Chị mở mắt, nhìn kĩ đứa bé, không dám tin đó là con trai mình. Nước mắt chảy ròng, tiếng nấc cố kìm sâu trong lồng ngực. Chị muốn khóc to lên nhưng không dám khóc. Những người thân đứng gần chị đều đã khóc thành tiếng cả rồi.

Thêm một đứa bé dị dạng trong ngôi làng biển chào đời, đứa con thứ tư của chị, đứa con trai đầu tiên, ba đứa trước là con gái, nhưng đứa con trai duy nhất này lại mang hình hài tội nghiệp biết bao. Lẽ nào ngôi làng này bị quỷ ám? Ngôi làng đạo giờ là làng của quỷ dữ, của Satan?

Tháng trước khi làm lễ rửa tội cho những em bé sơ sinh trong làng, cha xứ rùng mình không dám tin vào thứ mắt mình nhìn thấy. Mười đứa bé sơ sinh thì hết chín bị dị dạng, khó coi. Lúc mang thai, những phụ nữ cũng đi siêu âm, khám thai đàng hoàng. Y tế ngày nay cũng đã phát triển nhưng những em bé dị dạng vẫn xuất hiện. Chúng mở những con mắt khuyết tật, vừa đáng thương, vừa tội nghiệp nhìn những bóng người trong thế giới chúng vừa chào đời. Có đứa bị mù, không nhìn thấy ai, không thấy được gương mặt của mẹ. Nó khóc váng lên, ngày cũng khóc và đêm cũng khóc. Linh hồn nhỏ sợ bóng tối. Nó đi ra từ bóng tối để nhìn thấy ánh sáng mà vẫn không thoát khỏi bóng tối. Linh hồn nhỏ ngạc nhiên, sợ hãi chỉ biết khóc để tìm tiếng nói và hơi ấm của mẹ hiền.

“Cha à, kì lạ quá! Cứ như là quỷ đang ám giáo xứ mình vậy!” Ông từ sợ hãi nói với cha xứ. “Gần đây đứa nhỏ nào trong làng khi sinh ra cũng đều bị dị tật. Giáo dân mình đồn chắc dân làng mình bị Chúa phạt rồi.”

Cha xứ thở dài, không biết nói gì hơn. Cha rất đau lòng khi nhìn thấy những con chiên nhỏ mới chào đời trong giáo xứ bị dị tật, hình dạng khó coi. Cha đi hỏi bên trạm y tế, họ cũng lắc đầu, ngơ ngác không biết nói gì về hiện tượng xảy ra. Trong dân làng bắt đầu nhỏ to những lời đồn thổi. Rằng nhà này nhà kia làm điều ác nên Chúa phạt. Nhưng xét cho cùng những nhà có con dị tật đó có làm gì ác đâu. Làng biển nên ai cũng làm ngư dân đánh bắt cá tôm, gần bờ hay xa bờ. Cũng nghèo đói, cũng đi vay mượn, cũng bán mặt cho biển, bán lưng cho trời, da đen cháy vì lênh đênh trên biển. Làng này ai làm điều ác gì để Chúa phải phạt? Mà sao cứ có chuyện là đổ thừa Chúa? Cứ như Chúa hung dữ lắm, làm sai là phạt ngay?

“Mẹ ơi, có phải nhà mình làm điều ác nên Chúa phạt không mẹ?” Đứa con gái đầu của chị, đang học cấp 2, run run hỏi chị khi nhìn thấy hình dạng đứa em mới chào đời.
“Sao con lại hỏi vậy?” Mẹ chị xoa đầu nó.
“Con nghe người làng nói.” Con chị ngây thơ trả lời.
“Không có đâu con. Dòng họ nhà mình hồi đó giờ có làm điều gì ác đâu. Con đừng nghe người ta nói lung tung rồi nghĩ bậy. Thôi con ăn cơm rồi đi học đi.”

Mẹ chị an ủi đứa cháu. Chị nằm và khóc. Mẹ chị thương con, ngồi vuốt ve đứa cháu hình hài dị dạng, tỉ tê nhà này nhà kia cũng vừa có đứa con, đứa cháu như vậy. Rồi hai mẹ con ôm nhau khóc.

“Anh Nhân về thấy đứa con trai như vầy chắc là ảnh buồn lắm.” Chị nói với mẹ và khóc òa khi nhận ra đứa con tội nghiệp của chị cũng đang nghe những lời đó. Nhân, chồng chị đang đi đánh bắt xa bờ trên tàu cá của người ta. Lúc đi anh hồ hởi lắm, mong kiếm được chút tiền để về mua sữa, mua quần áo cho đứa con trai sắp chào đời, đóng tiền học cho ba đứa con gái, trả chút nợ nần… Anh chưa biết mặt mũi con trai mình. Nhưng chắc trên biển lúc nào anh cũng tưởng tượng về nó, đứa con trai đầu tiên của anh. Đứa con trai mà anh hi vọng sau này nối nghiệp anh, cùng anh ra biển. Anh luôn mơ có một đứa con trai để khi lênh đênh trên biển anh không còn cô đơn cô độc nữa. Anh chưa biết sự thực về hình hài của con.

Chị nằm khóc như mưa thấy mình có lỗi với chồng và với con. Có lỗi khi không đẻ được cho chồng một đứa con trai lành lặn và không thể cho con một hình hài bình thường như ba đứa con trước.

“Con trai à, tha lỗi cho mẹ nghe con. Mẹ là đàn bà hư, không biết đẻ nên con mới chịu thiệt như vậy. Con tha lỗi cho mẹ nghe con.”
Chị hôn gương mặt nhăn nhúm của đứa con trai, òa khóc. Đứa con trai và mẹ chị cũng khóc. Nước mắt đâu mà nhiều đến thế.

Mà hình như ngôi làng biển này là ngôi làng của nước mắt. Tháng nào, năm nào cũng có nước mắt rơi. Nước mắt của những người còn sống sau những cơn bão, nhìn ngôi nhà mình tan hoang, người thân thì mất. Nước mắt của những người đàn bà khóc chồng, khóc con trai khi ra đi còn sống, còn mong ước, còn hi vọng nhưng khi trở về chỉ là một thân xác bất động. Nước mắt của những người mất người thân mà không có được thân xác họ để chôn cho tử tế theo nghi thức đạo. Vì dù đã mất, nhưng đâu phải thân xác nào cũng được về đất liền. Có người phải nằm dưới biển sâu, không ai thấy mặt, không thấy ai và người ở lại phải làm cho họ một ngôi mộ gió. Không nói được lời cuối cùng, không được nhìn mặt người thân lần cuối… Biển là vậy. Biển cho áo cơm nhưng cũng là một nấm mồ. Sóng biển hát reo nhưng cũng là hành khúc tiễn biệt. Nước biển mặn vì muối mà cũng vì quá nhiều nước mắt khóc cho biển rồi.



Ngày rửa tội của con chị mang theo giỏ quần áo. Làng đạo nhưng miệng lưỡi của người đời cũng ghê gớm quá. Ngày nào những người hàng xóm cũng đi qua nhà chị, gọi mẹ con chị là quỷ Satan. Họ sợ! Vì sợ mà họ nói ra những lời độc ác. Họ sợ con cháu họ sẽ “lây”, sẽ giống chị. Họ muốn có những đứa con, cháu lành lặn. Họ muốn những người như mẹ con chị phải ở tránh xa cộng đồng.

Sau lễ rửa tội cho con, chị gởi ba đứa con gái ở lại với mẹ chị, ôm đứa con trai, xách giỏ quần áo đến ngôi làng tạm gần biển. Ngôi làng này mới lập cách đây vài tháng, chỉ có phụ nữ và những đứa con dị dạng của họ. Họ bị xa lánh giống như những người bị bệnh phong. Người ta nói đẻ ra đứa con dị dạng chắc là người mẹ cũng bị nhiễm bệnh gì đó rồi. Người ta không muốn những người bị bệnh sống chung với mình. Vì vậy họ phải ra khỏi làng, tụ vào nhau trong một ngôi làng tạm.

Ngôi làng tạm này ở gần những ngôi mộ gió. Trước mặt là biển, xung quanh, bao la là cát, um um những mộ gió không có xác người. Vài cây dương èo uột trong gió như những ngón tay gầy chải vào bầu trời xanh lồng lộng mây trắng. Trong ngôi làng tạm này, những người phụ nữ tội nghiệp ráng yêu nhau, đùm bọc lẫn nhau. Cuối đường rồi, bị xã hội xa lánh, thôi thì hết lòng yêu thương đùm bọc nhau và không ngừng trông cậy vào Chúa. Chúa không hung dữ đâu. Chắc chắn chuyện này xảy ra không phải vì Chúa phạt? Sao Chúa lại phạt những con chiên nghèo, hiền lành, tội nghiệp của Chúa? Chúa yêu không hết, phạt làm chi?


Cái ăn thì dễ rồi. Làng sát biển nên kiếm cá tôm quá dễ. Gạo thì người thân trong làng trợ cấp cho. Nước uống, nước sinh hoạt phải đi hơi xa để gánh nhưng không sao. Vì sự sống của con các bà mẹ chịu khổ được hết, dù phải đi thật xa để gánh nước ở cái giếng cuối làng. Những người phụ nữ có con dị tật cứ sống như thế. Mỗi tuần, chiều Chúa Nhật, cha xứ tới ngôilàng tạm của họ, cùng dâng thánh lễ với họ. Những thánh lễ đơn sơ và những lời nguyện cầu đầy nước mắt.

Đêm đó là đêm chị không ngủ được. Con trai chị cứ trở mình quậy khóc. Những con chim cú mèo ở đâu tụ về, đậu đầy trên nóc chòi của làng tạm. Tiếng cú kêu ma quái hòa với tiếng sóng biển. Lẽ nào chúng kêu cho những chuyến tàu ở khơi xa? Làng chị ngày nào mà không có người ngóng chồng, ngóng con đang lênh đênh đánh bắt ngoài biển khơi cơ chứ!

Càng về đêm tiếng cú mèo kêu càng dồn dập hơn, rùng rợn, ma quái hơn. Những người phụ nữ trong làng phải thức dậy. Chị cũng thức dậy, đốt một ngọn đuốc. Tất cả mọi người, trừ lũ trẻ con chưa đi được đều đổ ra khu đất có những nấm mộ gió, tay cầm đuốc cố xua đuổi bầy chim cú mèo.

Cú mèo báo tin chết chóc. Nhưng đừng hòng nghe con. Bọn tao không sợ! Những người phụ nữ tụi tao đã đau khổ quá nhiều rồi. Chúng tao không sợ cái chết nữa. Nhưng mày đừng hòng báo tin chết chóc cho những người thân của bọn tao đang lênh đênh ngoài biển kia. Người cầm đuốc xua đuổi, người rảy nước Thánh vào bầy cú mèo. Mùi đuốc, mùi người, tiếng cú mèo, tiếng la hét ầm ĩ vang động một góc biển.

Và một mùi hôi thối theo gió xông lên. Ngửi một hồi mới nhận ra mùi tanh của cá nhưng không phải cá sống mà là cá chết. Đám phụ nữ kéo ra bãi biển. Ôi chao! Dọc dài bãi biển ngập đầy cá chết. Cá to, cá nhỏ, cá gần bờ, cá hơi xa bờ, cá thu, cá nục, cá ngừ, cá mú, cá cơm…Lũ cá nằm chết trên bờ biển, mở to những đôi mắt cá. Chúng không biết vì sao mình chết? Cá không khóc được, không nói được, không hỏi được. Chúng chỉ nằm chết, trân trối giương những đôi mắt cá trước người. Một phụ nữ chạy vào làng gọi dân làng ra. Dân làng kéo nhau ra biển. Ánh đuốc, ánh đèn sáng rực cả bãi cát dài. Người làng ngồi thẫn thờ bên cá, khóc cho cá trong đêm.

Sáng mai, chị ngồi trong nhà thờ, cùng cha xứ và những con chiên khác cầu nguyện cho loài cá. Cá chết nhiều quá, dọc đầy một bãi biển dài kéo từ làng này qua làng khác, từ làng Công giáo của chị qua tận những làng ngoại đạo phía bên kia. Ánh mắt thất thần, sợ hãi, mọi người lờ mờ đoán vì sao cá chết, không phải bởi những người phụ nữ bị “trừng phạt” bởi Chúa, mà bởi con người, ở tít xa kia, nơi có cái nhà máy với những ống xả to đùng xả thẳng ra biển. Chính lòng tham của con người đã hủy hoại môi trường biển, hủy hoại thiên nhiên chứ không phải Chúa.

Làng chị, làng bên…những đứa trẻ sinh ra giống nhau, dị dạng, khuyết tật…cuối cùng cũng có lời giải đáp.

Những chiếc tàu đánh bắt khơi xa cập bến, những người đàn ông trên tàu về đất liền không tin nổi vào thứ mắt mình nhìn thấy. Một vùng biển chết chóc, cá, tôm, mực, rong rêu…chết rục dạt vào bờ. Tất cả mọi người đều khóc.

Chị ôm con, đứng trên bờ chờ một chiếc tàu quen. Chị không biết nói gì khi chồng trở về, nhìn thấy đứa con trai dị tật. Ở chợ, người ta cũng không mua cá nữa. Những chiếc tàu đánh bắt gần bờ đều nằm dập dềnh trên sóng, không ra khơi. Bãi biển ngày nào cũng dạt vào cá tôm chết. Người làng vớt chúng rồi chôn xuống cát. Những đứa trẻ chạy trên bãi cát, vớt những con cá thoi thóp, thả chúng lại biển nhưng chúng lại dạt vào bờ và nằm chết trên bờ.

Chồng chị cũng về, thất thần khi nhìn thấy cảnh tượng ở làng mình. Gương mặt sạm đen của chồng lăn đầy nước mắt. Anh khóc khi nhìn thấy bãi biển ngày nào cũng dạt vào cá chết. Khóc khi nhìn thấy hình hài đứa con trai duy nhất anh chờ đợi. Khóc khi đi vào chợ, hàng cá của má anh, vợ anh không một ai tới hỏi han.

Những thánh lễ chiều trong xóm đạo giờ chỉ cầu nguyện cho cá. Chị đứng cạnh chồng, lòng toang hoác, nhìn lên Chúa và nhìn ra ô cửa phía khơi xa. Một màu xanh vẫn xanh nhưng giờ là màu của tang thương, chết chóc.

Chồng chị lại đi, không phải ra khơi mà đi làm thuê trong thành phố. Anh buồn bã chia tay vợ con, ôm hôn đứa con trai dị tật và ba đứa con gái đang tuổi ăn tuổi lớn. Dân biển không ra khơi, ở nhà ăn không ngồi rồi là chết đói.

Trước ngày đi, anh lang thang trên bãi biển, lượm những con cá chết, chôn chúng. Anh nhìn chiếc tàu thân quen đang neo ngoài khơi, thèm bước chân lên đó nhưng cũng không biết bao giờ mới được lên tàu trở lại. Ánh nắng hè chói chang chiếu lên bãi cát, thiêu đốt những xác cá nằm trên bãi biển. Mùi tanh thối um khiến nước mắt anh chảy dài. Anh chỉ biết cầu Chúa cho những gì mắt anh đang nhìn thấy. Anh thấy thương loài cá như thương những người dân làng mình.

“Mẹ ơi! Bao giờ ba về?”. Bốn đứa con chui rúc bên chị, hỏi đi hỏi lại câu đó trong tiếng mưa đêm.
“Bao giờ có tiền ba về.” Chị đáp.
“Con không cần tiền. Con cần ba cơ.” Đứa con gái lớn nói.
“Có tiền mới trả nợ được con ơi, rồi cho tụi con đi học, mua sữa cho em…”
“Con ước gì làng mình đừng có cá chết, để ba đi tàu, ít ra lâu lâu con còn gặp ba. Giờ ba ở tít trong thành phố, không thấy ba con buồn quá.”
Chị vuốt mái tóc các con, cố ngăn dòng nước mắt.

“Con sẽ cầu nguyện Chúa cho cá sống lại.” Con gái kề út của chị reo lên. “Chúa có phép, Chúa làm gì cũng được. Chúa sẽ cho cá sống lại và cho ba về.”
Lại có tiếng cú mèo kêu vang vất đâu đây. Cá vẫn không ngừng chết và trôi dạt vào bờ. Bao giờ dừng lại những âm thanh chết chóc ấy, cảnh tượng u ám ấy?
Tiếng mưa ri rỉ trên mái tôn, nhỏ tanh tách vào nỗi buồn của chị. Các con đã ngủ, chị lấy tràng hạt mân côi ra lần. Chị cầu xin Chúa, cầu xin Đức Mẹ cho những gì u ám hôm nay sớm qua đi, ngày mai tươi sáng hơn sẽ tới.

Chị cầu cho biển trở lại như xưa, chồng chị trở về. Chị và bốn đứa con sẽ đứng trên bờ tạm biệt anh ra khơi. Chị sẽ nhìn thấy lại gương mặt sạm nắng, nụ cười trắng sáng chân chất của chồng khi ra khơi. Có lần chồng chị bảo biết là ra khơi cũng đầy hiểm nguy nhưng anh yêu công việc đó, cuộc sống đó, biển khơi đó. Anh cảm thấy mình đàn ông, được là mình khi lênh đênh giữa biển khơi đánh bắt cá về lo cho vợ con. Mùi biển ngấm sâu vào hơi thở của anh, là máu thịt anh. Anh hạnh phúc khi được sống chết cùng với biển.
Mà lời cầu của chị không chỉ là của riêng chị. Ở xứ biển này, người nào mà chẳng cầu mong như thế. Ở nơi biển là máu thịt, còn gì hạnh phúc khi thấy biển chết trước mắt mình, phải bỏ biển mà đi.

Chị lần chuỗi xong thì thiếp đi. Trong giấc mơ chị thấy chồng chị và đứa con trai chị đứng trên một chiếc tàu lớn, đứa con trai chị lành lặn, xinh xắn, vẫy tay chào chị. Họ cười trong ánh nắng ban mai. Chị cũng thấy những đàn cá đủ màu bơi tung tăng. Chúng bơi tới ngôi nhà thờ có gác chuông cao cao đang đổ những âm thanh thánh thót. Đàn cá bơi quẫy theo nhịp điệu của tiếng chuông an lành. Chúng tung tăng và hạnh phúc.

Chị thức giấc, vẫn không muốn thoát khỏi giấc mơ đẹp. Tai chị vẫn nghe tiếng chuông nhà thờ, tiếng đàn cá quẫy, nhìn thấy ánh ban mai tuyệt đẹp loang trên mặt sóng.

Ngư dân gom thuyền thúng chuẩn bị cho chuyến xa khơi tiếp theo. - Nguồn Ảnh: Peter Pham

Đó không phải là giấc mơ. Đó từng là một thực tại mà chị đã nhìn thấy, đã cảm nhận, đã trải qua. Nhưng khi mất đi, nó lại là một giấc mơ chẳng thể quay về.

Tiếng sóng, tiếng chuông nhà thờ, tiếng cá quẫy, tiếng cười khúc khích của chồng con chị…vẫn vang lên vang lên, đâu đó, phía xa kia, nơi có những vầng sáng lung linh tuyệt đẹp.

Chị còn nhìn thấy Chúa đứng trên vầng sáng đó, nhìn xuống gia đình nhỏ nhắn của chị, cười nhân hậu. Và chị nhoẻn cười trong giấc mơ…

Nguyễn Thị Khánh Liên

Tác Phẩm Đạt Giải Khuyến Khích Truyện Ngắn – Cuộc Thi Sáng Tác Văn Hoá Nghệ Thuật Đất Mới 2016

Mã số: 16-020
Maria Nguyễn Thị Khánh Liên,1982, Nha Trang
(Giải Ba VVĐT 2016)




- Út à, đi gặp ba không? Ba đang chờ ngoài cồn cát đó.
Anh Hai nói khẽ, cố không để cho má và bà nội nghe. Hai tuần hoặc một tháng, tôi chờ mong ba muốn thăm chúng tôi, đứng ngoài cồn cát, chờ chúng tôi ra khỏi nhà để chạy đến bên ba. Bao lâu rồi ba không sống chung với chúng tôi nữa?
Người lớn có những vấn đề phức tạp mà trẻ nhỏ không thể nào giải thích được. Chính người lớn cũng không giải thích được. Ba tôi là một thầy giáo ở trường học, là một giáo lý viên ở nhà thờ. Ba và mẹ có một cuộc hôn nhân theo luật Chúa, sống hạnh phúc, có hai đứa chúng tôi. Nhưng một ngày ba mở trang trại bò ở một làng dân tộc, nuôi bò kiếm thêm thu nhập để lo cho chúng tôi ăn học. Ba bén duyên với một phụ nữ dân tộc chăn bò cho trang trại của nhà chúng tôi. Tự dưng tôi có thêm một em gái. Mẹ tôi đã quậy ba tan nát. Sự căm thù của một người đàn bà mất chồng, dù đã kết hôn theo luật Chúa và luật đời thật cay nghiệt. Mẹ tôi đẹp hơn người phụ nữ dân tộc đó, cao sang hơn và có tình có nghĩa với đời ba hơn. Chính mẹ đã đẻ cho ba hai đứa con, chăm sóc nội, dành hết niềm tin, tình yêu, hy sinh của mình vào vai trò làm vợ, làm mẹ, làm con dâu. Vậy mà ba lại lạc lòng, lạc đạo Chúa và luật đời, đi dan díu tình cảm với một phụ nữ dân tộc thấp hèn, không có gì trong tay.
Những ngày đó thật đáng sợ. Nhà tôi toàn là tiếng chửi rủa và nước mắt. Mẹ và bà nội thi nhau chửi rủa ba. Chính bà nội đã từ mặt ba, đuổi ba ra khỏi nhà. Nội tuyên bố tài sản của nội sẽ trao cho hai đứa cháu chứ không còn trao cho ba nữa. Ba rời bỏ trường học, rời bỏ nhà thờ. Ba sống cùng người phụ nữ dân tộc trong trang trại bò cách khá xa khu dân cư và rất xa làng tôi. Từ một thầy giáo ba trở thành kẻ chăn bò. Từ một con chiên ngoan đạo ba trở thành một con chiên lạc. Ba không có lối về hay không muốn về?
Không có ba tất cả chúng tôi đều buồn. Nhớ lắm. Đêm nào mẹ và nội cũng khóc. Nội nhớ con, mẹ nhớ chồng. Chúng tôi cũng rất nhớ ba.
Ba biết mình có lỗi với chúng tôi. Nhưng làm sao về? Về là cơn đau của mẹ lại trỗi dậy. Ghen tuông, cay đắng, uất ức cứ tuôn ra. Tình yêu khi êm đềm là liều thuốc bổ nhưng khi làm nhau đớn đau chẳng khác nào thuốc độc. Còn yêu đó mà không thể nhìn nhau, không thể tha thứ cho nhau. Tha thứ làm sao đặng khi bên này có hai đứa con mà bên kia cũng có một đứa bé. Chúa kêu tha thứ bảy mươi lần bảy. Nhưng tha thứ trong trường hợp nào? Có tha thứ được khi người này làm con tim người kia tan nát hay không?
Ba không về nhà. Có về cũng bị nội lấy chổi đuổi như đuổi tà. Mẹ cũng không nhìn mặt. Nên cứ hai tuần, có khi một tháng, lâu hơn thì hai tháng. Ba lần mò về làng cũ, đứng ở cồn cát, nhắn với một người quen. Trời chạng vạng tối, hai anh em tôi nắm tay nhau chạy ra khỏi con đường làng, hai bên bụi tre chằng chịt, vừa sợ ma vừa sợ bóng tối nhưng không ngăn nổi sự nôn nao, hạnh phúc khi gặp ba mình. Qua hết bụi tre là ra cồn cát. Cát mênh mông, từng ụn, từng ụn kéo nhau tít tắp phía chân trời. Nghĩa trang của làng chúng tôi và làng bên cũng ở gần cồn cát. Nghĩa trang đạo của làng tôi hướng đông, có cây thánh giá nơi cổng vào. Nghĩa trang làng bên hướng tây ngược lại với làng tôi- dân ngoại. Chiều chạng vạng rất ít người ra cồn cát. Nên nhìn thấy cái dáng đứng cô đơn trên cồn cát anh em tôi biết đó là ba. Chúng tôi chạy ào tới, ôm lấy ba, vùi đầu, vùi mũi vào người ba, áo ba, hít lấy hít để cho thỏa nỗi nhớ có ba mà không có ba. Gặp ba lần nào ba cha con cũng khóc. Hỏi nhau: “Nội có khỏe không? Mẹ con có khỏe không?”, “ba có khỏe không?”. Khóc váng lên trên cồn cát buồn.
Những cuộc gặp của cha con chúng tôi diễn ra trên cồn cát vào những buổi chiều chạng vạng. Lần gặp nhau nào cũng bịn rịn. Tôi còn nhỏ nên không hiểu cuộc đời, cứ hỏi Chúa tại sao con có ba mà không được sống cùng ba? Sao Chúa không cho con có ba luôn, ở cùng ba luôn? Nhưng Chúa không trả lời.
Lòng tôi và anh tôi đã buồn đến vậy, lòng nội tôi, mẹ tôi càng buồn hơn. Mẹ càng ngày càng ít nói, khóc nhiều, già và suy sụp hơn. Mẹ căm thù ba nhưng vẫn nhớ con người làm cho mẹ đau đớn, bẽ bàng. Còn nội, muốn tha thứ cho ba nhưng thấy tội con dâu quá. Nó đã gắn cuộc đời nó cho nhà chồng, hy sinh hết mình. Vậy mà thằng con mình còn làm nó khổ, sao nội dám tha thứ cho thằng con?
Những ngày chủ nhật, nội dắt hai anh em tôi đi lễ. Trong nhà thờ nội nói nhỏ với tôi:
- Con và nội cùng cầu nguyện cho ba con trở về nghe.
- Còn người phụ nữ kia và đứa bé thì sao hả nội?- Tôi hỏi.
Nội im lặng, mắt nhìn thánh giá Chúa, thở dài.
Đã mấy tháng rồi, chúng tôi không gặp ba. Chao ôi là nhớ! Lâu nay ba toàn là người chủ động thăm chúng tôi. Chúng tôi đâu có biết ba ở đâu mà đến? Nhưng mấy tháng rồi ba không thăm chúng tôi. Lẽ nào ba quên các con của ba rồi?
Hai anh em tôi lén gặp một người chú quen trong làng, hỏi chỗ ở của ba. Đi học về, trưa nắng, anh đạp chiếc xe chở tôi đi thăm ba.
Đạp xe gần hai tiếng đồng hồ, hỏi thăm nhiều người, hai anh em chúng tôi cũng tìm được nhà của ba và người phụ nữ dân tộc. Chỉ tìm được nhà thôi chứ trang trại bò thì xa quá, ở đâu tận trên núi nên hai anh em tôi không đến được. Vào nhà, chúng tôi thấy đứa nhỏ- con ba và cũng là đứa em của chúng tôi. Ba tôi ở luôn trên trang trại. Buổi sáng dì nấu ăn cho em, rồi tất tả lên núi với ba. Em ở lại làng ăn cơm, đi học, chiều tối dì mới về. Em khá hiền và sợ sệt khi nhìn thấy hai anh em tôi.
Trong nhà có treo thánh giá và có bàn thờ để tượng Đức Mẹ. Thì ra dù không còn là con chiên “ngoan” ba tôi cũng không bỏ đạo. Em tôi cũng đã được rửa tội, nhưng do luật Chúa không cho ba ly hôn nên ba và dì vẫn không kết hôn được ở nhà thờ.
Biết chúng tôi là con ba, là anh, chị của em nên em đã mạnh dạn nói chuyện và cười đùa với chúng tôi. Trời đã chiều, phải quay về nhà, nên hai anh em tôi phải tạm biệt em và đèo xe về. Em đứng ở thềm nhà, ôm cây cột, mắt buồn bã tiễn hai anh em tôi. Đáng lẽ tôi phải ghét em- đứa nhỏ cướp ba của mình mà tôi chỉ thấy tội em thôi. Tôi thiếu ba nhưng có mẹ và nội ở bên. Còn em, cả ngày thiếu cả ba và mẹ. Tôi thấy tội và thương em. Trước khi đi tôi hỏi em tên thánh gì? Mắt em long lanh nói: “Maria”.
Mẹ tôi cũng biết hai anh em tôi cả gan đạp xe mấy chục cây số để đi thăm ba. Nhưng mẹ không nói gì. Mẹ giống nội, lần chuỗi cầu nguyện hàng đêm nhưng không biết phải cầu thế nào cho phải? Cầu cho chồng quay về. Còn người phụ nữ kia, đứa bé kia? Rồi quay về hai người có hạnh phúc như xưa không? Hay vẫn đớn đau, tức giận khi phải nhìn thấy mặt nhau? Vậy thì cầu nguyện làm sao cho hợp?
Chúng tôi chờ ba đến thăm như nắng hạn chờ mưa. Gần cả năm rồi ba không đến thăm chúng tôi. Chiều chạng vạng tôi mong ước bao nhiêu giây phút được chạy ra khỏi nhà, chạy như bay qua con đường mòn đầy tre, leo lên cồn cát lún, gặp cái dáng ba đứng trên còn cát buồn. Úp mặt vào người ba để nghe mùi ba. Bây giờ tôi mới hiểu phần nào nỗi buồn của mẹ. Nỗi buồn khi thiếu vắng người mình thương yêu. Một nỗi buồn bất lực khi mình là người phải chờ đợi chứ không được chủ động có được người yêu thương ấy.
Có một chiều mưa, làng tôi và làng bên cùng có đám tang. Đứng ở sau nhà, chúng tôi ngóng lên cồn cát, nhìn hai đám rước đi về hai nghĩa trang khác nhau. Hai đám rước đi song song cùng nhau. Một đám về nghĩa trang của Chúa, một đám về nghĩa trang của đời. Hai linh hồn. Hai niềm tin khác nhau. Họ đi trong chiều mưa buồn.
Tôi nhìn cồn cát trong mưa thèm biết bao trong đoàn người đi ấy có dáng ba tôi. Chẳng còn sợ mẹ, tôi sẽ chạy lên kêu ba, dụi đầu vào ba, khóc thật to cho thỏa nỗi nhớ ba. Mẹ đứng sau lưng tôi từ lúc nào. Mẹ cũng nhìn lên cồn cát. Ánh mắt vô vọng, buồn buồn.
Một buổi tối, hai anh em tôi đi nhà thờ về nhìn thấy một người phụ nữ lạ mặt ở trong nhà mình. Đó là dì- mẹ của đứa em gái tôi. Tôi chưa từng gặp dì nhưng nhận ra dì nhờ những nét mà em giống dì. Dì quỳ xuống chân nội tôi, mẹ tôi và khóc. Nội và mẹ cũng khóc. Hai anh em tôi đứng chết lặng khi người lớn cuống quýt, ồn ào. Trong cái đám hỗn loạn than khóc đó tôi cũng òa khóc thật to khi nghe tin ba tôi đang hấp hối. Trước khi mất ba nhờ dì về báo với nội và mẹ, xin được gặp linh mục trước khi nhắm mắt.
Cả gia đình chúng tôi chở nhau đi trong đêm tối buồn. Ba nằm hấp hối trong nhà dì, tay quấn tràng chuỗi mân côi. Giờ phút ba hấp hối mọi nỗi đau buồn của tình cảm đều phải gác qua một bên, chỉ còn giây phút tiễn biệt. Nội, mẹ, dì và ba đứa con ba đều nắm tay ba và khóc. Tiếng đọc kinh vang dậy căn nhà nhỏ. Trong nhà chúng tôi còn có những người hàng xóm của ba và dì. Họ đều là người dân tộc, họ không có đạo nhưng cũng đứng đó nghiêm trang cùng chúng tôi tiễn biệt người thân, buồn với nỗi buồn của gia đình chúng tôi.
Tôi vô cùng sợ hãi. Sao ba tôi lại nằm đó? Sao ba không được sống thêm? Cuộc đời tôi đã thiếu vắng ba rồi lẽ nào bây giờ mất ba luôn sao? Ba nằm nhắm mắt nghe chúng tôi đọc kinh, nhận dầu thánh từ tay linh mục. Nước mắt chảy tràn trên đôi mắt ba. Và ba đi như thế. Rất bất ngờ, rất nhanh trong một buổi tối buồn.
Khi ba còn sống, do lỗi lầm tình cảm ba không được trở về nhà. Mà chắc ba cũng chọn cách không trở về. Trở về là những nỗi đau sống dậy. Là cảm giác thua cuộc, là đay nghiến, là hành hạ nhau bằng cả cuộc đời còn lại. Đã lạc đường rồi nên ba lạc luôn, cứ theo con đường mới mà đi, trúc trắc trở ngại thì ba chịu, ba biết, sinh bệnh tật ba cũng nhận luôn. Nhưng khi mất, ba được trở về, được cầu nguyện trong nhà thờ, được chôn trong nghĩa trang đạo Chúa ở làng chứ không phải là một ngôi mộ nằm lẻ loi trên núi. Dì cũng muốn ba trở về, dù biết ba chôn trong nghĩa trang đạo Chúa thì dì sẽ xa ba mãi mãi. Vì dì theo tộc người Raglai, khi chết sẽ chôn trong rừng và sẽ được người thân làm lễ bỏ mả. Sau khi làm lễ bỏ mả, theo tín ngưỡng của người Raglai, linh hồn sẽ cắt đứt với người thân, họ hàng, sẽ ở luôn thế giới kia, không quay về nữa. Còn linh hồn con chiên của Chúa lại được quay về thế giới này trong mỗi thánh lễ nguyện cầu.
Ở trần gian dì có ba một quãng đường, nhưng khi mất, linh hồn dì và ba lại khác đường với nhau bởi phong tục và tín ngưỡng. Người ba nằm bên sau này lại là nội, là mẹ, chứ không phải là dì. Nhưng vì nguyện vọng của ba, dì chấp nhận. Linh hồn ba đã trở về với chúng tôi.
Đám tang không trúng ngày mưa nhưng rất buồn. Chúng tôi đi rước ba qua cồn cát, qua chỗ ngày trước ba lén lút chờ gặp chúng tôi trong chiều chạng vạng để hỏi mọi người trong gia đình thế nào? Giờ ba cũng đang đi qua nơi chốn đó.
Sau khi ba mất, mỗi khi đến thánh lễ cầu nguyện cho ba dì lại dẫn đứa em tôi đến nhà thờ. Gia đình tôi: nội, mẹ, hai anh em chúng tôi và hai mẹ con của dì lại đứng cùng nhau trong một nhà thờ. Ba đã mất, nỗi đau bị chồng phản bội của mẹ cũng đã chai sạn, nhưng đứng cùng tình địch trong một thánh lễ hẳn là mẹ tôi cũng buồn nhiều. Nhưng dì cũng là người của ba. Người của nhau, cầu nguyện cho nhau là điều hợp lí. Tình cảm con người phức tạp quá. Chúa đến thế gian để cứu con người khỏi khổ ải. Nhưng con người khổ ải vì điều gì? Bệnh tật, miếng cơm manh áo, hay những rối ren đau buồn vì chuyện tình cảm tréo ngoe? Rồi Chúa lại bảo nên tha thứ nhưng tha thứ cho ai? Kẻ thù của ta là ai? Là người chống ta, ghét ta, làm điều xấu cho ta hay là người ta thương, ta yêu, từng yêu ta nhưng rồi làm ta đau khổ? Xác định kẻ thù thật không dễ. Sao kẻ thù lại là người ta yêu được?
Dì và em tôi xuất hiện trong nhà thờ, trong những thánh lễ của ba rồi đi đâu mất hút. Sau này chúng tôi không còn gặp lại dì và em. Khi chúng tôi lớn, tôi và anh tôi có chở nhau đến ngôi nhà xưa để thăm hai mẹ con dì nhưng hàng xóm cho biết hai mẹ con dì đã bỏ đi từ lâu.
Hai mẹ con dì đều theo đạo Chúa của ba. Nhưng ba mất rồi, theo thời gian và phong tục khác nhau, không biết dì và em có giữ đạo? Nếu dì mất, không biết dì được chôn cất theo đạo Chúa hay theo tín ngưỡng, phong tục của người Raglai? Chôn trên núi và được làm lễ bỏ mả.
Còn mẹ tôi, giờ đã già nhưng vẫn giữ một nỗi đau buồn trong tim, chưa tha thứ được. Có lúc mẹ tha thứ, có lúc mẹ lại căm giận. Giận người đã phản bội mẹ và biến mẹ thành một người đàn bà tội nghiệp, thua cuộc, không còn chút niềm tin vào hạnh phúc. Chiều chiều, mẹ đứng ở sau nhà, nhìn lên cồn cát. Nhìn bọn trẻ con chạy đuổi nhau trên cát, nhìn những đám tang đi qua. Rồi mẹ nhìn trân trân vào một chỗ mà tôi cũng không hiểu vì sao mẹ biết chỗ đó mà nhìn? Đó là chỗ ba đứng khi ba lén lút đến thăm chúng tôi.
Mẹ nhìn trân trân chỗ chồng mình lén lút gặp hai đứa con mình. Rồi mẹ ngồi, tay run run lần chuỗi, đôi mắt mờ đục ngước về hướng ấy. Mẹ cầu cho người đàn ông ấy lên thiên đàng, hay cầu cho nội giờ cũng đã nằm ở nghĩa trang?
Chúa tạo ra con người từ cát bụi rồi con người trở về cát bụi. Nhưng hành trình ấy nào có được thẳng thớm, êm đềm? Người này gây khổ cho người kia, người kia buồn khổ vì người nọ. Hận thù nhau, không tha thứ cho nhau. Trở về cát bụi những linh hồn có biết tìm nhau để xoa dịu những đau buồn? Ai cũng tưởng người kia còn sống mãi cho đến một ngày, nhắc về người đó chỉ còn là hạt bụi bay trong trời mà thôi. Ba, nội giờ đã thành cát bụi. Dì cũng mất hút. Mẹ đã già, chiều chiều ngồi lần chuỗi thanh thản chờ ngày trở về với Chúa. Ngày mẹ cũng trở thành một hạt bụi, hòa vào đám bụi trên cồn cát kia. Hạt bụi nào cũng giống nhau dù khi còn là xương thịt, đời sống khác nhau vô cùng…



Được tạo bởi Blogger.