NGÔN NGỮ TIN MỪNG TRONG DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM


Mỗi lần nghĩ về quê hương, nghĩ về đất nước, nghĩ về những giá trị truyền thống của dân tộc, tôi chợt nghe vang vọng đâu đây những lời ca trong khúc nhạc “Đất Nước” : Bài hát được nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn dệt nhạc phỏng bài thơ của thi sĩ Tạ Hữu Yên : “Đất Nước tôi thon thả giọt đàn bâu…Đất Nước tôi từ thuở còn năm nôi, sáng chắn bảo giông chiều ngăn nắng lửa. Lao xao trưa hè một giọng cao dao, lao xao trưa hè một giọng ca dao…”.




“Thon thả giọt đàn bầu, lao xao trưa hè một giọng ca dao”, theo tôi hình ảnh giản đơn đó, âm thanh dung dị đó đã gói gém tất cả cái hồn, cái chất, cái “dáng đứng Việt Nam” đầy ắp thân thương và gần gũi, sâu lắng và mượt mà. Và có lẽ đó cũng chính là một trong những cánh cửa mở ra cho những ngôn ngữ nào, văn hóa nào muốn “đi vào tâm hồn Việt Nam, muốn hội nhập văn hóa Việt Nam”.

May mắn làm sao, trân trọng làm sao! Ngay từ buổi khai sinh Giáo Hội tại Việt nam, các Vị Thừa Sai tiên khởi, các Vị Tiền Bối khai đạo của Hội thánh Việt Nam, khi giới thiệu Chúa Kitô cho Dân Việt, khi đem hạt giống Tin Mừng rắc gieo trên cánh đồng Việt Nam, đã đi trên cái nẽo “thon thả giọt đàn bầu, lao xao câu ca dao” đó ; nghĩa là đã khôn khéo giới thiệu một “Tin Mừng mang dáng đứng Việt Nam”, một giáo lý gần gũi với tâm thức, ngôn từ và quan niệm tín ngưỡng của đồng bào Việt Nam, dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà những câu ca dao ru con thường ngày đã cưu mang một nội dung tín ngưỡng tôn giáo, một tôn giáo thờ trời, một tín ngưỡng gần gũi với mạc khải Thánh Kinh, mạc khải về sự quan phòng của Thiên Chúa:

Tháng Năm gặt hái đã xong

Nhờ Trời một mẫu năm nong thóc đầy

Lạy trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Lấy ruộng tôi cày

Lấy đầy bát cơm,

Lấy rơm đun bếp…



Trăm năm dù có thế nào

Dưới thì có đất trên cao có Trời

I. LỜI THIÊN CHÚA MANG “DÁNG ĐỨNG NHÂN LOẠI”

Chọn lựa cách “hội nhập văn hóa” để chuyển tải Tin Mừng, để loan truyền chân lý cứu độ sao cho hiệu quả và phong phú, cách làm của Cha Ông ta đó nào đâu có phải là chuyện mới mẻ gi đâu ! Từ thuở xa xưa khi bộ tộc của Ít-ra-en còn trong thời “ăn lông ở lổ”, khi tổ phụ của dân tộc họ, cụ Áp-ra-ham còn lang thang trên các thảo nguyên sống đời du mục, Thiên Chúa đã áp dụng nguyên tắc “hội nhập văn hóa” mang tính “nhập thể” rồi. Có nghĩa là Lời Mạc Khải của Thiên Chúa khi đi vào thế giới đã chọn đi qua “một chiếc cửa nhân loại” là “lịch sử của dân tộc Ít-ra-en” với tất cả những yếu tố nhân văn, địa lý, xã hội, chính trị, kinh tế, pháp luật, lịch sử …của dân tộc nầy. Toàn bộ tuyệt tác Thánh Kinh Cựu và Tân ước phải chăng là “Lời mạc khải nhập thể giữa lòng nhân loại qua lịch sử của dân tộc It-s-ra-en”, là cuộc “hội nhập văn hóa” của chính Thiên Chúa để chuyên tải cho nhân loại những chân lý của trời cao, một cuộc hội nhập thiết thân, sâu sắc như mưa, như tuyết thấm sâu trong mãnh đất trần gian :

“Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời

không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất,

chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc,

cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn,

thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta,

sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả,

chưa thực hiện ý muốn của Ta,

chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.”

(Is 55, 10-11)

Cũng chính với nguyên tắc “hội nhập văn hóa” đó, mà chúng ta tìm thấy ngôn ngữ của Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước mang nhiều “dáng đứng” khác nhau, theo trào lưu lịch sử văn hóa xã hội của dân tộc Ít-ra-en : Từ thể văn mang tính huyền thoại, cổ tích (Sáng Thế, Tin mừng thời thơ ấu), đến anh hùng ca lịch sử (Xuất Hành, Samuen, Ma-ca-bê-ô…), pháp đình lề luật, phụng tự (Thứ luật, Lêvi…), khải huyền tiên tri (Đa-ni-en, Ê-giê-ki-en, Khải huyền của Thánh Gioan…), châm ngôn huấn đạo (Khôn ngoan, Châm Ngôn, Giảng Viên..), thi ca trữ tình (Diễm tình ca), truyện ngắn tình yêu (Hô-sê…), ca kinh nguyện cầu (Thánh vịnh…).

Và khi “Ngôi Lời thành xác phàm và cắm lều ở giữa chúng ta” (Ga 1,14), thì Ngài cũng không làm gì khác hơn cái cách “sư phạm truyền thống” của Thiên Chúa. Ngài đã nói Lời Thiên Chúa bằng ngôn ngữ của dân tộc Ngài, Ngài đã vận dụng những chất liệu của cuộc sống đương thời để diễn tả các chân lý cao sâu của huyền nhiệm Nước Trời : Những hình ảnh chúng ta gặp thấy trong Tin Mừng như : “Người Mục Tử vác chiên trên vai”, “Cây nho sai trái”, “Tấm lưới thả xuống biển”, “Những cô trinh nữ cầm đèn đi đón tân lang”, “cây hoa huệ ngoài đồng”, “con chim se sẻ trên cành cây”… nào có xa lạ gì với đời thường của dân Palestine thuở ấy. Quả thật “ngôn ngữ của Thiên Chúa mang dáng đứng nhân loại là thế đó !

II. NGÔN NGỮ TIN MỪNG TRONG “DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM”

(Hay, cách “HỘI NHẬP VĂN HÓA” của Giáo Hội Việt nam)

Thật không “phải đạo” chút nào nếu Hội Thánh lại đi ngược hay không chọn đi con đường mà Thiên Chúa đã chọn, mà Đức Kitô đã đi : con đường nhập thể, con đường hội nhập văn hóa”. May mắn làm sao, trên cuộc hành trình sống và chuyển tải đức tin suốt hơn 2000 năm nay, Hội Thánh đã vận dụng mọi yếu tố tốt đẹp của văn hóa, văn minh con người trong việc diễn tả, sống và loan truyền chân lý đức tin. Thánh Phêrô, Thủ lãnh các Tông Đồ, Giáo Hoàng đầu tiên, ngày từ những ngày đầu Hội Thánh đã được Thánh Thần linh ứng cần phải chọn lựa con đường “hội nhập đó qua thị kiến “tấm khăn lớn với đủ mọi thú vật, rắn rết…” (Cv 10, 9-16). Trong khi đó Thánh Phaolô, một vị Thánh ký, một thần học gia, một nhà truyền giáo vĩ đại đã tóm gọn nguyên tắc nầy trong mấy từ cô đọng và súc tích : “Không còn chuyện phân Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà ; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3, 28). Và thế là Hội Thánh lớn mãi lên, vươn mình trên mọi miền thế giới, mang Tin Mừng Chúa Kitô rắc gieo trên khắp các cánh đồng văn hóa thế giới ; và cứ như thế, Tin Mừng của Chúa đã mang “dáng đứng của nhiều dân tộc, nhiều ngôn ngữ, nhiều loại hình văn hóa, lễ nghi, phụng tự… của mọi dân trên khắp địa cầu. Công Đồng Vatican II đã long trọng xác nhận điều đó như một nguyên lý nền tảng để hình thành và xây dựng Giáo Hội : “Giáo Hội, tức Dân Thiên Chúa, họp thành Nước ấy, không loại bỏ di sản trần thế của bất cứ dân tộc nào ; trái lại, Giáo Hội cổ võ và thu dụng tất cả những gì tốt lành nơi tài sản, nguồn lực và phong hóa của các dân tộc, và khi thu dụng, Giáo Hội tinh luyện, kiện toàn và thăng hóa chúng” (Hiến Chế Giáo Hội chương II, số 12). Trong khi đó, với Tông huấn “Ecclesia in Asia” (Giáo Hội tại Á Châu”, Đức Gioan Phaolô II đã có những giáo huấn rạch ròi : “Từ viễn ảnh nầy, thấy rõ ràng việc Phúc Âm hóa và hội nhập văn hóa liên hệ với nhau cách tự nhiên và mật thiết. Tin mừng và việc rao giảng Tin Mừng chắc chắn không đồng hóa với văn hóa, không tùy thuộc vào nó. Nhưng Nước Thiên Chúa đến với muôn dân là những người liên kết sau xa với một nền văn hóa, và do đó việc xây dựng Vương Quôc không tránh khỏi mượn các yếu tố từ các nền văn hóa nhân loại. Vì vậy, Đức Phaolô VI nói việc tách biệt Tin Mừng ra khỏi văn hóa là thảm trạng của thời đại chúng ta, gây ảnh hưởng sâu xa trên cả việc rao giảng Tin Mừng và nền văn hóa” (GHTAC số 21).



May mắn làm sao ! Những nguyên tắc nầy, những định hướng nầy đã được Cha Ông ta áp dụng từ lâu. 
Thật vậy, không đợi phải có “Công đồng chung Vatican II với định hướng của Hiến Chế “Vui Mừng và Hy vọng”, không đợi đến những chỉ thị cụ thể có tính mục vụ thực tiển của Tông huấn “Giáo Hội tại Á Châu”, ngay từ đầu, khi Tin Mừng được gieo trồng trên Đất Việt, Cha Ông ta đã biết thế nào là “Hội nhập văn hoá”, thế nào là “diễn tả Tin Mừng bằng ngôn ngữ và văn hoá bản địa”, thế nào là “trình bày ngôn ngữ Tin Mừng trong dáng đứng Việt Nam”. Chúng ta thử đọc lại chứng từ của Cha Đắc Lộ, một Nhà truyền giáo vĩ đại, một nhà văn hóa lớn khi nói về công nương Catarina, môt tín hữu của giai đoạn Tin Mừng mới đi vào Đất Nước ta : “Còn con gái Bà, công nương Catarina (cùng mang thánh dánh như mẹ) rất ham học biết và suy gẫm các mầu nhiệm của đạo, và vì công nương rất giỏi về thi ca bản xứ, nên đã soạn bằng thơ rất hay tất cả lịch sử giáo lý, từ tạo thiên lập địa cho đến Đức Ki-tô giáng thế, cuộc đời, sự thương khó, Phục sinh và Lên trời của Người. Lại còn thêm ở cuối tập thơ một đoạn tường thuật việc chúng tôi tới Đàng Ngời và công cuộc khởi sự rao giảng Tin Mừng. Tác phẩm nầy rất có ích vì không những giáo dân tân tòng từng ngâm nga trong nhà, nơi thành thị cũng như chốn thôn quê, mà cả nhiều lương dân, khi ca hát và thích thú với lời ca dịu dàng, thì cũng học biết được những mầu nhiệm và chân lý đức tin” (A. De Rhodes- Histoirre du Royaume de Tunquin. Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài). Nhà học giả Phạm Đình Khiêm, trong bài tham luận tại cuộc TỌA ĐÀM “MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA CÔNG GIÁO VIỆT NAM TỪ KHỞI THỦY ĐÉN ĐẦU THẾ KỶ XX”, đã nhận xét thêm về sự kiện nầy bằng những dòng trân trọng : “Thế là khi đức tin vừa gieo vào lòng đất chốn kinh kỳ (1627), thì từ một lá ngọc cành vàng đã nảy sinh thiên trường ca vang dội khắp xứ, nhờ phương tiện phổ biến là những bản in khắc gỗ mà đất Thăng Long rất sở trường. Đất nghìn năm văn vật có khác!”. (Nhìn qua những chặng đường thi ca Công Giáo Việt Nam. Phạm Đình Khiêm).

Trước hết, chúng ta nên dành riêng sự trân trọng và biết ơn đến các Thừa sai tiên phong đem Tin Mừng Đạo Chúa đến quê hương nầy, và đã vận dụng ngôn ngữ Việt Nam để chuyển tải Tin Mừng cho dân Việt chúng ta. Dấu ấn đặc biệt nhất có lẽ là tác phẩm giáo lý bằng chữ quốc ngữ đầu tiên : “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY” do Cha A. De Rhodes chủ biên và xuất bản năm 1651)

Kế tiếp những công trình “hội nhập văn hóa” mang tính đột phá và tiên phong đó, Hội Thánh non trẻ Việt Nam tiếp tục lên đường chuyển tải Tin Mừng và chân lý cứu độ qua những công trình văn hóa mà cho đến mãi hôm nay chúng ta chỉ biết cúi đầu bái phục :

- Giáo sĩ Majorica (Dòng Tên) : với trên 50 tác phẩm vừa dịch, biên soạn, sáng tác bằng văn xuôi hay văn vần chữ Nôm chuyển tải giáo lý, hạnh các thánh…

- Thầy Phanxicô, cựu hòa thượng : Với tác phẩm Hán-Nôm là bản Kinh Nguyện Giỗ CẢM TẠ NIỆM TỪ, quen gọi là PHỤC DĨ CHÍ TÔN

- Thầy giảng Gioan Thanh Minh : Với 15 phẩm bằng chữ Nôm ca ngợi các danh nhân, các Thánh

- Linh mục Lữ –Y Đoan (1613-1678): Với tác phẩm SẤM TRUYỀN CA bằng thể thơ lục bát

- Ông Raphael Đắc Lộ (1611-1687) : Với các tác phẩm thi ca : VÃN THÁNH GIUSE và VÃN ÔNG TOBIA

- Tác phẩm lục bát trường thi INÊ TỬ ĐẠO VÃN với 563 câu thơ lục bát kể chuyện tử đạo của Bà Inê năm 1700

- Linh mục Philipphê Bỉnh viết nhiều tác phẩm với nhiều thể loại : trước tác, biên soạn, dịch thuật, hồi ký, thơ… đặc biệt với tác phẩm SÁCH SỔ SANG CHÉP CÁC VIỆC

- Linh mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874) : Nhiều tác phẩm Hán-Nôm : VIỆT NAM GIÁO SỬ DIỄN CA, LÂM NẠN PHỤC QUỐC HÀNH, MINH DÂN VỆ ĐẠO KHÚC, VĂN TẾ GIÁO DÂN TỬ NẠN, VĂN TẾ CÁC ĐẲNG LINH HỒN, GIÁO NẠN TRONG QUỐC BIẾN…

- Thánh Phan văn Minh : Với thi phẩm “PHI NĂNG THI TẬP”

-Linh mục Trần Lục (1825-1899) : Với các tác phẩm thi ca lục bát : HIẾU TỰ CA (1088 câu), NỮ TẮC THƯỜNG LỄ (1016 câu), NỊCH ÁI VONG ÂN (440 câu).

- Ngoài những tác giả với tác phẩm, tư liệu mang tính chuyên môn về thần học, giáo lý, tu đức…, còn có nhiều loại hình “hội nhập văn hóa khác” trong các lãnh vực khác như : chính trị (Các bản điều trần của LM. Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) ; kiến trúc : (các nhà thờ Hảo Nho, Bình Sa (Ninh Bình), An Vân, Đốc Sơ, An Truyền (Huế), Trung Lao, Thôn Đông (Nam Định), Ba Làng (Thanh Hóa), đặc biệt là quần thể kiến trúc Nhà Thờ Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình) ; sử học (Đại Nam quốc sử diễn ca của Trương vĩnh Ký (1837-1898), tiểu thuyêt (Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887) ; kịch (Kịch thơ Mùa Xuân Thánh, Quần Tiên Hội của thi sĩ Đơn Phương 1991) ; múa (Các loại hình Dâng Hoa tháng Đức Mẹ) ; Biên khảo, nghiên cứu (Phạm Đình Khiêm, Võ Long Tê (Mai Hoa Công Chúa, Minh Đức Vương Thái Phi, Người chứng Thứ Nhất : biên khảo lịch sử của học giả Phạm Đình Khiêm ; riêng Võ Long Tê có trên 50 công trình nghiên cứu và sáng tác. Trong số đó phải kể các công trình nghiên cứu thơ ca Hàn Mặc Tử…) ; báo chí (Thánh Thể báo, 1919 địa phận Phát Diệm, Thánh Giáo Tuần Báo Bắc Kỳ (1920-1923), Trung Hòa Nhật Báo (Hà Nội, 1924-1943), nhật báo Công Giáo Đồng Thinh, 1927-1937 và tờ tuần báo Công Giáo Tiến Hành , 1936-1938, tạp chí Sacerdos indosinensis (1927, tạp chí Dức Bà Hằng Cứu Giúp (1929 của ĐP Hà Nội, tuần báo Văn Côi (Nam Định), Vì Chúa (Huế), Lời Thăm (Qui Nhơn)…; thi ca (Thơ Nôm Phước Môn tuyển tập thơ của Nguyễn Hữu Bài do Nguyễn Thức sưu tập (1959), Sảng Đình thi tập của linh mục J.M. Nguyễn Văn Thích (1943). Trong lãnh vực thi ca, chúng ta làm sao không nhắc đến những tên tuổi lừng danh trên thi đàn Việt Nam như :

- Hàn Mặc Tử (1912-1940) với những bài thơ bất hủ như Thánh Nữ Đồng Trinh, Ra Đời,

- Bàng Bá Lân (1912-1988), một Kitô hữu tân tòng, với các bài thơ “Đêm Giáng Sinh”, “Cầu nguyện với Đức Mẹ”, “Cảm hóa.

- Hồ Dzếnh (1916-1991), một Kitô hữu tân tòng, với tuyển tập thơ “Tác Phẩm Đầu Xuân (1944) với nhiều bài thơ Công Giáo.

- Phạm Đình Tân (1913-1933) : với tập thơ “Lời Thiêng”

- Linh mục thi sĩ Xuân Ly Băng (1936) : Với nhiều tập thơ đạo như Thơ Kinh, Hương Kinh, Hiến Chương Nước Trời, Bài Ca Thương Khó…

- Lê Đình Bảng (1942) : với các thi phẩm : Hành Hương, Lời tự tình của bến trần gian, Quỳ trước đến vàng…

- Linh mục Trăng Thập Tự : Trường ca Anrê Phú Yên, Tiên Tri, Quỳ Hoa...

Chúng ta còn phải ghi nhận nhiều đóng góp khác trong việc diễn tả Lời Chúa, Thánh Kinh bằng ngôn ngữ Việt Nam, cho dù không phải là những tác phẩm được phổ biến sâu rộng, nhưng đã góp phần không nhỏ trong tiến trình Hội Nhập Văn Hóa của Giáo Hội Việt Nam. Đó là các nỗ lực của các tác giả như Tống Viết Toại (Phúc Am diễn ca, 1956), Mai Lâm (Thánh Vịnh Toàn tập, 1958), Long Giang Tử (Phúc Am diễn ca, 1975), Linh mục An Sơn Vị (Ngủ Kinh, Thánh Vịnh thánh ca, Tân ước), Linh mục Giuse Đinh Cao Thuấn (Trường ca cứu độ , Ca vang Lời Chúa, đường về Đất hứa,), linh mục Cao Vĩnh Phan (Trường ca Dân Chúa : giáo lý bằng thơ lục bát), linh mục Lê quang Trình (Kinh thánh Khởi nguyên, Thánh Vịnh bằng thơ lục bát)…và hôm nay, chúng ta đang tưởng niệm, đang nhắc nhớ đến một con người, một linh mục và một thi sĩ đã góp phần to lớn trong tiến trình Hội Nhập Văn Hóa của Hội Thánh Việt Nam : đó là Cha F.X. Nguyễn Xuân Văn với đại thi phẩm trường thiên lục bát 9764 câu thơ, thi phẩm về cuộc đời Chúa Cứu Thế qua bốn Tin Mừng : “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”.

Chính Cha Nguyễn Xuân Văn đã bộc lộ ý định “Hội nhập” nầy khi Ngài nhắn gởi chúng ta trong lời Phi lộ của tác phẩm :

Tôi muốn đem Lời Chúa

Lời thơ Tình Thương

Ghép thành vần

Đặt lên miệng các bà mẹ

Để từ đó

“Chảy vào tai các em bé,

Đang nằm trong nôi.

Hay trên cánh tay dịu hiền của các bà

Như dòng sửa ngọt

Chứa đầy chất dinh dưỡng siêu phàm

Để nuôi các em lớn lên

Trong tình thương của Chúa…

“Tôi ước ao Lời Chúa,

đến với các bạn

với những kẻ khó nhọc và gánh nặng

Những người mất niềm tin

Mất hy vọng trên cõi đời nầy.

Hỡi các bạn ! Hãy lắng nghe

“Đây là Sứ Điệp Tình Thương,

Ngân vang muôn thuở, vấn vương muôn lòng”

(Sứ điệp Tình Thương, Lời Phi lộ)

Với “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”, tác giả Nguyễn Xuân Văn có thực sự đã đạt được mục đích ấy chưa ? Để trả lời câu hỏi ấy, và nhất là để một lần nữa khẳng định rằng : khi được gieo trồng trên mãnh đất Việt Nam, quả thật, “ngôn ngữ của Tin Mừng đã mang dáng đứng Việt Nam”, tôi xin được giới thiệu những bài khảo luận, những nhận định và phê bình, những cảm nhận và tưởng nhớ của một số học giả, nhà nghiên cứu, văn, thi sĩ, các Đấng Chủ Chăn, những bạn hữu thân thiết và những học trò… về cố linh mục thi sĩ F.X.Nguyễn Xuân Văn và tác phẩm “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG” của Ngài. Đây cũng chính là món quà nhỏ xin kính dâng về Cha Phanxicô Xaviê như nén hương lòng tưởng niệm nhân ngày Đại Giỗ giáp hai năm qua đời của Ngài : 10.01.2002 – 10.01.2004.

Linh mục Giuse Trương Đình Hiền
Nguồn: http://www.dunglac.info/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=118&ia=1778


NGUYỄN XUÂN VĂN
Tên thật: Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn, sinh năm 1922, tại Mỹ Đức, Ân Tín, Hoài Ân, Bình Định, giáo phận Qui Nhơn. Được rửa tội từ nhỏ. Tu học tại Tiểu chủng viện Làng Sông (1936-1943) và Đại chủng viện Qui Nhơn (từ 1943). Thụ phong linh mục ngày 25-1-1956. Phục vụ tại các giáo xứ Trúc Hà (1956), Đà Nẵng (1957), chủng viện Làng Sông Qui Nhơn (1958-1962), chánh xứ Phú Hương (1962-1964), Hòa Khánh (1965-1975), Mằng Lăng (1975-1986) và Tuy Hòa (từ 1986).
Qua đời ngày 10-01-2002.
Trường thi “Sứ điệp tình thương” là tập diễn ca toàn bộ Tin mừng, dài 9764 câu lục bát, được viết trong thời gian 10 năm ở Mằng Lăng.

SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG
TRĂNG THẬP TỰ
Quyển Sứ Điệp Tình Thương khởi viết từ năm 1977. Ngay từ cuối năm 1975, Đức Cha Phaolô Huỳnh Đông Các, giám mục Qui Nhơn, đã đề nghị cha Xuân Văn viết một bản cuộc đời Chúa Cứu Thế bằng văn vần cho trẻ em học. Cha chưa cầm bút thì một chuyến tham quan trong năm 1976 đã khiến cha xin Đức Cha cho thực hiện theo một hướng khác:
- Thưa Đức Cha, để cho trẻ em dùng thì đã có bản song thất lục bát của Đức Cha Bắc Ninh. Nay xin để con viết cho người lớn.
Cảm hứng đã đến khi cha theo đoàn tham quan của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đi thăm nhà bảo tàng Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Cô hướng dẫn viên đã thuyết minh với một giọng đầy truyền cảm khiến cho có người ứa lệ. Chứng kiến cảnh ấy, cha thầm nguyện:
- Phải rồi, Chúa ơi, con cũng phải viết thế nào để người ta đọc mà khóc vì yêu mến Chúa.
Về sau, viết xong rồi, cha nhiều lần nói với tôi:
- Tiếc là mình còn thiếu lòng mến, cho nên chưa diễn tả được thật hay.… Cũng có những câu hay nhưng chưa diễn tả được sức mạnh của lời Chúa.
Tập thơ hoàn thành được cũng là nhờ hoàn cảnh. Sau kịch bản “Tử Thần” viết trong thời gian làm quản lý ở Tiểu Chủng Viện Làng Sông, có thể nói là cha đã buông bút. Không phải vì cha lười nhưng vì bao nhiêu công việc dồn dập của một linh mục coi xứ cản trở. Mãi đến khi về Mằng Lăng mới thoát khỏi chuyện xây cất cơ sở, tổ chức hội đoàn và mới có được sự cô tịch tĩnh lặng. Và đó là lúc Đức Giám Mục bảo cha cầm bút lại.
- Không phải bản chất tôi lười nhưng có lẽ chứng đau gan khiến mình uể oải, nặng nề, ngại viết. Tuy nhiên, việc gì đã bắt đầu, tôi đều cố gắng làm xong, không bao giờ chịu bỏ dở. Với cái moindre effort, với chút cố gắng cần thiết thì việc gì rồi cũng xong. Tập này tôi đã bắt đầu thì cũng làm xong cho bằng được. Dù vậy, có những thời gian dường như là đêm tối, cả năm không viết được câu nào.
(Trích “Vài nét về cuộc đời linh mục nhà thơ Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn”)
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 135-136)















Á thánh Anrê Phú Yên
Á thánh Anrê Phú Yên


Đất Phú Yên có núi cao biển rộng

Có anh hùng tuổi trẻ sớm lừng danh

Anrê Phú Yên quả ngọt giống lành

Thơm đất mẹ, thơm khắp trời Âu Á.



Anrê, tên một vị tông đồ cả

Được tiểu anh hùng hết dạ kính tôn

Chọn làm cha, làm thầy dạy linh hồn

Để suốt đời sống theo gương Bổn mạng.



Phú yên, quê hương tình lai láng

Tiểu anh hùng đón nhận gởi thân danh

Từ tuổi thơ đến tuổi trưởng thành

Tên quê mẹ khắc sâu vào tim óc.


Anrê Phú Yên từ nay là bảo ngọc,

Là tấm gương chói rạng khắp trần gian,

Gương hy sinh, gương trí dũng song toàn,

Gương chí khí đã nên trang tuấn kiệt.


Hỡi Anrê, hỡi chàng trai đất Việt

Bạn là ai mà Giáo Hội tôn vinh?

Bạn là ai mà thiên hạ hoan nghênh,

Cho dựng tượng, cho hoạ hình kính nhớ?


Phải chăng:

Bạn là hoa của mùa xuân muôn thuở

Không bao giờ tàn úa dưới trời sương

Là nén hương thơm quý của muôn hương

Trước nhan Chúa muôn đời không tàn lụn

Là cây nến với thân hình bé mọn

Lần đầu tiên trên đất Việt thân yêu

Được thắp lên và cháy mãi không tiêu

Hơn ba trăm năm âm thầm như cổ mộ

Hôm nay được đặt trên bàn thờ lễ giỗ

Cháy bùng lên ánh sáng thật huy hoàng

Cháy bùng lên thành ngọn đuốc vinh quang

Cả thế giới khắp nơi đều hoan hỷ.


Hỡi Anrê, bạn đúng là chiến sĩ,

Là người trời đã sinh xuống trần gian

Để rao danh Giêsu khắp vũ hoàn

Qua tia máu bắn ra từ cổ họng

Khi miệng lưỡi hết kêu tên cực trọng

Khi lý hình đã chặt chiếc đầu rơi

Danh thánh Giêsu vẫn phát thành lời

Từ quả tim đang sục sôi lửa mến.

Quả tim ấy cũng chính là ngọn nến

Soi sáng cả cuộc đời Anrê Phú Yên

Và biến chàng thành một giáo lý viên

Nêu gương cho giới thiếu niên vạn đại.


Tác giả Nguyễn Xuân Văn, Lm
Lm Antôn (sao lục 24/7/2015)

Giáo lý viên giáo phận Xuân Lộc
Giáo lý viên giáo phận Xuân Lộc





Với thủ pháp kết hợp tư, Sứ Điệp Tình Thường không chỉ đơn thuần là một bản chuyển thể Phúc âm mà còn là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị về mặt văn học.
Với thủ pháp kết hợp tư, Sứ Điệp Tình Thường không chỉ đơn thuần là một bản chuyển thể Phúc âm mà còn là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị về mặt văn học.


Đôi lời giới thiệu bài viết: Thi Hào Nguyễn Du đã viết truyện Kiều với 3254 câu thơ lục bát.Linh mục F.Nguyễn Xuân Văn viết SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG với gần 10.000 câu và CUỘC ĐỜI ĐỨC MẸ trên 1000 câu nữa. Bài viết của Bác sĩ kiêm nhà thơ Đoàn Xuân Dũng năm 2005 giúp chúng ta so sánh thi tài của hai nhà thơ lục bát Việt Nam. Xin chân thành cám ơn Bs Đoàn Xuân Dũng. Lm Antôn Nguyễn Trường Thăng.

Bài 1 : KỸ NĂNG KẾT HỢP VÀ TẠO TỪ MỚI
CỦA THI SĨ NGUYỄN XUÂN VĂN

Khi vạch kế hoạch viết tác phẩm Sứ Điệp Tình Thường, có lẽ nhà thơ Nguyễn Xuân Văn đã tốn rất nhiều công sức để làm sao chuyển thể bộ Tân ước qua văn vần mà không làm cho người đọc nhàm chán khi tránh lập lại những từ ngữ thông thường, bằng cách kết hợp các thủ pháp của nghệ thuật làm thơ một cách thật linh động. Điều đó có thể minh chứng qua những cách kết hợp sau đây của tác giả.

I- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐIỆP TỪ, TÁCH TỪ VÀ CÂU ĐỐI XỨNG:

Ví dụ 1: Ôi! lòng tin kém dường nào
Giống như kẻ ngoại lo vào lo ra
Lo ăn mặc, lo cửa nhà
Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên. (1709 – 1712)

Để diễn tả tâm trạng của kẻ thiếu lòng tin, qua 3 câu thơ, tác giả đã sử dụng 6 lần điệp từ “lo” để nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại cái lo quá sức không cần thiết, kết hợp với phương pháp tách từ “vào” và “ra” để nhấn mạnh thêm tâm trạng không lúc nào an tâm, đồng thời sử dụng câu đối xứng “lo cau trổ muộn, lo già hết duyên” để diễn tả hết cái lo vật chất “ăn mặc, cửa nhà” đến cái lo tinh thần.

Ví dụ 2: Ăn làm sao? Nói làm sao?
Đất không nhận diện, / trời nào điểm danh.
Nghe lời Ta biết thực hành
Khôn ngoan nên mẫu, / trung thành nên gương. (1791 – 1794)

Tác giả tách từ “ăn nói’, “đất trời”, “gương mẫu” để tạo thành những vế đối trong trong cả hai câu tám để nhấn mạnh cái nội dung chính là phải “nghe lời Ta”.

Ví dụ 3: Thừa cơ nước đục sóng ngầm
Làm cho, cho lỡ cho lầm một phen
Ra tay đổi trắng thay đen
Sao cho, cho hạ cho hèn mới thôi. (3651 – 3654)

Khi sử dụng điệp từ “cho” và tách từ ‘lỡ lầm”, “hèn hạ” tác giả đã khiến cho âm mưu của bọn thầy thông biệt phái nhằm gài bẫy Chúa Giêsu trong vụ xử người đàn bà ngoại tình nhằm mục đích miệt thị Ngài trở trên nặng nề gấp bội.

Ví dụ 4: Nung không chảy, / cháy không tiêu
Càng không chết được, / càng nhiều đắng cay. (5015 – 5016)

Với thủ pháp tách từ “nung cháy” kèm vận dụng điệp từ “càng” khiến cho cả hai vế trong mỗi câu trở nên đối xứng một cách tài tình.

Ví dụ 5: Dựng nên nhân loại từ đầu
Một đôi nam nữ, / một khâu vợ chồng. (5101 – 5102)

Hai vế đối xứng của câu tám thật hay, cái đôi nam nữ ấy là cuộc hôn nhân đầu tiên mà Thiên Chúa đã tác hợp nên vợ chồng.

Ví dụ 6: Mặc cho suy ngắn luận dài
Mắt mù quáng mắt, / lòng chai đá lòng
Không còn phân biệt đục trong
Để mong hối cải, / để hòng an thuyên. (5827 – 5828)

Chỉ vỏn vẹn trong 2 câu thơ mà tác giả đã vận dụng phương pháp tách từ “suy luận” kết hợp với điệp từ “mắt”, “lòng” tạo nên vế đối thật chỉnh. Cái “mù quáng” và “chai đá” đó còn được nhấn mạnh thêm ở câu tám với vế đối “Để mong hối cải” / “Để hòng an thuyên”.

Ví dụ 7: Tố gian, tố dối một hồi
Bên mâu bên thuẫn, tố bồi lẫn nhau. (7863 – 7872)

Tính “gian dối”, cái “mâu thuẫn” càng trở nên nặng nề hơn khi được tác giả kết hợp thủ pháp tách từ “gian”, “dối” và “mâu”, “thuẩn” với điệp từ “tố”.

Ví dụ 8: Nhổ vào mặt, khạc vào đầu
Thi nhau bứt tóc giựt râu tơi bời. (7921 – 7922)

Hai động từ ghép “khạc nhổ” khi tách từ vẫn mang ý nghĩa độc lập nhưng nó lại được làm tăng thêm ý nghĩa khinh miệt khi đối tượng của nó được nhấn mạnh là “mặt”, “đầu” nhờ điệp từ “vào”.

II- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐIỆP TỪ, ĐIỆP NGỮ VÀ ĐẢO NGỮ:

Ví dụ 1: Được mời dự tiệc cao lương
Cùng ta kết nghĩa thịt xương thâm tình
Cùng nhau như bóng với hình
Trong hình có bóng, trong mình có Ta
Cùng nhau máu thịt hợp hoà
Trong thịt có máu, trong Ta có mình. (2789 – 1794)

Để diễn đạt mầu nhiệm của Bí Tích Thánh Thể và sự hợp nhất một cách trọn vẹn với Mình Máu Thánh Chúa, Linh mục Thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã sử dụng các điệp từ “trong”, “bóng”, “hình”, “máu”, “thịt”, “Ta”, “mình” và các điệp ngữ “cùng nhau” với cách đảo ngữ “trong Ta có mình”, “trong mình có Ta” làm cho ta có cảm tưởng nó đan xen một cách mật thiết mà không cách nào tách ra được. Phải là một người có kỹ năng sử dụng từ ngữ điêu luyện thì mới có thể vận dụng nó một cách nhuần nhuyễn như vậy.
Ảnh chân dung của cố linh mục
Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn thời trai trẻ

Ví dụ 2: Lại càng bị xéo bị dày
Lại càng dập mặt rách mày tả tơi
Lại càng đuối sức mòn hơi
Liệt gân rũ cốt rã rời tay chân
Cực thân cực xác một phần
Cực tâm cực trí ngàn lần thêm kinh.
Khổ lòng bằng vạn khổ hình
Tội đền vạ chịu công linh nào vừa. (8655 – 8662)

Trên đường khổ nạn, tác giả đã khéo dùng điệp ngữ “lại càng”, tách từ “cực khổ” và tạo thành các điệp từ “cực” và “khổ” đã làm tăng nỗi khổ đau của Đức Kitô lên bội phần.

III- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐIỆP TỪ, TỪ ĐỒNG NGHĨA, CÂU ĐỐI XỨNG:

Ví dụ 1: Gọi Thầy là Chúa là Thầy
Ý vừa đúng ý, / lời hay phải lời. (6797 – 6798)

Tác giả đã bố trí điệp từ ‘ý” và “lời” tạo thành hai vế đối xứng trong câu tám với từ đồng nghĩa “đúng’ và “phải” thật hay.

Ví dụ 2: Tuyên xong bản án bất công
Nghe lòng như bị mũi chông đâm vào
Nặng nề xuống khỏi toà cao
Vừa dơ dáng mặt, / vừa ngao ngán đời. (8571 – 8574)

Cách kết hợp điệp từ “vừa” với các từ láy “dơ dáng” và “ngao ngán” cùng vần “áng” tạo nên hai vế đối không những đã hay mà khi đọc lên còn tạo nên vần điệu thật êm tai.

Ví dụ 3: Xin Cha tha thứ, Cha ơi!
Bắt đền sao nổi, / bắt bồi sao kham. (8867 – 8868)

Kiểu tách từ “đền bồi” kết hợp với điệp từ “bắt” để nhấn mạnh rồi hai từ đồng nghĩa “sao nổi”, “sao kham” tạo nên hai vế đối không những hay về hình thức mà còn làm nổi bật nội dung câu thơ mà tác giả muốn nói lên.

Ví dụ 4: Dốt nghề nhờ cậy ai đây?
Bạn lơ láo bạn, tình trây trúa tình. (4705 – 4706)

Kết hợp điệp từ “bạn”, “tình” với từ láy “lơ láo”, “trây trúa” tạo nên hai vế đối xứng không những hay về hình thức mà còn sâu sắc về nội dung “Bạn lơ láo bạn” / “Tình trây trúa tình”.

IV- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐẢO TỪ VÀ CÂU ĐỐI XỨNG:

Đảo từ là một thủ pháp rất thường được các thi sĩ sử dụng trong thơ. Cái hay của Nguyễn Xuân Văn là không sử dụng thủ pháp này một cách đơn thuần mà kết hợp tạo nên những vế đối trong thơ lục bát.

Ví dụ 1: Giựt mình cả bọn ngã nhào
Chẳng còn biết đất trời đâu mà rờ
Giây sau bừng tỉnh giấc mơ
Hoang mang đầu óc, / bơ phờ tóc tai. (7703 – 7704)

Trong câu văn bình thường thứ tự câu phải được viết như sau:

– Đầu óc hoang mang.
– Tóc tai bơ phờ.

V- KỸ NĂNG LẶP TỪ VÀ TÁCH TỪ:

Ví dụ 1: Bao giờ gặp cảnh đuổi xua
Quỷ ma biết cách chào thua chạy dài
Quanh quanh quẩn quẩn bên ngoài
Xa ngôi nhà cũ độ vài ba hôm. (4351 – 4354)

Tác giả tách từ “quanh quẩn” để tạo nên kiểu lặp từ “quanh quanh”. “quẩn quẩn” khiến cho ta cảm thấy bọn quỷ dữ vẫn còn chờ thời cơ để tiếp tục làm huỷ hoại con người.

Ví dụ 2: Lời quan thực thực hư hư
Nghe ra đâu phải nói từ ruột gan. (8259 – 8260)

Ứng dụng thủ pháp tách từ “thực hư” để tạo nên kiểu lặp từ “thực thực”, “hư hư”, tác giả đã làm cho người đọc biết được cá tính của Phi- la- tô là không dứt khoát khi giải quyết vấn đề, chứng tỏ sự thiếu trách nhiệm trong cương vị của một vị quan tổng trấn.

VI- KỸ NĂNG KẾT HỢP TỪ ĐỒNG NGHĨA VÀ TRÁI NGHĨA TRONG CÂU ĐỐI XỨNG:

Ví dụ 1: Nào đâu thấy Chúa cơ hàn
Mà đem cơm áo ủi an bao giờ
Chúa đâu lưu lạc bơ vơ
Để mong cửa trước, để chờ ngõ sau
Bao giờ thấy Chúa ốm đau
Ngày lo cơm cháo, đêm hầu thuốc thang. (6551 – 6556)

Tác giả dùng cặp từ trái nghĩa “cửa trước”, “ngõ sau”; “ngày lo”, “đêm hầu” và “cơm cháo”, “thuốc thang” để tạo nên các vế đối xứng khién cho người đọc không thể không lưu tâm đến nội dung mà tác giả muốn diễn đạt.

Ví dụ 2: Mấy lời bảo khẽ vào tai
Người trong bối rối, kẻ ngoài phân vân. (6839 – 6840)

Với cặp từ trái nghĩa “người trong”, “kẻ ngoài” kết hợp với cặp từ đồng nghĩa “bối rối”, “phân vân” tạo nên hai vế đối xứng thật hoàn chỉnh.

VII- SỬ DỤNG CÂU ĐỐI XỨNG:

Câu đối là loại văn bản mang tính độc đáo của bản sắc văn hoá dân tộc và của văn hoá phương Đông. Đây là loại văn bản có tổ chức rất ngắn gọn chỉ gồm có hai câu được tổ chức theo kiểu kết cấu tương phản hay đối chọi nhau cả về hình thức âm thanh lẫn ý nghĩa. Nó là loại thơ 2 câu, thơ trang trí. Mỗi câu có 7 chữ, đứng riêng ra vẫn có ý nghĩa trọn vẹn.

Lm Nguyễn Xuân Văn
Lm Nguyễn Xuân Văn
Về mặt ngôn ngữ, câu đối được xây dựng trên cơ sở của “tính âm tiết”, một đặc điểm quan trọng của loại hình ngôn ngữ đơn lập, tiêu biểu là các ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Hán. Về mặt văn hoá, nó được xây dựng trên cơ sở triết lý âm dương lấy cân xứng để tạo nên hài hoà, lấy sự hoàn chỉnh để tạo nên vẻ đẹp có tính thẩm mỹ nghệ thuật.

Hiện nay với sự đa dạng của phong cách nghệ thuật, tính chất ngôn ngữ của câu đối cũng có nhiều biến đổi: ít có sự đối xứng hoàn toàn từng câu, từng chữ, mà lấy đối ý làm chủ yếu. Số chữ trong câu cũng không nhất thiết phải 7 chữ như trước mà mở rộng rất nhiều.

Dưới sự mở rộng đó, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã vận dụng cách đối này trong thơ lục bát ngay trong mỗi một câu thơ. Bởi vì trong thơ lục bát không có sự cân đối về số chữ giữa hai câu với nhau. Cho nên với câu 6, tác giả sử dụng cách đối xứng 3 / 3 và trong câu 8 là cách đối xứng 4 / 4. Khi chia đối xứng như vậy thì không thể nào có sự đối về luật bằng mà chỉ có thể đối ý mà thôi nhưng vẫn làm tăng tính nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm nhờ tăng thêm nhạc điệu của câu thơ.

1- Đối xứng trong câu 6 chữ:

Ví dụ 1: Đồng dòng dõi, / xứng tông môn
Cùng nàng đủ lễ đính hôn ước nguyền. (111 – 112)

Ví dụ 2: Chúa vào mở sách chọn đề
Lời Kinh ý nghĩa đủ bề triển khai
Người phục lý, / kẻ phục tài
Có tên quỉ ám lai nhai nhất thời. (1113 – 1116)

Ví dụ 3: Thấy tận mắt, / nghe tận tai
Nhiều người công chính vọng hoài khi xưa. (2211 – 2212)

Ví dụ 4: Xuyên qua ý, / thấu qua lòng
Chúa ngầm giải đáp bằng vòng dụ ngôn. (4645 – 4646)

Ví dụ 5: Sông chưa cạn, / đá chưa mòn
Đức Tin rồi nữa có còn hay không?

Ví dụ 6: Giờ ly biệt, phút tử sinh
Làm sao kể hết tâm tình cho vơi. (6877 – 6878)

Ví dụ 7: Trời đẹp mặt, đất tươi mày
Qua cơn ác mộng là hay Thầy về. (7281 – 7282)

Ví dụ 8: Không giật ghế, / chẳng giành ngai
Đời không phải chỗ tranh tài hơn thua. (8265 – 8266)

Ví dụ 9: Không đũa ngọc, / chẳng mâm son
Mà nhiều hương vị thơm ngon lạ lùng. (9425 – 9426)

2- Đối xứng trong câu 8 chữ:

Ví dụ 1: Hờn duyên tủi phận với người
Chịu câu khinh bạc, / nhịn lời mỉa mai. (39 – 42)

Ví dụ 2: Ông bà dáng dấp nghèo nàn
Người kinh bạc đuổi, / kẻ tàn bạo xua. (321 – 322)

Ví dụ 3: Thầy trò khăn gói đề huề
Hướng nhà quen lối, / bóng quê thạo đường. (1269 – 1270)

Ví dụ 4: Một hôm dân chúng gần xa
Vượt tràn sóng gió, / băng qua núi rừng. (1465 – 1466)

Ví dụ 5: Ôi lòng chai đá người ta
Lửa nung không chảy, / mưa sa chẳng sờn. (1929 – 1930)

Ví dụ 6: Con trai bị bố bỏ rơi
Gái xa hiền mẫu, / dâu rời mụ gia. (2577 – 2578)

Ví dụ 7: Chúng rằng: “Nhờ quỷ Dê- bu
Chở che phía trước, / hộ phù bên sau. (4285 – 4286)

Ví dụ 8: Hay là cho chúng thong dong
Xuống khe nước ngọt, / lên đồng cỏ thơm. (4481 – 4482)

Ví dụ 9: Vừa đi vừa giảng lần hồi
Sớm vùng thành thị, / chiều nơi xóm làng. (4489 – 4490)

Ví dụ 10: Chi bằng mời kẻ tật nguyền
Áo cơm túng thiếu, bạc tiền khó khăn. (4557 – 4558)

Ví dụ 11: Bao nhiêu của cải đâu còn
Chân tê sòng bạc, / gót mòn lầu xanh. (4825 – 4826)

Ví dụ 12: Hỡi quân ăn bẩn uống tồi
Ruột gan giả nghĩa, / miệng môi giả hình. (6271 – 6272)

Ví dụ 13: Bên trong dối trá ngang tàng
Độc ngâm đầy bụng, / ác mang nặng người. (6283 – 6284)

Ví dụ 14: Chúng con bền chí theo Thầy
Gian lao không bỏ, / đắng cay không rời. (6735 – 6736)

Ví dụ 15: Cùng nhau vinh hiển một nhà
Rượu thơm chung chén, / tiệc hoa đồng bàn. (6739 – 6740)

Ví dụ 16: Tô- ma cất giọng càu nhàu:
Rằng: “Nơi Thầy đến biết đâu mà dò?
Nếu Thầy không chỉ đường cho
Xa gần ai biết, / quanh co ai tường?” (6975 – 6978)

Ví dụ 17: Cho thế gian mở mắt ra
Thấy Con tận nghĩa, / thấy Cha tận tình. (7079 – 7080)

Ví dụ 18: Đoạn đường đau khổ còn dài
Đắng cay ngàn nỗi, / chông gai vô vàn. (7333 – 7334)

Ví dụ 19: Sau lưng đứa đẩy đứa xô
Dây da kéo cổ, / gậy thô đập đầu. (7777 – 7778)

Ví dụ 20: Kỳ hào tư tế quay cuồng
Như bầy quỷ ám, / như tuồng khùng điên
Chạy lui chạy tới liền liền
Tai nghe quỷ dục, / miệng khuyên sói gầm. (8387 – 8390)

Ví dụ 21: Trông Con thảm quá Con ơi!
Ngọc sa vũng lấm, / châu rơi bãi sình. (9103 – 9104)

Ví dụ 22: Rước thi thể Chúa đưa sang
Nước hoa rửa máu, / lụa vàng lau thương. (9153 – 9154)

Ví dụ 23: Các bà cúi mặt làm thinh
Nỗi e cứng miệng, / nỗi kinh ngại lời. (9221 – 9222)

Ví dụ 24: Cho muôn dân tỉnh mộng đời
Sương gieo ân tứ, / mưa rơi phúc lành. (9709 – 9710)

3- Đối xứng trong cả câu 6 và câu 8 chữ:

Ví dụ 1: Tay cầm bánh, / mắt nhìn trời
Xướng câu chúc tụng, / đọc lời tạ ơn. (6905 – 6906)

Ví dụ 2: Mặt biến sắc, / mắt lạc thần
Ngực thoi thóp thở, / người bần bật run. (8797 – 8798)

Ví dụ 3: Ngực căng cứng, ức vun cao
Thở ra khí uất, / hít vào nghẹn hơi. (8823 – 8824)

Ví dụ 4: Mẹ lo, Mẹ sợ biết bao
Chân run rẩy bước, / lòng xao xuyến buồn
Máu Con đổ, / lệ Mẹ tuôn
Hiệp công đền tội cho muôn ngàn đời. (8893 – 8896)

Với thủ pháp kết hợp tư, Sứ Điệp Tình Thường không chỉ đơn thuần là một bản chuyển thể Phúc âm mà còn là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị về mặt văn học.

VIII- SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ:

Trong kho tàng ngôn ngữ của dân tộc, thành ngữ, tục ngữ là những đơn vị có sẵn được hình thành từ lâu đời. Nó có đặc điểm là rất giàu hình ảnh và hình tượng.
Tác giả Sứ Điệp Tình Thường đã thường xuyên vận dụng thành ngữ, tục ngữ phục vụ cho mục đích xây dựng hình tượng tác phẩm.

Ví dụ 1: Nam nhi điểm mặt bốn phương
Anh hùng hào kiệt phải nhường cho Gioan. (1903 – 1904)

“Anh hùng hào kiệt”: anh là người có tài xuất chúng, hùng là người có sức mạnh khí phách, hào là tài giỏi hơn người, kiệt là là có tài năng hơn người.

Ví dụ 2: Tao nhân mặc khách xa gần
Được mời Chúa cũng góp phần chia vui. (2021 – 2022)

“Tao nhân mặc khách”: người tri thức, thích văn chương, thích sống cuộc đời thanh nhàn hợp với thiên nhiên.

Ví dụ 3: Hạt nhằm đất sỏi không may
Mọc lên độ một vài ngày nắng thiêu.
Hạt nhằm bụi rậm gai nhiều,
Nghẽn đi một sớm một chiều mà thôi. (2187 – 2190)

“Một sớm một chiều” : trong khoảng thời gian hết sức ngắn (khó có thể đạt được kết quả).

Ví dụ 4: Nhà nào huynh đệ tương tàn
Lại không sụp đổ tiêu tan cửa nhà. (4293 – 4294)

“Huynh đệ tương tàn”: anh em hoặc người cùng một nước tàn sát chém giết nhau.

Ví dụ 5: Thị thành là chốn ăn chơi
Ba que xỏ lá gặp thời “áp phe”
Vai mang gói bạc kè kè
Ma cô đĩ điếm vãn ve tối ngày
Đồng tiền không cánh mà bay
Giật mình tỉnh mộng trắng tay bao giờ. (4691 – 4698)

“Ba que xỏ lá”: một trò cờ bạc bịp bợm; những hạng người lừa lọc bịp bợm, đểu cáng.

“Không cánh mà bay”: tự dưng mất biến đi lúc nào không biết, mất rất nhanh và đột ngột.

Ví dụ 6: Đời tôi trúc chẻ ngói tan
Em tôi còn ở dương gian năm người. (5035 – 5036)

“Trúc chẻ ngói tan”: trúc chẻ là thế chẻ mạnh, chẻ được một mắt thì các đốt sau tự nứt toát hết; ngói tan là thế phá mái ngói, chỉ vỡ một hòn, thì các hòn khác tự xô xuống. Trong câu thơ này ý nói cuộc đời của ông phú hộ đã bỏ đi rồi không còn thể cứu vãn được nữa.

Ví dụ 7: Trời cao đất rộng muôn trùng
Ta đi không thể tháp tùng theo Ta. (6885 – 6886)

“Trời cao đất rộng”: trời cao không vươn tới, đất rộng không đi hết.

Ví dụ 8: Cùng nhau một hội một thuyền
Thương nhau như cắt máu chuyền cho nhau. (6893 – 6894)

“Một hội một thuyền’: cùng chung một hoàn cảnh, một cảnh ngộ hoặc một bè phái phe cánh.

Ví dụ 9: Gặp khi gió táp mưa sa
Nhớ rằng Thầy đã phán qua mọi lời. (7213 – 7214)

“Gió táp mưa sa”: gió đập mạnh, mưa nặng hạt. Chỉ sự phũ phàng của thiên nhiên đối với hoa cỏ cây cối, ngầm chỉ sự vùi dập phũ phàng của cuộc đời đối với thân phận mong manh của con người.

Ví dụ 10: Đánh thôi đất thảm trời sầu
Khắp người toé máu nát nhầu thịt da. (8441 – 8442)

“Đất thảm trời sầu”: cảnh u buồn đau khổ.

IX- CẢI BIÊN THÀNH NGỮ VÀ TỤC NGỮ:

Đặc biệt là tác giả phối hợp cả phương pháp tách từ, đảo ngữ và cải biên các thành ngữ và tục ngữ một cách hết sức sáng tạo.

1- Đảo ngữ thành ngữ:

Ví dụ 1: Bấy lâu dãi nắng dầm mưa
Quần chưa biến sắc, áo chưa thay màu. (2399 – 2400)

“Dãi nắng dầm mưa” là đảo thành ngữ “dầm mưa dãi nắng”.

Ví dụ 2: Chúa rằng: “Không phải thế đâu
Cháu con tất phải giống màu cha ông
Không giống cánh, cũng giống lông
Chỉ làm những việc tổ tông đã làm. (3785 – 3788)

“Không giống cánh, cũng giống lông” là đảo thành ngữ “Không giống lông, cũng giống cánh”.

Ví dụ 3: Dù ai lớn mật gan lì
Không sao cướp được điều gì nơi Cha. (4239 – 4240)

“Lớn mật gan lì” là cải biên và đảo thành ngữ “to gan lớn mật” chỉ kẻ ương bường liều lĩnh.

Ví dụ 4: Nước Tôi không bởi gian trần
Tôi không mãi mã chiêu quân bao giờ. (8251 – 8252)

“Mãi mã chiêu quân” là cải biên và đảo thành ngữ “ chiêu binh mãi mã” chỉ sự mộ quân mua ngựa, tập hợp lực lượng xây dựng thêm vây cánh.

2. Cải biên thành ngữ:

Ví dụ 1: Âm thầm tính chuyện bôn đào
Ba mươi sáu chước, chước nào hay hơn. (281 – 282)

“Ba mươi sáu chước, chước nào hay hơn” là cải biên thành ngữ “Ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn”

Ví dụ 2: Phần thầy dạy các con rằng
Dĩ ác báo ác sao bằng thi ân. (1595 – 1596)

Trong câu thơ trên “Dĩ ác báo ác” là cải biên thành ngữ “Dĩ ân báo oán” là lấy ân đức báo lại oán thù.

Ví dụ 3: Luật truyền: yêu bạn ghét thù
Song Thầy bảo thật: cho dù địch nhân
Hãy yêu chẳng khác người thân
Thi ân cho kẻ vong ân bạc tình. (1605 – 1608)

“Vong ân bạc tình” là cải biên thành ngữ Hán- Việt “Vong ân phụ nghĩa” nói về sự không nhớ đến công ơn những người đã cưu mang giúp đỡ mình, bội phản lại tình nghĩa bấy lâu có được.

Ví dụ 4: Cho dù không phải gà nhà
Chẳng nên chuốt cựa để mà chọi nhau
Ai không ăn trước đá sau
Tức là ủng hộ có đâu ngại gì? (3329 – 3332)

“Ăn trước đá sau” là cải biên thành ngữ “Ăn trước trả sau”

Ví dụ 5: Nầy Ta bảo thật các ngươi
“Một người tội lỗi cải hồi hoàn lương
Thiên thần hoan hỉ phi thường
Reo vui nhộn cả thiên đường khác chi?” (4669 – 4672)

“Cải hồi hoàn lương” là tác giả cải biên thành ngữ “cải ác hoàn lương”.

Ví dụ 6: Lão rằng: “Khốn nạn thân tôi!
Thời gian đâu để đền bồi nữa đây?
Hỡi ơi mang kiếp đoạ đày!
Hết còn trời rộng đất dày kêu than. (5031 – 5034)

“Trời rộng đất dày” là cải biên thành ngữ “Trời cao đất rộng”.

Ví dụ 7: Nàng rằng: “Khổ lắm ông ơi!
Ví dù ông đã cất Người đi đâu
Nghe tôi khẩn thiết van cầu
Xin cho: “Hợp Phố đưa châu trở về. ” (9289 – 9292)

Tác giả đã cải biên thành ngữ “Châu về Hợp Phố” thành câu “Hợp Phố đưa châu trở về”.

X- KỸ NĂNG GHÉP TỪ ĐỂ TẠO CỤM TỪ MỚI:

Đây chính là tính sáng tạo của nhà thơ khi đã nắm bắt được tất cả các thủ pháp sử dụng từ để tạo ra những cụm từ mới giúp cho ngôn ngữ tiếng Việt ngày càng phong phú hơn.

Ví dụ 1: Nếu con yêu kẻ yêu con
Bèo qua đúc lại thì còn công chi. (1615 – 1616)

Tác giả tách từ “qua lại” để ghép với từ “bánh bèo”, “bánh đúc” và cải biên thành ngữ “Bánh ít trao đi bánh quy trao lại” để tạo nên một thành ngữ mới “bèo qua đúc lại”.

Ví dụ 2: Ngoài ra tôi thích từ bi
Ăn gừng trả mật phiền gì anh đâu? (5241 – 5242)

Tác giả cải biên thành ngữ “ăn cám trả vàng” để tạo một thành ngữ mới “ăn gừng trả mật” mà không làm thay đổi nội dung ngữ nghĩa.

Ví dụ 3: Cai- pha hắng giọng lấy oai
Truyền đem can phạm đối khai trước toà.
Hằm hằm một bọn trảo nha
Lôi người bị trói đứng ra giữa phòng. (7861 – 7862)

Từ “đối khai” hàm nghĩa là công khai đối chất.

Từ “trảo nha” hàm nghĩa là bọn nha đinh tra khảo.

Ví dụ 4: “Tôi dù là kẻ vong ân
Ông là tên bợm sát nhân lộng hành
Tôi đem bán máu người lành
Tội tôi quá nặng không đành cam tâm. ”
Cai- pha nghiêm mặt âm trầm
Hội đồng cưởi khỉnh ầm ầm quát lên. (8063 – 8068)

Từ “âm trầm” hàm nghĩa thâm trầm và âm hiểm.

Ví dụ 5: Tha tên ác quỷ hung thần
Trao Con Thiên Chúa cho quân lý hình
Tức thì cả một cơ binh
Mật xà, gan sấu sinh linh coi thường. (8421 – 8424)

Từ “mật xà” là túi mật của con rắn, ý nói là sự ác độc.

Từ “gan sấu” là lá gan của cá sấu, ý nói về sự hung dữ.

Ví dụ 6: Lần đầu lúc Chúa hiện ra
Môn nhân đủ mặt, Tô- ma thiếu mày. (9505 – 9506)

Nhà thơ dùng thủ pháp tách từ “đủ thiếu” và ‘”mặt mày” để ghép thành từ mới là “đủ mặt” và “thiếu mày”.

(còn tiếp)

Được tạo bởi Blogger.