Xuân Hoa (nhà thơ Xuân Ly Băng) đã về cõi miên viễn ngày thứ tư 19/7/2017 vừa qua. Nhớ lại lời tâm sự của Đức Ông cách đây 9 năm.


THÁC LỜI NGƯỜI NẰM DƯỚI HUYỆT
Lời tâm sự của Đức Ông GB. Lê Xuân Hoa (nhà thơ Xuân Ly Băng)


Các anh thân ái,
Sáng nay các anh dẫn tôi đến đây với một đoàn xe và một đoàn người rất hùng hậu. Xe đủ loại và treo cờ xí thật nhiều, hầu hết là màu tím.
Tím là màu buồn phải không các anh? Các anh hát những bài cầu hồn thật cảm động, cũng buồn như màu tím vậy.



Hơn một giờ sau, các anh dẫn tôi ra nghĩa trang. Rồi người ta thỏng tôi xuống huyệt sâu. Trong giây phút này òa lên một tiếng khóc thật thảm thiết. Sau đó là những tiếng sụt sùi của mấy phụ nữ. Đám đông chen lấn nhau trên miệng huyệt khiến các anh không nhìn được tôi khi tôi vừa chạm đáy huyệt. Nếu không, các anh đã quăng cho tôi một vài nắm đất hay một cành hoa tươi, rồi các anh phủi tay ra về. Rã đám. Tôi nghe tiếng chân các anh rút lui mệt nhọc nhưng bước chân vẫn thoải mái và nhanh hơn. Tôi nghe tiếng chân xa dần, xa dần rồi tắt hẳn. Nhưng chen vào đó cũng có tiếng mấy anh rì rầm đánh giá và nhận định về đám tang của tôi. Có anh nói: “đám tang có lớn cỡ nào thì cũng là đám tang người chết”. Tôi không đồng ý vì tôi có chết mãi đâu. Tôi sẽ chỗi dậy từ đám bụi đất trong ngày sau hết. Các anh ra về, đám âm công và những người thân quen của tôi cũng ra về. Giờ đây chỉ còn lại một mình tôi.

Tôi biết bầu trời Vinh An vẫn cao vẫn rộng. Có vài đám mây tán tụ bất thường, thi thoảng cũng dừng lại nhìn tôi. Gió trưa thổi mạnh hơn và mấy hàng phi lao vẫn trút lá buồn buồn.

Các anh có biết không?
Rồi đây sẽ có những đêm mưa gió lạnh lùng hiu quạnh, trong không gian vắng lặng này. Tôi nhớ các anh! Tôi nhớ chân trời cũ. Bên cạnh tôi có khá đông anh em xếp hàng ngay ngắn. Nhưng trong thế giới thinh lặng này mọi người đều im lặng. Sự thinh lặng không trống rỗng nhưng thật lạnh lùng.

Mảnh đất tôi nằm không xa quốc lộ 1A bao nhiêu, chỉ hơn kém cây số thôi. Chắc chắn giữa sự vắng lặng này, nhất là vào đêm khuya, tôi sẽ nghe được tiếng kèn xe của các anh lưu thông trên đường…

Tôi nhớ các anh, không biết các anh có nhớ tôi không? Xin các anh cúi đầu ghi một Dấu Thánh Giá trên mình, thương nhớ nhau giữa trời đất bao la. Tôi còn chờ đợi các anh.

Phan Thiết,19/8/2008


"THÁC LỜI NGƯỜI NẰM DƯỚI HUYỆT -
TÔI SẼ CHỔI DẬY TỪ ĐÁM BỤI ĐẤT TRONG NGÀY SAU HẾT"

(Trích lời tâm sự của Đức Ông GB. Lê Xuân Hoa (Nhà thơ Xuân Ly Băng)

THÁC là sống mãi muôn đời
LỜI Cha nhân hậu rạng ngời Thánh nhan
NGƯỜI đi từ chốn bình an
NẰM nghe huyệt mộ hoa vàng nở tươi
DƯỚI trần bác ái dâng đời
HUYỆT sâu vẫn nở nụ cười thân thương
TÔI về “Đàn Vọng Cố Hương”
SẼ là bụi cát khiêm nhường. Xin vâng
CHỖI từ “..Củi Mục” “Đồng Xanh”
DẬY vầng “Trăng Mẹ” an lành “Hương Xuân”
TỪ đây “.. Thập Gía” sáng ngần
ĐÁM tang bạn khóc mộ phần nở hoa
BỤI trần trải khúc “Thi Ca..”
ĐẤT “Tôi Nằm Xuống” “Đồng Xanh” nẩy mầm
TRONG đời thơm ngát “Hương Xuân”
NGÀY ngày“ Đất Mẹ” vui mừng nở Hoa
SAU cùng vui chúc muôn nhà
HẾT thời “Thương Khó” nở Hoa – Thiên Đường…

Đức Hạnh
23.07.2017

- Những từ trong dấu kép, là những tác phẩm của Nhà thơ: Xuân Ly Băng



Chiều ngày 17.8.2017, Trung Tâm Mục Vụ và Đồng Xanh Thơ Sài Gòn đã tổ chức lễ tưởng niệm cha G. B nhà thơ Xuân Ly Băng (23/4/1926 - 19/7/2917) tại hội trường P.X Nguyễn Văn Thuận. Hiện diện trong buổi hội ngộ văn thi hữu này, có nhóm Đồng Xanh Thơ Quy Nhơn gồm nhiều các cây viết trẻ và sự đồng hành của một vị linh mục cũng rất trẻ, cha Cao Gia An, Dòng Tên. Cha Trăng Thập Tự, cha Bảo Lộc, cha Nguyễn Thiên Cung, cha Nguyễn Văn Lừng (Phan Thiết), cha Vũ Hữu Hiền. Lần đầu tiên tôi được gặp các cây CÁNH ÉN trong thi đàn ca tụng Chúa, anh AP Mặc Trầm Cung, anh Lê Quý Long, anh An Thiện Minh (ATM), anh Dã Tràng Cát, cùng vài nhà văn, thi, nhạc sĩ khác.


Nhà thơ Dzuy Sơn Tuyền là người là người dẫn chương trình.

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG CỦA NHÀ THƠ XUÂN LY BĂNG do anh ATM trình bày, làm sống động những lời khuyện dụ của Đức Ông đối với các thi nhân ca ngợi Chúa.



Với THẦN HỌC TRONG THƠ XUÂN LY BĂNG do cha Nguyễn Thiên Cung chia sẻ và những kỷ niệm vui của cha với cha Xuân Ly Băng làm hội trường vỗ tay không ngớt.

XUÂN LY BĂNG TRONG TÔI cha Nguyễn Xuân Lực (Phan Thiết) chia sẻ giúp mình hiểu hơn về sự khiêm tốn trong thơ của cha Xuân Ly Băng

XUÂN LY BĂNG NHẠC TRONG THƠ, THƠ TRONG NHẠC do Dzuy Sơn Tuyền minh họa, làm mọi người ngỡ ngàng với cách dùng từ rất đời thường mà độc đáo của cha Xuân Ly Băng.

Xen kẻ các bài thuyết trình là giọng ngâm của chị Ngọc Ánh với Suy Nghĩ Cúi Đầu, chị Đan Thụy với Sao em không lần chuỗi.

VĂN LÀ NGƯỜI, THƠ LÀ HỒN NGƯỜI cha Trăng Thập Tự chia sẻ.

ĐỜI THƯỜNG MÀ CHẲNG DƯ THỪA trong thơ XUÂN LY BĂNG, cha Vũ Hữu Hiền, trưởng ban Mục vụ truyền thông TGP Saigon chia sẻ.

Đồng Xanh Thơ Quy Nhơn với những cây bút trẻ bày tỏ tâm tình biết ơn Đức Ông đã cho các bạn có cơ hội làm sáng danh Chúa qua ngòi bút.


Cuối cùng là nhà thơ Dã Tràng Cát kể lại những kỷ niệm gần gũi của anh với nhà thơ Xuân Ly Băng trên giường bệnh.

Ngoài ra, những văn thi hữu tham dự còn được nhận hai món quà tinh thần, đó là những cố gắng theo bước tiền nhân của thế hệ hậu bối:

- MỤC ĐỒNG, số 1, của nhóm Đồng Xanh Thơ Quy Nhơn

- RỢP BÓNG MÂY TRỜI do Đồng Xanh Thơ Sài Gòn thực hiện

Thánh lễ tưởng niệm do cha Phanxicô Xaviê chủ sự và cha Cao Gia An giảng lễ. Sau khi hiệp thông trong bàn tiệc Thánh Thể, là bữa cơm Agape thân tình tại Căn tin TTMV. Đức Hồng y Gioan Baotixita đã ghé chào thăm mọi người tại đây. Ngài bày tỏ thao thức và mong mỏi mọi người đọc Tin Mừng, suy niệm và viết ra thơ.


Tạ ơn Chúa, cám ơn Đức Ông đã nối kết và quy tụ chúng con tại ngôi nhà chung này, đồng thời đốt lửa yêu mến để chúng con hăng say ca tụng Chúa qua những vần thơ.



Ảnh: ĐXT Sài Gòn



Kính gởi: Quý văn thi hữu Công Giáo,

Được sự chấp thuận của Trung tâm Mục Vụ TGP TPHCM cùng với sự trân trọng gọi mời của Cha Px. Bảo Lộc và Cha GP. Trăng Thập Tự, nay xin được gởi đến Quý văn thi hữu Công giáo Thư mời và Chương trình “TƯỞNG NIỆM ĐỨC ÔNG NHÀ THƠ XUÂN LY BĂNG.”

Trong tâm tình hoài niệm, chúng ta tưởng nhớ một Mục tử rất gần gũi, phúc hậu và đáng mến, một bậc Trưởng thượng với nhiều tác phẩm rực sáng Lòng Mến và một Nhà thơ lớn trong dòng văn học Công giáo hiện đại.

Rất mong Quý văn thi hữu Công giáo dành chút thời gian đến hiệp nguyện và dự thánh lễ “TƯỞNG NIỆM ĐỨC ÔNG NHÀ THƠ XUÂN LY BĂNG.”

Cũng nhờ Quý văn thi hữu thông báo đến các tác giả khác đến tham dự lễ tưởng niệm này.

Kính chúc Quý văn thi hữu Công giáo tràn đầy niềm vui và bình an trong Thiên Chúa.

TB: Kính nhờ Quý tác giả trưởng các nhóm văn thơ đăng ký danh sách những vị trong nhóm mình dự bữa cơm Agape thân mật sau thánh lễ, để thuận tiện cho việc tổ chức.

Thay mặt Ban Tổ Chức,

Thomas An Thiện Minh


LỜI NGỎ CHO ĐÊM THƠ
•      Tên thật: Gioan Baotixita Lê Xuân Hoa,
•      sinh ngày 23-4-1926, tại làng Phú Trung, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
•      Rửa tội năm 1926 tại họ Hiệu Lân, xứ Xuân Phong, giáo phận Vinh
•      theo học Tiểu Chủng Viện Xã Đoài (1938-1949), Đại Chủng Viện Xuân Bích, Hà Nội (1953) Sàigòn (1954), Đại Chủng Viện Lê Bảo Tịnh (1955-1959).
•      Thụ phong linh mục ngày 19-7-1959.
•      Dạy Việt văn tại các Tiểu Chủng Viện Chân Phước Tự (Thủ Đức) và Sao Biển (Nha Trang) từ 1959-1965.
•      Chính xứ Vinh Hưng, Vinh Thuỷ, Phan Thiết (1965).
•      Quản Hạt  Bình Tuy (1972).
•      Đại Diện Giám Mục (1975)
•      Tổng Đại Diện Giáo Phận Phan Thiết 1987.
•      Giám chức danh dự do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban tặng ngày 25-01-1998.
•      Được Chúa gọi về lúc 22g10, Thứ Tư ngày 19 tháng 7 năm 2017 tại nhà Hưu dưỡng Giáo phận Phan Thiết, hưởng thọ 92 tuổi, 58 năm linh mục.

Đã xuất bản: Thơ kinh, Hương kinh, Trầm tư, Nỗi niềm, Bài ca thương khó, Dụ ngôn Phúc âm, Như trầm hương, Kinh trong thời gian, Khúc hát ân tình, Một vùng châu lệ, Kinh sầu trên quê hương.
Năm 2008, sau hai năm phụ trách trang Đồng Xanh Thơ trên Mạng Lưới Dũng Lạc, anh Cao Huy Hoàng đã thực hiện cuộc họp mặt lịch sử của văn thơ Công giáo, tại Tòa Giám mục Phan Thiết, ngày 20-01-2008, với khoảng 60 tham dự viên, trong đó một nửa là các cộng tác viên của Đồng Xanh Thơ. Một trong những lý do khiến cuộc họp mặt diễn ra tại Tòa Giám mục Phan Thiết dịp ấy chính là vì nhà thơ lão thành Xuân Ly Băng đang sống ở đó.
Dưới đây là bài chia sẻ “Cùng sống cuộc sống đức tin văn hóa” của Đức ông Nhà thơ kết thúc ngày họp mặt và tiếp nối là “lời ngỏ cho đêm thơ”, nhân đêm thơ Xuân Ly Băng tại Tòa Giám mục Phan Thiết,22/3/2008. Chúng ta cùng đọc lại một vài bài thơ để tưởng nhớ Đức Ông

(Trăng Thập Tự).

CÙNG SỐNG CUỘC SỐNG ĐỨC TIN VĂN HÓA

Ba thuyết trình viên đã khẳng định cho thơ ca Công giáo Việt Nam những nền móng quan trọng: Lê Đình Bảng đặt một nền móng lịch sử, Trăng Thập Tự nêu rõ nền móng tâm linh và Nguyễn Thiên Cung một nền móng thần học.
Góp phần đúc kết và tiếp nối những điều ấy, tôi xin chia sẻ thêm đôi điều về kinh nghiệm thơ.
Người ta thường bảo ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ thầm kín, ngôn ngữ của trực giác, không dễ gì lấy triết lý mà hiểu được, vì ngôn ngữ thơ trước hết là ngôn ngữ của trái tim. “Trái tim có những lý lẽ mà lý trí không hiểu được” (Pascal). Chẳng hạn hình ảnh cô gái mù với ly cà phê trắng Vũ Thuỷ. Ngay cả thi sĩ, làm thơ rồi, có khi chẳng hiểu hết thơ của mình, đang lúc nhà phê bình có thể tìm hiểu và nhận ra được. Cho nên không thể soi mói thơ bằng các hệ thống lý luận triết học hay thần học.
Tuy nhiên, không phải vì thế mà thơ là cái gì dễ dãi. Người ta có nói, mỗi tài năng đều gồm 1% do bẩm sinh và 99% do đào luyện. Một phần trăm của thiên tài không thể thiếu. Nếu thiếu, dù có làm cả trăm bài văn vần cũng chẳng ra thơ. Thế nhưng chỉ một phần trăm ấy thôi chưa đủ, cần phải dụng công, phải khổ luyện.
Nhà thơ Giả Đảo có ghi lại một kinh nghiệm:
Nhị cú tam niên đắc
Ngâm thành song lệ lưu,
Được Trăng Thập Tự dịch là:
Ba năm tìm được hai câu,
Ngâm lên nhỏ lụy tuôn châu đôi dòng.
Người Pháp có nói: “Phải luyện tay nghề hai mươi lần, tác phẩm của bạn mới ra hồn” (Vingt fois sur le métier, reprenez votre ouvrage).
Làm thơ là sáng tạo. Khi Xuân Diệu viết: “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm”, Tản Đà đòi lôi ra chém vì Xuân Diệu dám bảo mặt trời đi ngủ. Thế nhưng làm thơ là phải vậy, phải sáng tạo.
Cùng một mặt trăng nhưng với óc tưởng tượng, mỗi tác giả nhìn một khác: Trăng cười, trăng khóc, trăng rỉ máu, trăng có thể là người thiếu nữ nằm lả lơi cợt nhả mà trăng cũng có thể là Đức Mẹ.
Ngôn ngữ thơ phải sinh động, biết cười, biết khóc, biết nhảy múa. Phải biết chọn từ, đảo ngữ. Phải có nhịp điệu và nhạc điệu theo luật bằng trắc của âm thanh.
Bài thơ tả cục phân mà hay thì vẫn là thơ; còn tả cô công chúa tuyệt trần mà không hay thì cũng chẳng phải là thơ. Bài thơ ví được như một bầu trời. Bài thơ dở, đọc lên như bầu trời im lìm bất động. Bài thơ hay thì nhiều câu, nhiều chữ rực lên như trăng sao chớp nháy. Bầu trời thơ Nguyễn Du góc nào cũng chớp nháy, câu nào, chữ nào cũng hay.
Người làm thơ cần đọc thơ của nhiều tác giả, đọc những tác phẩm giá trị, để thấy những nét tân kỳ và độc sáng trong hình ảnh và ngôn ngữ.
Cần học thêm những phong cách mới của thơ Pháp, thơ Anh, thơ chữ Hán, để làm giàu cho hồn thơ. Cần đọc những sách chuyên môn về thơ để trau giồi kiến thức và kỹ năng thơ.
Cần giao lưu nhiều với các tác giả thơ, nhạc, hoạ… để làm cho tâm hồn luôn tươi mới, tránh khỏi bị “cô lậu quả văn”, nghĩa là “hẹp hòi, tầm thường, không đẹp”.
Nhất là phải đọc, nghiền ngẫm và thuộc lòng Thánh Kinh, cách riêng là các Thánh vịnh, sách Diễm ca, Tin mừng Gioan.
Bước vào chức linh mục, thấy mình được gọi rao giảng Tin Mừng bằng thơ ca, tôi đã chăm chú học làm nghệ thuật, nghiền ngẫm quyển “Lý thuyết về văn chương và các nghệ thuật” bằng tiếng Pháp (không còn nhớ tên sách và tên tác giả). Tôi đã đọc rất nhiều thơ, từ Kiều, Chinh Phụ, Cung Oán, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương cho đến Tản Đà rồi các nhà thơ mới. Có những bài thơ tôi thuộc nằm lòng. Gặp sách chuyên môn về văn chương là tôi đọc. Có những quyển tầm thường nhưng vẫn gặt hái được đôi điều, đôi dòng đáng nhớ. Cũng phải học lại tiếng Việt. Tôi vẫn thường xuyên tra cứu Hán Việt Từ Điển của Nguyễn Văn Khôn.
Người làm thơ phải đau khổ. Alfred de Musset có nói: “Cứ đánh vào tim tôi, thiên tài sẽ trào vọt”. Hàn Mạc Tử: “Không rên siết là thơ vô nghĩa lý!” Một tác giả khác: “Mà câu tuyệt vọng là câu tuyệt vời”. Một tác giả thơ Đường: “Đản thị thi nhân đa bạc mệnh” (Thôi Hiệu hay Lý Bạch?)
Đừng tự ti mặc cảm. Cứ viết, cứ đăng báo, cứ in, trong sự khôn ngoan dè dặt.
Cuối cùng, cần hai chữ thành thực và khiêm nhường, đừng tự tôn vinh mình. Thời gian sẽ sàng lọc và đào thải những gì không phải là thơ.
 Chúc anh chị em về ăn tết vui.

LỜI NGỎ CHO ĐÊM THƠ

Không kể những bậc kỳ tài, người trọng tuổi không nên nói nhiều và cũng không thể nói nhiều. Nhưng cũng không nên vì thế mà không nói (cũng có nghĩa là không viết) Đức Khổng Tử có lời dạy: Khi còn sống muốn nói gì với con cháu thì nói đi, kẻo chết rồi muốn nói cũng không nói được nữa.
Tôi đã trên 80 tuổi, một đời làm Linh mục, một đời làm thơ, biết nói gì - dù rất ngắn gọn - để lưu lại cho lớp hậu sinh rất khả uý. Lớp người này rất đáng trân trọng vì đặc biệt họ yêu thơ, họ sáng tác thơ. Hơn nữa, họ là những người làm “nghệ thuật”  dưới bóng cây Thánh giá và Ánh Sáng Phục Sinh của Đức Kitô.
Tôi nhớ hồi 1959, sau lãnh chức Linh mục, về dạy học tại Chủng viện Chân Phước Tự, Thủ Đức, có mấy chủng sinh hỏi tôi sáng tác thơ từ ngọn nguồn nào. Nhân đó, tôi viết một bài đăng trong nội san Chủng viện, tôi chỉ nhớ mang máng là Nguồn thơ lấy từ Thánh Kinh và tứ thơ lấy từ lời Cầu Nguyện. Lời ấy, cách đây nửa thế kỷ liệu còn  thích hợp nhắc lại ở đây để tặng lớp hậu sinh yêu thơ và sáng tác thơ nữa không?
Vườn thơ Thánh Kinh rộng mênh mông như trời biển, kỳ diệu và phong phú vô cùng, chứa đựng toàn Chân Thiện  Mỹ. “ Thủ nhi bất cấm, dụng nhi  bất tận.”
Phan Thiết, ngày 22/3/2008

MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CHÚA

H. Xin Cha cho biết tình yêu của Cha đối với Thiên Chúa đã qua những bước phát triển nào? Có những thăng trầm nào? Đâu là điều xuyên suốt?

Đ. Điều này đơn giản thôi. Tình yêu của tôi đối với Thiên Chúa tương đối bình lặng, không có vấn đề nào đáng kể. Có thể nói là liên tục. Chỉ có một thời gian hơi sóng gió là các năm 1946-1949, chủng viện đóng cửa, tôi phải sống ở ngoài. Tuy nhiên tôi vẫn hoạt động tông đồ, ham thể thao, thể dục, lại thích đàn, sáo, đánh cờ, vv… Chính những sở thích ấy đã thu hút tôi, giữ cho tình yêu tôi luôn được trung thành với Chúa, không bị cạnh tranh vì tình yêu nhân thế. Cho nên, có thể nói, Chúa đã giữ cho tình yêu của tôi đối với Ngài được êm đềm, không bị khủng hoảng.

H. Còn mối tương quan của Cha đối với Chúa thì đã phát triển thế nào?

Đ. Khi tôi còn nhỏ, tình yêu đối với Chúa nặng phần tình cảm bình thường, nhưng càng lớn lên, tình yêu càng đi vào chiều sâu. Càng về sau, nhờ học hỏi, đọc sách, nhất là đọc và suy gẫm Kinh Thánh, đức tin và tình yêu tôi ngày càng đổi mới và sâu đậm. Tôi đã không có cơ may trải qua những đêm tối tâm hồn như Thánh Nữ Têrêxa Avila hoặc Thánh Gioan Thánh Giá. Nơi tôi, mọi sự có vẻ diễn tiến cách tự nhiên, bình thường. Tôi chỉ gặp Chúa cách đơn giản trong vạn vật, trong thiên nhiên, qua con người, cỏ cây, bông hoa, tiếng gió, ánh mặt trời, vv… Vâng, đó là một ân huệ Thiên Chúa ban cho tôi mà tôi luôn luôn cảm tạ.

H. Sau 29 năm đời linh mục, đoạn Tin Mừng nào ăn sâu vào lòng Cha nhất?

Đ. Đánh động nhất là những câu Tin Mừng mà Chúa đòi mình phải kết hợp sâu xa với Chúa: “Thầy là cây nho, các con là cành”, “Các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con”, “Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy”, “Ai yêu mến Thầy và giữ lời Thầy, Thầy sẽ tỏ mình cho người ấy”. Tôi đã thấy rõ Chúa đã tỏ mình cho tôi qua các biến cố trong cuộc sống. Chúa luôn luôn yêu thương tôi và hiện diện với tôi.

H. Điều gì nơi Chúa Giêsu thu hút Cha nhất?

Đ. Ở tuổi 62 của tôi hiện nay, Đức Giêsu không phải là huyền thoại, không phải là một tình cảm bên ngoài. Đức Giêsu là một thực tại, vừa thần linh vừa lịch sử, là sự sống của mỗi Kitô hữu, cho nên mọi sự nơi Chúa, từ con mắt, trái tim, cuộc sống, lời nói và tóm lại là cả cuộc sống của Chúa đều thu hút tôi. Có điều là làm sao để diễn tả tất cả những điều ấy thành thơ. Cách đây mấy tuần, có người hỏi tôi: “Chưa thấy Cha khai thác đề tài bí tích Thánh Thể?” Câu hỏi khiến tôi suy nghĩ nhiều. Quả thật, để làm thơ về bí tích Thánh Thể rất khó. Cũng như, làm thơ về Hội Thánh không dễ chút nào. Vì làm sao để Hội Thánh trở thành một hình ảnh gợi cảm? Cũng như làm sao để chút bánh chút rượu đã trở nên Mình Máu Chúa có thể biến thành lời thơ? Quả là khó! Điều đó đòi sự sống mình phải có cường độ thật cao, nghệ thuật thật lớn,… Tôi hy vọng những năm cuối đời hiện nay sẽ thực hiện đôi phần.

H. “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. Xuân Diệu đã viết câu ấy theo suy nghĩ của ông, nhưng nếu đọc theo ngôn ngữ Kinh Thánh, ta cũng có thể thấy ở đó tình cờ hội đủ các biểu tượng Kitô giáo liên hệ đến hồn thơ Kitô hữu: Gió khiến liên tưởng đến Thánh Thần, Trăng nhắc đến Đức Trinh Nữ, Mây nhắc đến sự hiện diện của Thiên Chúa, như mây phủ trên khám Giao Ước. Xin Cha cho biết thêm kinh nghiệm bản thân trong việc chiêm niệm qua thiên nhiên.

Đ. Trong câu hỏi đã hàm chứa câu trả lời, nhưng tôi muốn lưu ý để khỏi dừng lại ở bề mặt. Ta thấy Thiên Chúa, nhưng thấy thế nào, có rõ nét không? Thấy rồi có cảm mến, con tim có rung động không? Làm sao để đem Chúa từ trong ánh trăng, từ gió vào trong khối óc, trái tim, rồi từ đó trào ra nơi ngọn bút? Tôi còn nhớ một câu thơ Đức: “Gió đập vào cửa sổ và nói với tôi về Thiên Chúa Tình Yêu”.

H. Cha làm nhiều thơ về Đức Mẹ. Xin cho biết tại sao? Điều gì nơi Đức Mẹ gây cảm hứng nhiều nhất? Lòng yêu mến Đức Mẹ bắt nguồn từ đâu?

Đ. Nói về Mẹ Maria là nói đến cả một trời yêu, vì Maria có nghĩa là biển, có nghĩa là cay đắng. Lòng yêu mến Đức Mẹ cũng do bẩm sinh, có thể do đức tin của người mẹ và huyết thống của gia đình. Rất có thể từ khi còn trong bụng mẹ, tôi đã cảm được lòng yêu mến Đức Mẹ. Trong bài Nhớ Xưa, tôi đã nói đến điều đó. Còn hỏi điều gì nơi Đức Mẹ gây cảm hứng nhiều nhất, thì phải nói rằng toàn thể Đức Mẹ đều gây cảm hứng dạt dào cho tôi, từ khuôn mặt, ánh mắt, đến tấm lòng từ mẫu…

(Trích phỏng vấn của Trăng Thập Tự ngày 25-8-1988)


THƠ XUÂN LY BĂNG

TRONG TIẾNG CHUÔNG CHIỀU

 “Car tu nous a fais pour Toi et notre
coeur est sans repos jusqu`à tant
qu`il repose en Toi”
 (St.Augustin)


 “Con người chưa được vô biên
Là còn thổn thức ưu phiền tháng năm”
 (Xuân ly băng)


Chiều lắng phủ không gian buồn ý chết,
Mây thê lương chở lệ về phương mô?
Gió lạnh lùng run rẩy lá cành khô
Chim từng chiếc qua sương chiều lặng lẽ ...
Không gian ơi! chiều nay tan thành lệ
Chảy trong lòng người viễn khách cô đơn.
Nhớ nhung chi khi trời xuống hoàng hôn
Để buồn ngấm uất hồn, ai nức nở ...
Người bâng khuâng khi trời chiều tắt thở,
Bỗng chuông vàng trong xóm giáo ngân nga.
Tiếng êm êm dìu dịu nhẹ lan ra
Qua gió chiều lên hương buồn ly biệt
Tiếng tôn giáo cùng người, ôi tha thiết!
Viễn khách ơi!
Viễn khách ơi!
Chiều nay cảm thấy lạnh rồi phải không?
Ý đời rét buốt mênh mông
Đường đời cô quạnh trong không gian buồn!
Tình đời đen bạc mười phương
Men đời không dậy trong sương gió đời!
Viễn khách ơi!
Viễn khách ơi!
Giờ đây cảm thấy lạnh rồi phải không?
Này nghe tiếng nhạc chuông trong
Lời AI VĨNH VIỄN nói cùng THỜI GIAN:
Tìm chi hoa nội trăng ngàn
Tìm chi hạnh phúc dương gian mà tìm?
Con người chưa được VÔ BIÊN
Là còn thổn thức ưu phiền tháng năm.
Này người viễn khách bâng khuâng
Đường lên ánh sáng đã gần không xa!


SUY NGHĨ CÚI ĐẦU

Trái tim con nhỏ bé,
Tình yêu Chúa bao la,
Lòng Chúa như trời bể,
Đời con giọt mưa sa ...
Chúa là trời ánh sáng,
Con ngọn đèn hắt hiu,
Chúa quang minh vô hạn,
Con một tia nắng chiều ...
Chúa chính là hiện hữu,
Không có thủy có chung,
Đời con một chút xíu,
Như giọt nước miệng thùng ...
Chúa chính là tồn tại
Tuyệt đối và vô biên
Kỳ dư là tương đối
Chuyển dịch và biến thiên
Đá vàng, ai hỏi tuổi?
Núi sông tự bao giờ?
Nhìn sao mỗi đêm tối,
Thân con thật bé thơ ...
Rồi ra biến dịch hết:
Biển cả thành nương dâu.
Sinh ly và tử biệt
Con suy nghĩ cúi đầu ...
Xin nhận con, lạy Chúa,
Vào thế giới Vĩnh Hằng
Thanh bình trăm muôn thuở,
Là Vương Quốc Thánh Tâm.


BÀI CA TÌNH ÁI

Trong ánh dương vàng mỗi buổi mai,
Khi đám sương lam phủ ngọn đồi,
Và lúc trên cành chim đua hót,
Lòng con mến Chúa lắm, Chúa ôi!
Dưới ánh trăng vàng dệt nhớ thương,
Đất trời say đắm mộng sầu vương,
Chúa ơi, con mến trong đêm vắng
Tình Chúa mênh mang suốt canh trường…
Vườn nhà những độ hoa đâm bông,
Hương ngát trời mai, sắc thắm hồng,
Trong cánh bướm vàng bay nhỏ nhẻ,
Hương tình mến Chúa thoảng trên không…
Những buổi giao mùa, gió lê thê,
Thổi sầu oán hận khắp sơn khê,
Lạy Chúa con nghe trong tiếng gió
Lời ca tình ái khóc tỉ tê…
Tháp cũ chiều hôm nhả tiếng đồng,
Ngân nga dìu dịu vút trên không.
Chuông ơi, ta gửi lời yêu mến
Theo gió bay về tận thiên cung…
Mỗi lần con ngắm trời mây gió,
Lạy Chúa, làm sao hồn đê mê!
Ôi hình ảnh Chúa sao sáng tỏ
Trong núi rừng và khắp cả sơn khê!

CHUÔNG CHIỀU

Chiều tàn trên bến cô liêu
Đò ngang thưa chuyến, quán chiều vắng tanh
Gió đưa hiu hắt trên cành
Đồng không sương bủa buồn tanh chim về
Hồn chiều lên ý não nề
Buồn ơi! xa vắng đê mê là buồn
Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!
Vang lên cao vút tầng mây
Rồi ngân nhè nhẹ như ngây ngất lòng
Tiếng êm nhạc gió rừng thông
Ru như tiếng trúc dịu trong chiều vàng
Rồi tan trong gió mênh mang
Những âm thanh đã nhịp nhàng trong tôi
Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm

CỦI MỤC

Khi vớt lên một cành củi mục
Và bắt về chiếc lá vàng trôi
Ta sẽ nghe tiếng hồn ai thổn thức
Lệ trào tuôn than khóc ngậm ngùi
Phải chăng xưa một cành đào diễm lệ
Chỗ vương môn mơn trớn vạn bàn tay
Phải chăng xưa một bông hồng áo não
Che mặt người hoa, đẹp chốn lầu Tây
Chiếc lá trôi chẳng phải là ngọc diệp
Đã từng nghe chuyện tài tử giai nhân
Đã từng ghi những lời tình thống thiết
Chỗ sang giàu của những Mạnh thường quân
Nhưng than ôi gió thời gian quét sạch
Hồn thảo thu man mác bóng tà dương
Khiến bao nhiêu cành vàng cùng lá ngọc
Dạt về đâu trên mặt đất vô thường
Hình hài có biến, hồn không tan
Khắp mặt đất này đi lang thang
Vương vào cây cỏ vào sông nước
Khiến tiếng chèo khuya nghe tiếng bẽ bàng
Và người nghệ sĩ những chiều hôm
Ngắm bóng non xa bỗng thấy buồn
Trời không mưa gió không tiễn biệt
Mà thấy trong lòng giọt lệ tuôn
Thôi đừng khóc nữa lá cành ôi
Có khóc đời cũng thế mà thôi
Vì trong thời gian có vĩnh cửu
Trong ly rượu nồng có mùi ngải cứu
Vị đắng đót sẽ còn lại muôn năm
Là lộc trời để nhắc nhở xa xăm.

LÂU ĐÀI ĐÊM TỐI

Trước ngưỡng cửa lâu đài đêm tối
Lá hoa buồn khép vội bờ mi
Côn trùng rỉ rả âm i
Trời cao đã mọc một vì sao hôm
Gửi vào Chúa tâm hồn tín thác
Đêm linh hồn man mác tình yêu
Có bình minh sáng thật nhiều
Có hiu hiu gió mỗi chiều mơn man
Gửi vào Chúa muôn vàn giọt lệ
Đêm linh hồn xiết kể hân hoan
Du dương tiếng sáo tiếng đàn
Giữa cô liêu ấy chứa chan ân tình
Gửi về Chúa hoa cành hương thảo
Đêm linh hồn sáng đạo tình duyên
Có rừng thánh, có suối tiên
Có chiên con đứng dịu hiền trong mơ…
Đêm thời gian không mờ đêm thánh
Đèn Ba Ngôi chiếu sáng thần linh
Xuân về trên dãy trường sinh
Muôn vàn trinh nữ cầm cành huệ tươi.

VÀO SA MẠC

Thời gian vào sa mạc
Sỏi đá hóa tâm tình
Hoa cỏ mặc tâm linh
Mây trời ca tình tự
Mưa rơi toàn ân tứ
Gió thổi rặt tình yêu
Từ sáng tới ban chiều
Không gian đầy thánh sủng
Ai bước vào thung lũng
Ai leo lên núi đồi
Đều gặp thấy Ngôi Lời
Và Chúa Cha hằng hữu
Với tình yêu vĩnh cửu
Của Ngôi Ba Thánh Thần
Cả một trời thiên ân
Một đại dương ánh sáng
Một nguồn suối hy vọng
Một biển sóng vĩnh hằng
Đang vây phủ toàn thân
Của người vào cô tịch
Miễn là chịu tiêu diệt
Con người cũ A-dam
Và mặc lấy huy hoàng
Vinh quang con người mới.

HÁI HOA TÌNH YÊU

Đi vào miền cô tịch
Hái bông hoa tình yêu
Lượm những viên ngọc bích
Có khắc tên người yêu
Người yêu trên mây trời
Dù ta không thấy rõ
Người yêu trong ngọn gió
Dù chẳng động cành cây
Người yêu trong tiếng chim
Dù chim bay về núi
Em chẳng phải đi tìm
Hơi người còn nóng hổi
Người yêu trong hoa rơi
Người yêu trong lá đổ
Người yêu dưới chân trời
Người yêu trong cửa sổ
Hãy vào miền cô tịch
Hái bông hoa tình yêu
Mặc tình em thỏa thích
Chỉ có yêu và yêu.

ĐÀN VỌNG CỐ HƯƠNG

Đàn lòng kết bởi muôn dây
Nhưng dây hạnh phúc còn gầy đàn ơi
Đêm đêm hướng mắt lên trời
Ôm đàn ta khóc mãi đời trích tiên
Đàn ta sầu thảm ưu phiền
Nghẹn ngào nức nở nhớ miền Trời xa
Trời xa mới chính quê ta
Muôn muôn hạnh phúc bao la phỉ nguyền
Suối thơ rừng nhạc vô biên
Trăng thanh bình tỏa sáng miền ái ân
Muôn hoa cỏ lạ vô ngần
Sắc hương ngào ngạt tuyệt trần thanh cao
Lưu ly đàn khóc nghẹn ngào
Sầu nơi dương thế ngày nào mới vơi
Kiếp đày ải chốn xa vời
Chìm trong bể khổ lệ đời mênh mang
Ai xin tôi một cung đàn
Đàn tôi viễn xứ muôn vàn chua cay
Vì đàn kết bởi muôn dây
Nhưng dây hạnh phúc còn gầy đàn ơi
Đêm đêm khóc nước trên trời.

MỘT MẢNG CHIỀU

Mẹ cho con một mảng chiều
Có mây giăng tím chở nhiều nhớ nhung
Có đàn sáo lượn bên sông
Lưng trâu có chú mục đồng thổi tiêu
Hoàng hôn lá rụng thật nhiều
Khói lam tỏa nhạt xóm nghèo bơ vơ
Mẹ cho con một trời thơ
Trong chuông nhật một nhà thờ xa xa.

VÀO THU

Bông dưng sầu ứ không gian
Thuyền mây trôi xám gió vàng hắt hiu!
Đồng quê đọng nước tiêu điều
Ba con cò trắng tiếng kêu não nùng!
Hơi buồn bao tỏa núi sông
Cỏ cây mây nước mênh mông là buồn!
Ai về khuất nẻo cô thôn
Suối tre chảy lá chuông buồn ngân nga!
Trời, mây, nước với mình ta
Nghe chuông nhắc lễ Đức Bà sang thu!

SAY NOEL

Đêm nay Noel về
Hồn hỡi lắng tai nghe
Đàn muôn cung réo rắt
Dồn dập khắp sơn khê
Đêm nay Hài Đồng đến
Đem hoan lạc trời cao
Đêm nay thơ kính mến
Sẽ say ngã lao đao
Ôi Noel đêm trời nhiệm mầu
Rượu nồng ta không nếm
Sao lòng trí ngất ngư?
Ta say muôn ánh nến
Ngời rạng vạn hào quang
Ta say tiếng chuông vàng
Trong gió trời hổn hển
Từng trận đổ vang vang…
Ta say muôn lời kính
Thơm như hoa thiên đình
Êm như dòng suối nhạc
Đẹp như lệ đồng trinh
Ôi Noel! Đêm trời nhiệm mầu
Nhạc an hòa, thơ kính mến
Hương phượng thờ đang ngào ngạt dâng lên
Ban cho lòng người đau khổ trần gian
Hiểu ý nghĩa Noel miền cao cả.

TRÁI THÁNH KINH

Buồn lòng không, hỡi người trinh nữ
Chờ đón tân lang trễ một giờ
 (Mt 25, 1-3)

Ai có đêm nay nghe tiếng khóc
Năm người trinh nữ đứng bơ vơ
Sương trời ướt cả mùi son phấn
Lỡ chuyện trăm năm chậm một giờ
Ai có đêm nay nghe tiếng khóc
Giá buốt một trời gió mênh mông
Năm người trinh nữ buồn run rẩy
Xiêm áo không che nỗi lạnh lùng
Ai có đêm nay nghe tiếng khóc
Sượng sùng trinh nữ đứng cô đơn
Lá rụng cành gầy cơn gió lốc
Tan tành giấc mộng tối tân hôn
Ai có đêm nay nghe tiếng khóc
Mịt mù canh vắng dếgiun than
Năm người trinh nữ buồn lai láng
Văng vẳng từ xa có tiếng đàn
Văng vẳng từ xa có tiếng đàn
Ôi còn đâu nữa bóng tân lang
Năm người trinh nữ sầu tuyệt vọng
Cửa đóng then cài… bước lang thang
Cửa đóng then cài… bước lang thang
Ôm đèn không đỏ dạ mang mang
Đường khuya trở gót lòng hiu quạnh
Dầu mỡ than ôi, chuyện đá vàng
Dầu mỡ than ôi, chuyện đá vàng
Biết chăng chẳng biết chàng hỡi chàng
Ai vào phòng tiệc xin nhắn gởi
Có kẻ ngoài này đứng khóc than.

BAO GIỜ CHO HẾT THU

Có một mùa thu, thu rất thu
Mưa gió….hanh hao đẫm sa mù
Mẹ hỡi chính là mùa thu ấy
Khi mẹ lìa đời, con khóc hu
Con thấy cô đơn lạnh cuộc đời
Ra vào vắng mẹ lệ ròng rơi
Mùa thu từ đó ôi sầu thảm
Như tiếng vạc kêu cuối chân trời
Rồi cũng mùa thu con ly hương
Lá vàng theo gió bay bốn phương
Mây sầu giăng mắc lòng lãng tử
Chiếc én chân trời phận thảm thương….
Mẹ hỡi bao giờ cho hết thu?
Hết gió, hết mưa, hết sa mù?
Để dòng thơ con thôi sầu thảm
Con tóc bạc rồi, mẹ ở mô?
Mẹ trách con rằng: hỏi vẩn vơ
Mẹ ở trên trời chứ ở mô
Con ơi, hãy nhìn về phương ấy
Rồi hãy cầu nguyện để làm thơ:

TRONG TIẾNG CHUÔNG

Lặng nghe chuông đổ mỗi chiều
Lá vàng tuôn rụng hắt hiu vườn nhà
Tiếng chuông trong gió ngân nga
Âm thanh rút ngắn đời ta dần dần
Rồi đây chuông vẫn còn ngân
Thân em khuất dạng khỏi sân khấu đời
Tìm về với Chúa em ơi!

Linh mục Xuân Ly Băng
Được tạo bởi Blogger.