TÙ BỎ BAO CHO TÙ (VƯỜN Ô-LIU 7)


Hồi ký của LM. Phêrô Nguyễn Văn Tiến
Tưởng nhớ 6 năm Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận về Nhà Cha. Và một năm lập hồ sơ phong Chân Phước.

Cố ĐHY Thuận và Mẹ thánh Teresa Calcutta 

Nhân ngày kỷ niện 16-9-2008 (sáu năm) Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn văn Thuận được gọi về Nhà Cha hưởng hạnh phúc vĩnh hằng, Và để hồ sơ phong Chân Phước cho Ngài được thêm phong phú, nếu tôi không viết bài này thì tôi có lỗi với Ngài, vì tôi mắc nợ Ngài quá nhiều:


Năm 1978 tình hình Việt Nam rất lộn xộn về kinh tế chính trị, phía bắc thì Trung Quốc lăm le tràn quân xuống phương nam, Việt Nam bất ổn về mọi mặt, những sĩ quan chế độ Sài Gòn, đã được thả về, và một số đối tượng khác nữa mà họ cho là nguy hiểm, thì được tập trung để tái cải tạo, (vì tôi bị cải tạo lần đầu từ 31-8-1975 đến ngày 04-01-1977) tôi cũng được liệt vào thành phần tái cải tạo. Ngày 12-9-1978, tôi được công an tỉnh Bình Thuận ra Giáo Xứ Long Hương bắt tôi vì lúc đó tôi là linh mục Chánh Xứ Long Hương, đem vào trại tập trung số một ờ thị xã Phan Thiết. Khi Trung Quốc xua quân tràn xuống những tỉnh ở phiá bắc Việt Nam, thì kinh tế VN lại còn thê thảm biết bao, Chỉ tội nghiệp cho mấy ông tù mà thôi, thật đúng như lời ông bà nói: 'Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.'

Sau một thời gian dài đói khổ, rồi một hôm tôi nhận được quà bỏ bao, và đồ bỏ bao nhiêù gấp ba lần hơn mọi khi. Trên bao đựng hai ký đường miếng mầu vàng có đề chữ: “Bác Thuận gởi quà". Lúc bấy giờ tôi nghĩ là một người họ hàng nào đó gởi cho. Tôi không bao nghĩ tới là Đức TGM FX Nguyễn văn Thuận. Sở dĩ tôi gọi là bỏ bao, vì từ 12-9-1978 đến khi tôi ra tù là ngày 01-12-1983, chưa bao giờ tôi được thăm nuôi, thăm nuôi có nghĩa là được gặp mặt gia đình và nhận quà trực tiếp do gia đình đưa. Hơn năm năm ở trong phòng biệt giam, ngày 01-12-1983, tôi được thả về, nhưng không cho về lại giáo xứ Long Hương, cũng không cho tôi về gia đình ở với mẹ gìà tại Giáo xứ Thanh Hải, Giáo Phận Phan Thiết, mà bắt tôi đi vùng kinh tế mới cách thị xã Phan thiết 23 km đường đi về Sài Gòn, ở với người anh. Hiện nay là giáo xứ Thánh Phao Lô, giáo phận Phan Thiết.

Một sự việc làm cho cho tôi ngạc nhiên là được mẹ tôi kể lại là trong thời gian tôi ở tù là được Đức TGM FX Nguyễn Văn Thuận gởi tiền cho mẹ tôi mua quà BỎ BAO cho tôi, lúc đó Ngài bị biệt giam ở Giáo xứ Cây Vông. Mẹ tôi kể hàng tháng có người đem tiền vào bảo mẹ tôi mua quà bỏ bao cho tôi, và hỏi thăm sức khoẻ cùa tôi, mẹ tôi nói với người đưa tiền là từ ngày tôi bị bắt đến nay chưa bao giờ thấy mặt, nên không biết sức khoẻ thế nào, cô về nói với Đức TGM cầu nguyện nhiều cho con tôi với. Thật là lạ lùng, một tù nhân không lo cho mình, mà lo cho người con cũng trong lao tù. Có lẽ Ngài thương tôi, vì tôi bị biệt giam: hai chân bị cùm, hai tay bị còng trong một thời gian dài, vì chính Ngài cũng đã sống trong cảnh biệt giam như tôi, nên đã hiểu cái khổ của biệt giam như thế nào rồi: " Nhất nhật biệt giam, vạn thu tại ngoại."

Năm 1986, tôi vào thăm một gia đình ở xứ Ba Chuông, tôi tình cờ gặp một Cán Bộ Nhà Nước, chủ nhà giới thiệu tôi là linh mục quê ở Phan Thiết, đã bị tù trên 5 năm, từ hai chữ tù, chúng tôi quen nhau. Ông nói ông là cai tù, tù nhân của ông chỉ có một người: Một con người đặc biệt, đó là TGM FX Nguyễn Văn Thuận. Ông khen TGM Thuận là người rất dễ thương, đẹp trai, miệng luôn nở nụ cười. Có la rầy Ngài, Ngài vẫn tươi cười, sống không làm mất lòng ai, kể cả ông cai tù, Ngài cũng thương, cũng mến. Lúc đầu tôi không có cảm tình gì với Ngài như bao nhiêu người cộng sản khác, nhưng ở với Ngài được thời gian ngắn, từ ác cảm đến cảm tình. Ngài rất thương tôi, tôi cũng mến thương Ngài. Sau một thời gian, tôi nhận định Ngài là một nhà tu hành chính thống. 

Ông kể cho tôi nghe TGM Thuận nói: “năm 1987, nền kinh tế Việt Nam sẽ thay đổi.” Tôi - người viết bài này - chờ cho đến năm 1987 xem nền kinh tế VN như thế nào, có xảy ra như lời ĐỨC TGM FX Nguyễn văn Thuận tiên báo không? Và tạ ơn Chúa, sự thật xảy ra đúng như vậy. Ông thấy tôi ngồi nghe ông, có vẻ không tin, ông đứng dậy lại bàn thờ, với tay lấy một cái vật gì đó cầm lại đưa cho tôi và nói linh mục biết cái này không, tôi cầm, tôi nhìn và tôi sững sờ, vì đó lọ Dầu Thánh kẻ liệt bằng ngà voi có đề chữ : IO, OS, SC. Ông ta lại hỏi tôi tiếp, linh mục có biết cái này cùa ai không? Tôi yên lặng không trả lời, ông nói tiếp : của TGM Thuận đó. Khi chia tay, Ngài đưa cho tôi cái này và dặn tôi khi nào gặp một linh mục thì ông đưa lọ này cho linh mục đó. Nghe của TGM Nguyễn văn Thuận, linh mục Tống Đình Quý, học dưới tôi một lớp và rất thân nhau, từ phòng chạy ra lanh tay lanh miệng nói với tôi: thôi bác nhường laị cho em nhé, miệng nói tay lấy. thế là lọ Dầu Thánh xức dầu bệnh nhân hiện thời Linh Mục Tống Đình Quý đang giữ, và Ngài hiện đang ở Đà lạt. 

Sở dĩ lâu nay tôi không dám viết câu truyện “Người Cai tù của Đức TGM FX Nguyễn Văn Thuận", vì tôi nghĩ sợ liên lụy đến Ông Cai Tù, nhưng đã gần 25 năm trôi qua, chắc Ông Cai Tù đã sang thế giới bên kia, nên tôi mới mạnh dạn viết câu truyện giữa tôi và Ông Cai Tù về Đức TGM FX Nguyễn Văn Thuận. Ông Cai Tù, người Cộng sản nòi và có lẽ nắm một địa vị quan trọng, nên mới được chỉ định coi sóc đặc biệt một Con Người cũng đặc biệt là ĐỨC TGM FX. Nguyễn văn Thuận. Sau một thời gian, người cán bộ này đã không cảm hóa Đức TGM FX. Nguyễn Văn Thuận, mà ngược lại, chính đời sống của Tù Nhân đã cảm hóa được Ông Cai Tù. Như lời Ông Cai Tù nói lần đầu tiên tôi gặp Ngài, nét mặt tôi lạnh như tiền, tôi nhìn Ngài, Ngài nhìn tôi với một nụ cười trên môi, Ngài chào tôi với một giọng nói nhỏ nhẹ, từ giây phút đầu khi gặp Ngài, hình như tôi đã bị Ngài xâm chiếm, tôi cảm thấy thế nào đó và thời gian cứ trôi qua và mỗi lần tiếp xúc với Ngài, tôi lại cảm thấy con người của tôi thế nào đó mà tôi diễn tả không được. Rồi một hôm, sau khi gặp Ngài, tôi cảm nghiệm được con người của tôi biến đổi từ ác cảm sang bình thường, từ bình thường sang có cảm tình và nhiều khi tôi cảm thấy tôi chỉ là miếng sắt vụn, còn Ngài là cục nam châm khổng lồ và tôi luôn luôn bị Ngài cuốn hút, và chúng tôi trở nên thân thiện với nhau, tin nhau, và trở thành bạn thân của nhau. Ngài tin tôi nên mới đưa lọ dầu gì đó cho tôi. Tôi muốn nói ở đây: Người Cai Tù Cộng Sản nòi, đã được học bao lý thuyết Cộng Sản, nhưng đã thất bại trước một địch thủ, tay không, trong một hoàn cảnh cô thân độc mã, nhưng với một vũ khí sắc bén duy nhất: Đó là lòng nhân đạo, đó là Sức Mạnh của Tình Thương, đúng như Chúc Thư của Ngài được Cố Giáo Hoàng Gioan - Phao lô II đọc trong Thánh Lễ An Táng của Ngài: “Hãy yêu mến Đức Mẹ, hãy tín thác nơi Thánh Giuse, hãy trung thành với Giáo Hội, hãy đoàn kết và yêu thương tất cả mọi người.”

Tiện đây tôi nói đến lòng yêu thương của Ngài đối anh em linh mục trong giáo phận Nha Trang lúc còn chính quyền Sài Gòn. Sở dĩ tôi biết rõ, vì cha Augustino Phạm Ngọc Oanh, nghĩa phụ của tôi làm cha quản Hạt nhiều năm, nên mỗi lần đi Sài Gòn, ĐGM FX. Nguyễn Văn Thuận thường ghé vào giáo xứ Thanh Hải, Phan Thiết. Có một lần tôi được nghe Ngài nói với cha Aug. Phạm Ngọc Oanh: "Ở trong Hạt của Cha, nếu có các cha nào bệnh hoạn, cha hãy đưa các cha vào bệnh viện St. Paul chữa trị, Tôi sẽ thanh toán mọi chi phí." Đối với các cha xứ ở vùng quê nghèo, Ngài lưu ý một cách đặc biệt, và đặc biệt hơn nữa đối các linh mục sống trong vùng xôi đậu, Ngài luôn động viên, thăm hỏi sức khỏe, giúp đỡ về mặt tài chánh. Ngài vẫn thường nói: “Anh em Linh Mục là cánh tay của tôi, Gíám Mục mà không có Linh Mục thì cũng như không, thành công của Linh Mục là thành công của Giám Mục, thất bại của Linh Mục là thất bại của Giám Mục. Nếu nhiều Linh Mục trong giáo phận mà bất mãn với Giám Mục, hoặc ốm đau bệnh hoạn thì giáo phận sẽ không bao giờ phát triển.” Bởi vậy, Ngài luôn luôn săn sóc, thông cảm với các linh mục trong giáo phận: Thương yêu, săn sóc, giúp đỡ, thăm hỏi và nhất khi gặp hoạn nạn, ốm đau.


Đối với các thầy trong giáo phận, Ngài cũng lưu tâm đặc biệt và biết tên từng thầy, nếu Ngài gặp một lần. Và nếu thầy nào chưa có cha nghĩa phụ, thì Ngài nhận để khuyến khích ƠN THIÊN TRIỆU, và Ngài đã có trên 20 người con làm linh mục trong đó có một linh mục người Mỹ tên là John Prinelli. Tất cả các Giám Mục liên hệ với đời sống tu trì của tôi, hình ảnh Cố Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận luôn luôn trong trái tim tôi. Khi tôi còn là một ông thầy học Gíáo Hoàng Học Viện PIO X, ở thành phố thơ mộng Đà Lạt, hằng năm đến ngày 29-6, lễ Thánh Phêrô, Quan Thầy của tôi, bao giờ tôi cũng nhận được một tấm card chúc mừng của Ngài gởi. Từ năm 1967 đến 19-3-1975, hằng năm Ngài lên Đà Lạt thăm các thầy thuộc Giáo Phận Nha Trang, học ở Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Có lần thì Ngài mang cho các thầy 4 hoặc 5 ký cá mực, có lần Ngài mang bánh it. Tôi nhớ cái cảnh Cha con ngồi chung nướng cá mực, ăn bánh ít trong không khí lạnh mưa phùn, thật là ấm cúng và đầy tình thương . Tôi tự nghĩ: ít ký cá mực, ít cái bánh ít, tự bản chất nó không là gì, nhưng nó nói lên tình yêu thương của người Cha đối với các con, nó nói lên sự hòa đồng thân mật. Một Giám Mục luôn luôn nghĩ đến và sống bình dân với các thầy, thật một Giám Mục đặc biệt, và hiếm có trong hàng Giáo Phẩm.

Để kết luận bài này, tôi xin được trích đoạn đăng trên Vietcatholic News nhân ngày giổ thứ sáu của Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận : 16-9-2002 – 16-9-2008 : “Lúc 18giờ ngày 16-9-2002, khi nghe tin Đức Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận qua đời, Đức Cha Giampaolo Crepaldi, Tổng thư ký Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình đã tuyên bố với báo chí: "MỘT VỊ THÁNH VỪA QUA ĐỜI. "

Phú hài, Ngày 01-10-2008

LM. Phêrô Nguyễn Văn Tiến

Cuốn sách đầu tay của Đức HY FX Nguyễn Văn Thuận khi còn là linh mục, sau 3 năm du học ở Roma, được xuất bản tại Huế năm 1960, nhân kỷ niệm năm thứ 2 triều đại của Tân Giáo Hoàng Gioan XXIII.

Xin cám ơn anh Nguyễn Đăng Trúc PX59 (Pháp), đã chuyển cho Ban Biên tập nội dung của cuốn sách này.

Thánh Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII


Lời nhóm chủ trương tái bản tập sách


Vừa bước chân về Việt-Nam sau ba năm du học ở Roma, linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận có lẽ ôm ấp một hoài bão là làm sao diễn tả tâm tình quí mến của mình đối với Đức Thánh Cha Gioan XXIII, Người Cha Chung đã dấy lên trong toàn thể thế giới niềm vui và hy vọng của Chúa Phục Sinh, của Thánh Thần canh tân qua quyết định can cường chuẩn bị tổ chức Công Đồng Vatican II. Hoài bão đó thành sự thực khi tập sách, có lẽ là tập sách đầu tay, ra đời năm 1960 nhằm kỷ niệm năm thứ hai triều đại của vị Tân Giáo Hoàng .

Lúc linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận viết và cho xuất bản cuốn sách nầy, chúng tôi là chủng sinh dưới sụ dẫn dắt cuả ngài (Ngài dạy Pháp-văn lớp chúng tôi, cha linh hướng, sau đó là bề trên tiểu chủng viện). Chúng tôi hãnh diện về người thầy, người cha, người bề trên vui tính, luôn chứng thực niềm hạnh phúc tràn trề của đời sống linh mục, lạc quan nhìn tương lai và thực hiện những canh tân liên tục, từ xây dựng cơ sở vật chất, tổ chức giáo dục, tạo bầu khí cởi mở, gia đình, huynh đệ trong khung cảnh đàm ấm của chủng viện Huế lúc bấy giờ.

41 năm sau, khi đọc lại cuốn sách ngài viết, những ai đã từng được sống cạnh linh mục, giám mục, tổng giám mục Nguyễn Văn Thuận (và có lẽ cả những người canh giữ ngài trong tù) hẳn sẽ chứng thực rằng cuộc đời vị Chân Phước Gioan XXIII thật sự thấm nhập con người và những ngày tháng thăng trầm của người thầy, người cha của mình.

Trong cảm nghiệm đó, chúng tôi, một nhóm người thân, học trò và nghĩa tử, khi tiếp nhận tin vui về cha và thầy của mình được Tòa Thánh cắt cử lên tước vị hồng y, vội quyết định xin tái xuất bản cuốn sách đầu tay của tác giả, hy vọng cùng tác giả chia sẻ niềm vui và hy vọng của Chúa Phục Sinh qua gương sáng nơi cuộc đời Chân Phước Gioan XXIII.

Một đại diện Nhóm Thực Hiện tái xuất bản tập sách.

Một nhóm người thân, nghĩa tử, học trò

Lê Đăng Ảnh, Lê Cần, Nguyễn Văn Dụ, Cao Minh Dung, Peter Trần Dzũng, Nguyễn Hiếu, Trần Ngọc Huỳnh, Lê Hữu Liệu, Phan Văn Lợi, Phạm Đăng Mẫn, Nguyễn Văn Năm, Lê Đăng Vĩnh Phú, Nguyễn Như Quỳnh, Nguyễn Văn Thảo, Nguyễn Kim Thông, Hoàng Đình Thường, Hồ Trí Thức,Văn Đức Triêu, Nguyễn Đăng Triệu, Nguyễn Đăng Trúc, Lê Hữu Tú, Nguyễn Đức Tuyên, Nguyễn Linh Tuyên, Nguyễn Văn Tuyến, Nguyễn Bá Tùng...

Chủ trương tái xuất bản để kính mừng tác giả
Tân Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
Ngày 21 tháng 02 năm 2001


ĐHY PX Nguyễn Văn Thuận

Cùng các độc giả


Ngày 28 tháng 10 năm 1958 các Hồng Y trong Mật -tuyển viện đã bầu Đức Hồng Y Angelo Giuseppe Roncalli làm Giáo Hoàng, đội tên là Gioan XXIII.
Dư luận buổi đầu cho Ngài là một vị Giáo Hoàng giao thời. Nhưng mới 2 năm mà Ngài đã đưa thế giới đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, vì những công việc lớn lao Ngài đã làm, đang làm và sẽ làm trong thinh lặng.
Bí quyết giúp Ngài thành công hiển hách như thế là gì ? Thông minh ư ? Ngoại giao ư ? Óc thủ lĩnh ư ? Không, Ngài bảo các tài ấy là lệ thuộc. Đây mới là điều chính: Ngài là Cha và là Đấng chăn chiên (Pater et Pastor).
Lâu nay chúng tôi thu thập một số tài liệu về thân thế và sự nghiệp của Đức Thánh Cha Gioan XXIII, nhưng chúng tôi chưa có ý định sắp thành sách, vì còn thiếu sót nhiều điều. Nay nhân lễ Bát tuần của Vị Cha Chung, chúng tôi đánh bạo cho ra ánh sáng với một mục đích khiêm tốn: cống hiến giáo dân một tài liệu học tập về Đức Thánh Cha Gioan XXIII.
Chúng tôi chỉ mong giáo dân càng ngắm kỹ càng thêm lòng kính mến Đức Thánh Cha, và tin tưởng Chúa Quan Phòng hằng ban cho Giáo Hội những Vị Thủ lãnh xứng hợp với thời đại.
Nhận thấy tập này còn nhiều khuyết điểm, vì không kịp soạn kỹ, chúng tôi xin độc giả khoan dung cho, và xin cám ơn độc giả trước vì những lời chỉ giáo độc giả sẽ vui lòng ban cho chúng tôi.


Kỷ niệm Đệ nhị Chu niên Đức Gioan XXIII
đắc cử Giáo Hoàng.
28-10-1958 / 28-10-1960


Tải sách về máy







Trong tác phẩm Đường Hy Vọng, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận nói: “Cầu nguyện là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Lúc cầu nguyện con nối liền, kết hợp với Thiên Chúa. Bóng điện sáng nhờ nối liên với máy phát điện” (ĐHV #120).

Bạn đọc thân mến, Chúa Giêsu đã luôn cầu nguyện với Thiên Chúa Cha và Ngài cũng dạy chúng ta cầu nguyện không ngừng. Như thế đời sống Kitô hữu chúng ta quả thật trở nên vô nghĩa nếu không sống và làm theo Đấng mà chúng ta tin yêu đã truyền dạy: đó là cầu nguyện. Nhưng cầu nguyện thế nào?


Kính thưa các bạn, Chúa Giêsu đã dạy Kinh Lạy Cha như một mẫu mực cầu nguyện và dựa vào đó, qua bao đời, các thánh, các Đức Giáo Hoàng, các nhà tu đức... cũng đã để lại rất nhiều mẫu mực cầu nguyện. Những lời cầu nguyện đó phát xuất từ nhưng nhu cầu chung hay cũng có khi từ nhưng cảm nghiệm cá nhân của các ngài trong mối liên hệ với Chúa. Nhờ đọc và suy những mẫu mực cầu nguyện đó, chúng ta tìm được nguồn cảm hứng để bày tỏ nỗi lòng chất chứa những tâm sự to nhỏ với Chúa.

Các bạn thân mến, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, một nhân vật sáng ngời đang tô lên những dấu tích lịch sử trong Giáo Hội Hoàn Vũ, đặc biệt Giáo Hội Việt Nam, bằng những hoạt động và đời sống chứng nhân của Ngài. Trước khi Ngài rao giảng về hy vọng, Ngài đã thực sự vững tin và kiên trì sống với hy vọng giữa những năm tháng tuyệt vọng nhất nơi ngục tù. Trước khi nói về cầu nguyện, Ngài đã sống cầu nguyện.

Kính thưa các bạn, tập sách Cầu Nguyện của Đức Hồng Y Phanxicô mà các bạn đang cầm trên tay, gồm 90 bài suy gẫm và cầu nguyện, là những mẫu mực cầu nguyện thật sống động. Các bạn hãy đọc và tìm ra nguồn cảm hứng cầu nguyện từ một nhân chứng của cầu nguyện và hy vọng. Nào! Xin mời bạn bắt đầu đọc và cầu nguyện đi.

Tải về máy tại đây


LỜI MỞ ĐẦU


Các bạn trẻ thân mến,

Đứng giữa quang cảnh tuyệt vời, đồi lúa chín vàng, biển rộng mênh mông một màu xanh da trời, với những làn sóng bạc, tôi nghĩ ngay đến Chúa Giêsu đang nói chuyện với dân chúng. Nhìn khuôn mặt các bạn với đôi mắt Chúa Giêsu, từ đáy lòng tôi muốn kêu lên: “Các bạn trẻ thân mến, tôi yêu các bạn! Yêu các bạn rất nhiều!”

Tôi rút cảm hứng từ Phúc âm Thánh Gioan chương 6, để nói chuyện với các bạn. Hãy đứng dậy, mời các bạn nghe lời Chúa.

Phúc âm Chúa Giêsu theo thánh Gioan: Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp rằng: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” Người nói thế là để thử ông, chứ Người biết mình sắp làm gì rồi. Ông Phi-líp đáp: “Thưa, có mua đến hai trăm bạc bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. Một trong các môn đệ là ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, thưa với Người: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng ngần ấy thì thấm vào đâu!” Đức Giêsu nói: “Anh em cứ bảo người ta nằm ngả xuống đi”. Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta nằm ngả xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. Vậy Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tùy ý (Ga 6, 5-11).

Trên đường tiến đến Năm Thánh 2000, chúng ta tìm hiểu:
– Chúa Giêsu là ai?
– Tại sao ta yêu mến Ngài?

Làm thế nào phó thác mình cho tình yêu của Chúa, cho đến mức độ chọn lựa Ngài một cách tuyệt đối, không ngại tiến bước trên đường xa thẳm, không ngại nhọc nhằn lê bước dưới trời nắng oi ả, chẳng kiếm đâu ra một chút tiện nghi?

Trong Sứ điệp gửi các bạn trẻ nhân ngày Quốc tế Giới trẻ lần thứ XII, năm 1997 tại Paris, Đức Thánh Cha viết:

Hiệp thông với toàn thể dân Chúa đang tiến đến năm Đại Toàn Xá 2000, tôi kêu mời các bạn nhìn kỹ vào Chúa Giêsu. Ngài là Thầy và là Chúa của đời ta. Hãy suy niệm lời Phúc âm Thánh Gioan (Ga 1, 38-39):
– Thưa Thầy, Thầy ở đâu?
– Hãy đến rồi sẽ thấy.

Bản thân tôi đã từng là một thanh niên như các bạn, rồi làm Linh mục, Giám mục. Tôi đã đi qua một quãng đường, hân hoan có, lao khổ có, tự do có, lao tù có, nhưng luôn luôn tràn trào hy vọng.

Tôi thật lúng túng mỗi khi người ta yêu cầu tôi thuật lại kinh nghiệm bản thân, đã chọn Chúa Giêsu và bước theo Ngài thế nào. Nói về mình không hay tí nào. Nhưng tôi đã đọc cuốn: “Những bất ngờ của Thiên Chúa” (tiếng Pháp là “Les imprévus de Dieu”). Tác giả là Đức Hồng Y Leo Suenens (Bỉ). Một hôm ngài hỏi bà Veronica: “Tại sao bây giờ bà chấp nhận cho tôi viết về cuộc đời của bà, mà trước đây bà lại không cho?” – “Vì bây giờ con hiểu rằng đời con không thuộc về con mà thuộc về Chúa hoàn toàn. Chúa muốn xếp đặt thế nào có lợi ích cho các linh hồn thì mặc ý Chúa”. Đức Gioan Phaolô II đã cô đọng tư tưởng ấy trong cuốn tự thuật, đề là “Hồng ân và mầu nhiệm – Dono e mistero”, cũng như Đức Mẹ đã nói lên trong kinh Magnificat.

Các bạn trẻ yêu mến,

Chính vì thế mà tôi làm như Chúa Giêsu trong bài Phúc âm, Ngài đã lấy năm chiếc bánh và hai con cá mà cho, nào có thấm vào đâu với mấy nghìn người, nhưng đó là tất cả, Chúa Giêsu đã làm tất cả, đó là “hồng ân và mầu nhiệm”. Cũng như cậu bé trong Phúc âm, tôi tóm tắt kinh nghiệm sống của tôi trong bảy điểm: Năm chiếc bánh và hai con cá. Không đáng gì nhưng là tất cả những gì tôi có. Phần còn lại, Chúa Giêsu sẽ liệu.

Nhiều lúc tôi cảm thấy khó chịu trong lòng vì người ta phỏng vấn, muốn thúc giục tôi nói những chuyện giật gân, trong thời gian lao tù, v.v… Đó không phải mục đích của tôi. Nguyện vọng lớn nhất của tôi là trao lại cho các bạn trẻ một sứ điệp của tình thương và sự thật, của công lý và hòa bình, của tha thứ và hòa giải, để xây dựng.

Tôi muốn chia sẻ với các bạn trẻ, làm thế nào gặp Chúa Giêsu:
– Trong mỗi giây phút của cuộc đời,
– Trong sự phân biệt giữa Chúa và việc của Chúa,
– Trong lúc cầu nguyện và sống lời Chúa,
– Trong phép Thánh Thể,
– Trong những người anh chị em khắp nơi,
– Trong Mẹ Maria.

Dưới ánh sáng của 24 ngôi sao chiếu soi dẫn đường tôi đi, cùng với các bạn trẻ, tôi muốn la vang lên:
“Hãy sống theo chúc thư Chúa Giêsu! Hãy tiến lên, bước qua ngưỡng cửa Hy Vọng!”
Rôma, ngày 2 tháng 2 năm 1997
Lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh.

+ Fx. Nguyễn Văn Thuận, TGM

Tải về máy [Link 1]  [Link 2] [Link 3]




LỜI GIỚI THIỆU
Linh Mục Philip Trần Văn Hoài


Tôi hân hạnh giới thiệu cùng độc giả cuốn sách nhỏ “Đường Hy Vọng”.

Lời giới thiệu này không có mục đích phóng đại giá trị của cuốn sách để mong lợi ích buôn bán tầm thường. Nhưng vì tôi đã sống với tác giả, đã hiểu ý hướng cao cả của tác giả, nên muốn dùng lời giới thiệu để dọn đường cho độc giả đi vào ý hướng, vào lý tưởng mà tác giả vạch ra cho người Công Giáo và người dân Việt Nam, với mục đích tạo một Giáo Hội Công Giáo Việt Nam sống theo đường lối Phúc Âm và dân tộc Việt Nam sống đúng với ơn gọi làm người.



Tác giả là ai?
– Là một vị Giám Mục bị gian lao như Ngài đã tự giới thiệu:
“Cha đã đi một quãng đường
hân hoan có, gian khổ có
nhưng luôn luôn tràn trào hy vọng…”

Cuốn sách nhỏ này không phải là một sách lý thuyết thần học, một phương pháp linh hướng cao siêu. Đây chỉ là những suy tư trước cuộc sống xô bồ, chỉ là những kinh nghiệm sống của tác giả về mọi phương diện, được góp nhặt để chúng ta cùng suy tư và thực hiện.

“Mấy lời tâm sự chân thành
thân ái đặt vào tay bạn
bạn hãy đọc chậm rãi
để suy ngắm, để cầu nguyện…"

Mục đích của tác giả?
– Tác giả không có mục đích kêu mời chúng ta đi vào đường tu trì. Tác giả muốn đào tạo chúng ta thành những “cây nến cháy sáng” để làm cho thế gian được chiếu sáng và sưởi ấm, nghĩa là làm một “Tông Đồ vào đời.”
– Bạn là một người cha gia đình? Bạn hãy làm cho vợ con được chiếu sáng và sưởi ấm.
– Bạn là một công chức, một thợ thuyền? Bạn hãy làm cho công sở, xưởng làm của bạn được cải hóa theo gương sáng của bạn.
– Bạn là một sinh viên, một ca sĩ?… Bạn hãy sống cuộc sống sinh viên, ca sĩ… thật gương mẫu để đồng bạn được cảm hóa theo như thánh Phaolô đã căn dặn: “Tôi trở nên mọi sự cho mọi người hầu cứu độ tất cả” (ICor. 9:22). “Và những gì bạn làm, hoặc lời nói hay việc làm, bạn hãy làm với danh nghĩa Chúa Giêsu, Chúa chúng ta” (Col. 3:17).

Muốn trở thành cây nến cháy sáng, muốn sống gương mẫu, bạn hãy cầm và đọc cuốn sách nhỏ này và suy niệm. Mỗi ngày bạn đọc một đoạn nhỏ, mỗi ngày bạn cố thực hiện một điều. Bạn hãy làm như nhà điêu khắc. Ngày qua ngày, với cố gắng kiên nhẫn, từ từ ông dùng dụng cụ gọt đẽo, thực hiện từng nét nhỏ trên khúc gỗ sù sì để thể hiện toàn hình ảnh mà ý niệm đã sẵn có trong đầu óc.

Bạn hãy bắt đầu,
Bạn hãy kiên nhẫn,
Và như thế bạn sẽ thành công.

Bạn phải thành công. Tại sao?
– Vì đó là bổn phận làm người Công Giáo của bạn.
– Vì nhân loại đang quay cuồng và mất phương hướng trong cơn gió lốc của cuộc cách mạng mà Alvin Toffler gọi là “Đợt Sóng Thứ Ba” (Alvin Toffler – The Third Wave. Bản dịch Pháp Văn: “La Troisieme Vague” par Michael Deutsch. Ed. Denoel, 1980) đang cần bạn đưa họ vào “Đường Hy Vọng”.

Tải về máy: quý độc giả chọn 1 trong các link 
[Link 1]  [Link 2]  [Link 3]  [Link 4]



* Trong gian khổ có điều con nên tránh:

- Đừng điều tra "tại ai"? Hãy cám ơn dụng cụ Chúa dùng thánh hóa con.

- Đừng than thở với bất cứ ai. Chúa Thánh Thể, Đức Mẹ là nơi con tâm sự trước hết.

- Khi đã qua, đừng nhắc lại và trách móc, hận thù. Bỏ quên đi, không nhắc lại bao giờ và nói Alleluia! (ĐHV 700).

* Con tức tối sao không biện minh được với kẻ thù. Đừng lạ gì: "Họ sẽ giết các con như đã giết các tiên tri" (ĐHV 701).

* Nếu thể xác con căng thẳng, hãy tạm nghỉ. Gác bỏ các lo âu, con sẽ lấy sức lại và công việc kết quả hơn. Chấp nhận giới hạn sức khỏe của con là can đảm, biết săn sóc là khôn ngoan (ĐHV 707).

* Thời gian là một yếu tố quan trọng; khi một biến cố xảy đến,đừng hấp tấp lúng túng. Hãy suy nghĩ nhẫn nại đợi chờ, lắm lúc sau một đêm, con sẽ thấy sự việc khách quan và sáng suốt hơn (ĐHV 708).


* Hành động tốt và thinh lặng (ĐHV 711).

Một tâm hồn thánh thiện nọ, sau khi trải qua bao tháng ngày gian khổ cũng như những giây phút thành công, đã để lại những lời nhắn nhủ, đồng thời cũng là những kinh nghiệm sống rất đơn sơ và hữu ích sau đây. Chúng ta nên suy niệm và thực hành:

* Nghệ thuật điều khiển lưỡi.

Thánh Kinh có nói: “Miệng người khôn ngoan cất trong con tim. Trái tim kẻ dại bày ra ngoài miệng” (Huấn Đạo 21,26).

Hãy chuộng nghe hơn là nói, vì im lặng quý hơn nói. Nói ít thì khôn hơn nói nhiều. Nói ít mà nói đúng, nói hay thì hay hơn là nói nhiều nhưng nói bậy. Hãy chú ý: nói đúng vấn đề thì hơn là nói luôn miệng.

Những luật sau đây giúp điều khiển lưỡi chúng ta:

- Suy nghĩ trước khi nói.

- Biết nói bằng sự im lặng.

- Cầm giữ miệng lưỡi khi trái tim đang xao xuyến.

- Im lặng khi thấy mình quá ưa nói.

- Nói sau kẻ khác.

- Đừng bao giờ nói chốngđối kẻ khác.

- Bao giờ cũng nói tốt kẻkhác.

- Đừng bao giờ tìm cách tự bào chữa.

- Lúc nào cũng nói năng khiêm tốn.

- Không bao giờ nói trái sự thật.

- Luôn luôn thận trọng trong lời nói.

- Đừng bao giờ nói theo hứng.

- Im lặng đừng nói những lời chua cay khi trái tim bối rối và bị kích thích. Trong câu chuyện, "khi gió thổi bốc lên thuận chiều", hãy cầm hãm khuynh hướng "trút hết gan ruột ra".

- Cầm mình đừng nói những sai sót của bản thân. Biết giới hạn như vậy sẽ tạo được một nguồn hạnh phúc mới mẻ.

- Hãy kiểm soát giọng nói của bạn.

- Đừng tìm biết tin tức vì tò mò.

- Hãy nhớ lấy điều này làđừng bao giờ phàn nàn về chuyện gì, đừng chỉ trích ai, đừng than trách hoàn cảnh nào, cũng đừng phê bình sự vật gì hết.

- Đừng nói về mình, cũngđừng nói về những việc riêng mình.

- Nếu muốn nói về mình, thì chỉ tâm sự với một số rất ít người thôi.

* Im lặng là bài học hay nhất.

- Im lặng khi tức bực.

- Im lặng khi bị chỉtrích.

- Im lặng lúc bị từ chối.

- Im lặng lúc thất vọng.

- Im lặng lúc gặp cảnh vôơn.

- Im lặng khi cảm thấy lòng ghen ghét.

- Im lặng lúc bị người khác ghen ghét.

- Im lặng lúc bị phản bội.

- Im lặng khi được thỏa mãn.

- Im lặng lúc đau khổ mọi nỗi.

Hình như không có thực hành nào giá trị bằng sự im lặng. Im lặng cho ta thấy một sức mạnh tiềm tàng. Im lặng thu hút được sự tín nhiệm. Im lặng bảo đảm cho ta được sự kính trọng. Người dè dặt đúng mức là con người có dáng huyền bí, biểu lộ một vẻ tuyệt đẹp của tâm hồn.

Im lặng còn có một tính cách tích cực nữa. Nhiều khi im lặng không nói lại là câu trả lời hữu hiệu nhất, thuyết phục lòng người hơn trăm bài hùng biện.

* Cố gắng hơn tí chút.

- Nhẫn nại hơn tí chút để chấp nhận một người không hợp với tôi chút nào, nhưng tôi lại bó buộc sống với.

- Kiên quyết hơn tí chút để tiếp tục công việc này mà bổn phận đời tôi làm tôi cảm thấy chán ngấy.

- Khiêm nhường hơn tí chút để ở lại nơi Chúa dẫn dắt tôi tới, nhưng không mảy may phù hợp với ước vọng và chương trình của tôi.

- Biết lẽ phải hơn tí chút để chấp nhận người khác cùng với bản tính của họ, thay vì đòi hỏi họ rập theo khuôn khổ tôi thích.

- Khôn ngoan hơn tí chút để đừng làm phiền lòng người khác và ít nhúng tay vào công việc của họ.

- Can đảm hơn tí chút đểchịu dựng một biến cố đột ngột làm tôi mất bình an cách thâm sâu.

- Tươi tỉnh hơn tí chútđể không tỏ ra tôi bị trái ý.

- Bỏ mình hơn tí chút đểcố gắng tìm hiểu tư tưởng và cảm nghĩ của người khác.

Trên hết mọi sự, cầu nguyện hơn tí chút để kết hợp với Chúa trong trái tim tôi và bàn hỏi với Ngài.


HY: NGUYỄN VĂN THUẬN

Bài liên quan: Đức Hồng Y đáng kính người Việt Nam


Ngày 16.09.2017, chúng ta kỷ niệm Lễ Giỗ lần thứ 15 Ðức Hồng y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận. Ngày 04.05.2017, Bộ Phong Thánh đã công bố sắc lệnh nhìn nhận Vị Tôi Tớ Chúa này đã thực hiện các nhân đức ‘đến mức độ anh hùng’. Trước đó, 9 cố vấn của Bộ Phong Thánh cứu xét tập Hồ sơ đúc kết (Positio) về cuộc sống và các nhân đức của Vị Tôi Tớ Chúa Ðức Hồng y Nguyễn Văn Thuận và đa số các vị đã bỏ phiếu thuận. Sau đó, trong cuộc họp của Hội đồng các Ðức Hồng y và Ðức cha thành viên của Bộ đã đồng thanh bỏ phiếu chấp thuận. Việc công bố này đã được Ðức Thánh Cha Phanxicô cho phép trong buổi tiếp kiến cùng ngày dành cho Ðức Hồng y Angelo Amato, SDB, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh. Do đó, từ nay Ðức Hồng y P.X. Nguyễn Văn Thuận được mang danh xưng ‘Đấng Đáng Kính’ (Venerabile).


I.- CÁC NHÂN ÐỨC ÐẾN MỨC ÐỘ ANH HÙNG.

1./ Trung thành lệnh Ðức Phaolô VI bổ nhiệm.

Ngày 23.04.1975, Ðức cha Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận, Giám mục Giáo phận Nha Trang, được Á Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sàigòn với quyền kế vị. Người quyết định đi vào Sàigòn, noi gương Ðức Kitô đã phải đi Giêrusalem, dù Cha đã biết những gì mình sẽ phải gặp tại đó khi đã viết trong ‘Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá’ : « Giờ đây, tôi phải đi vào Sàigòn lập tức, theo lệnh Ðức Phaolô VI bổ nhiệm…

Đức FX Nguyễn Văn Thuận năm 1967
Ðêm ấy 07.05.1975, khi tôi ghi âm những lời tạm biệt Giáo phận Nha trang, tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc thổn thức trong tám năm ở Nha Trang - vì thương nhớ. Nhưng tâm hồn tôi rất bình an, vì tôi vâng lời Ðức Thánh Cha. Tiếp đến là gian khổ, thử thách tại Sàigòn… »

Trong phiên họp ngày 27.06.1975, tại Dinh Ðộc lập, kéo dài từ 15 đến 19 giờ, Ðức cha đã đối diện với ba Cán bộ cao cấp của Ủy ban Quân quản cùng các người Công giáo yêu nước. Ðối với Chính quyền cộng sản, sự thuyên chuyển độ một tuần trước khi họ tiếp thu Sàigòn vào ngày 30.04.1975, là bằng cớ âm mưu giữa Vatican và các Ðế quốc. Ðể trả lời sự cáo buộc đó, Người chỉ xác nhận sự vâng lời của mình đối với Bài Sai của Ðức Thánh Cha.

Ngày 15.08.1975, Ủy ban Quân quản mở cuộc họp tại Nhà hát Thành phố để cáo buộc tội Ðức cha ‘sau lưng’ Người. Khoảng 350 giáo sĩ, tu sĩ được mời buộc nghe. Ủy ban muốn ngừa tránh mọi phản ứng của người dân đối với vụ bắt Ðức cha Thuận. Trước đó, Đức Tổng Giám mục Nguyễn văn Bình và Đức Tổng Giám mục phó được đưa đến Dinh Độc Lập lúc 14 giờ. Tại đó, khi đi qua hành lang để đến phòng họp, Ðức cha Bình đi trước, Ðức cha Thuận đi sau. Lúc đó, một công an chận Ðức cha Thuận lại và nói: ‘Anh đi lối này’ và lôi Người đi mất luôn. Khoảng 30 phút sau, chỉ thấy tướng Trà nói chuyện vu vơ, Ðức cha Bình hỏi :
- Thưa Thượng tướng, còn chuyện gì cần nữa không?
Tướng Trà trả lời:
- Thôi! Cụ ra về được rồi.
- Ðức cha phó của tôi đâu mời Ngài cùng về.
- Như cụ thấy, chế độ này là chế độ Cộng sản. Tên Thuận là dòng dõi Ngô Ðình Diệm, chúng nó chống Cách mạng từ trong trứng chống ra, nên không thể để nó ở đây được.

Sau đó, Ðức cha Thuận bị bắt và đem đi trên một xe hơi có hai công an kèm theo. Trong cuộc hành trình dài 450 cây số, trên đường không có một ai. Ðức cha biết mình đang mất tất cả. Ra đi với chiếc áo chùng thâm trong túi có một cỗ tràng hạt. Người chỉ còn biết phó thác cho Chúa Quan Phòng. Giữa bao lo âu ấy, Người vẫn thấy có một niềm vui lớn: ‘Hôm nay là lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời...’ và Chúa muốn Ðức cha hãy trở về với điều cốt yếu. Sau đó, Ðức cha đã bị giam giữ nhiều nơi khác nhau, trong đó, có 9 năm bị biệt giam, cho đến ngày 23.11.988, được thả tự do và bị quản chế tại Hà Nội.

Trong thời gian 13 năm ở tù không bản án, bắt chước Thánh Phaolô, Cha đã viết thư cho các giáo đoàn về kinh nghiệm sống Ðức Tin, Mục vụ, Tu đức. Ðó là ba tập sách:
- Ðường hy vọng (1975),sách được phát hành và trở lại trại cải tạo ;
- Ðường hy vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Cộng Đồng Vatican II (1979) ;
- Những người lữ hành trên Ðường Hy Vọng (1980).

2./ Can đảm thi hành sứ vụ Linh mục trong lao tù.

Trở thành Tuyên úy trại giam các tù nhân không bản án, Ðức cha Thuận biết mọi người Công giáo cần Mình Ðức Kitô để sống trong những ngày đen tối như Người kể: « Trong Thánh Thể, chúng tôi loan truyền sự chết của Chúa Giêsu và tuyên xưng sự sống lại của Ngài. Có lúc buồn nản vô cùng, tôi nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi trên Thánh giá: Ngài không giảng dạy, thăm viếng, chữa lành bệnh tật; Ngài hoàn toàn bất động. Ðối với con mắt loài người, cuộc đời Chúa Giêsu là vô ích, là thất bại. Nhưng đối với đôi mắt Thiên Chúa, chính giây phút ấy lại là giây phút quan trọng nhất của đời Ngài, vì trên Thánh giá Ngài đã đổ máu mình để cứu chuộc nhân loại. Chúa Giêsu là mẫu gương của tình yêu tuyệt đối với Ðức Chúa Cha và các linh hồn. Ngài đã cho tất cả, yêu thương đến cùng (Ga 13, 1), cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng và nói lên tiếng ‘hoàn tất’ (Ga 19, 30)». Nhưng làm sao để Thánh Thể hiện diện trong nhà tù?

Ðức Tổng Giám mục Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý Hòa bình đã nói cho Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II và những nhân viên Giáo Triều Rôma nhân dịp giảng tĩnh tâm Mùa Chay năm 2000: « Khi bị bắt, tôi phải ra đi tay không, đi ngay lập tức. Ngày hôm sau, tôi được phép viết cho những người thân để xin những thứ cần thiết nhất như áo quần, kem đánh răng, ... Tôi viết: « Xin vui lòng gửi cho tôi một chút rượu thuốc để chữa bịnh đường ruột ». Các tín hữu hiểu ngay. Họ gửi cho tôi một chai nhỏ đựng rượu lễ, bên ngoài có ghi “Thuốc chữa bịnh đường ruột”, còn bánh lễ thì họ giấu trong một ống nhỏ chống ẩm thấp. Giám thị hỏi tôi :
- Ông bị bịnh đường ruột?
- Phải.
- Ðây, có ít thuốc cho ông đây.

Tôi không bao giờ có thể diễn tả hết hết niềm vui lớn lao của tôi : mỗi ngày, với ba giọt rượu và một giọt nước trên lòng bàn tay, tôi cử hành Thánh Lễ. Và đó cũng là bàn thờ, là nhà thờ Chính tòa của tôi ! Ðó là liều thuốc đích thực cho linh hồn và thân xác tôi ‘thuốc trường sinh bất tử, thuốc giải độc để khỏi chết, nhưng luôn được sống trong Chúa Giêsu’, như Thánh Ignatio thành Antiokia đã nói.



Mỗi lần như thế tôi được dịp giang tay và đóng đinh mình vào thập giá với Chúa Giêsu và cùng Ngài uống chén đau khổ nhất. Mỗi ngày, khi đọc lời truyền phép, với tất cả tâm hồn, tôi làm lại một giao ước mới, giao ước vĩnh cửu giữa tôi và Chúa Giêsu, hòa lẫn Máu Ngài với máu của tôi. Ðó là những Thánh Lễ đẹp nhất trong đời tôi ! Tuy nhiên, cách dâng lễ mỗi nơi mỗi khác. Dưới hầm tàu thủy chở tôi ra miền Bắc, ban đêm tôi ngồi giữa mấy bạn tù, bàn thờ là túi cói đựng đồ, dâng lễ thánh Phanxicô quan thầy của tôi và cho các bạn chịu lễ. Lúc ở trại Vĩnh Quang, tôi phải dâng lễ trong góc cửa ban sáng lúc người ta đi tắm sau giờ thể dục. Lúc đã quen với thời khóa biểu của trại, tôi dâng lễ ban đêm, vì chúng tôi được chia thành từng đội 50 người, ngủ chung trên một láng gỗ, mỗi người được 50 cm, đầu đụng nhau, chân quay ra ngoài. Chúng tôi đã thu xếp để năm anh em Công giáo nằm quanh tôi. Ðến 9 giờ rưỡi đêm, nghe tiếng kẻng là tắt đèn và mọi ngươi phải nằm trong mùng muỗi cá nhân : tôi ngồi cúi sát xuống để dâng lễ thuộc lòng. Tôi đưa tay dưới mùng để chuyển Mình Thánh cho anh em chịu lễ. Chúng tôi nhặt lấy giấy nylon bọc bao thuốc hút để làm những túi nhỏ đựng Mình Thánh. Như thế Chúa Giêsu luôn ở giữa chúng tôi. Chúng tôi tin một sức mạnh : Thánh Thể. Thịt Máu Chúa làm cho chúng tôi sống. « Ta đã đến là để chúng được có sự sống, và có một cách dồi dào » (Ga 10,10). Như manna nuôi dân Do Thái đi đường về Ðất hứa, Thánh Thể sẽ nuôi con đi cùng đường Hy vọng (Ga 6, 53) ».

3./ Người tù không bản án.

Thuật lại việc ra khỏi nhà tù của mình, Ðức cha đã viết trong ‘Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá’ như sau : « Một hôm trời mưa, tôi đang thổi cơm trưa, tôi nghe điện thoại của chiến sĩ trực reo. ‘Biết đâu có tin gì cho tôi? Ðúng rồi, bữa nay là lễ Ðức Mẹ dâng mình vào đền thánh, 21 tháng 11 mà!’. Năm phút sau, anh chiến sĩ trực đến:
- Ông Thuận ơi, ông ăn chưa?
- Chưa ạ, tôi đang thổi cơm đây.
- Ăn xong, ăn mặc sạch sẽ, đi gặp lãnh đạo.
- Lãnh đạo là vị nào vậy?
- Tôi không biết, tôi chỉ được báo thế. Chúc ông may mắn.

Tôi đã được đưa đến nhà khách chính phủ, bên hồ Ha-le, và tôi đã gặp ông Mai Chí Thọ, Bộ trưởng Nội vụ (Bộ công an). Sau lời chào hỏi xã giao, ông Bộ trưởng đã hỏi:
- Ông có nguyện vọng gì không?
- Thưa có, tôi muốn được tự do.
- Bao giờ?
- Hôm nay.

Ông Bộ trưởng có vẻ ngạc nhiên, thường tình phải có thời gian cho cơ quan nhà nước xếp đặt... Nhưng hôm nay là lễ Ðức Mẹ nên tôi tin chắc và xin như vậy. Ðể đánh tan bầu khí lúng túng và ngạc nhiên ấy, tôi nói:
- Thưa ông Bộ trưởng, tôi ở tù lâu lắm, suốt ba đời Giáo hoàng: Phaolô VI, Gioan Phaolô I, và Gioan Phaolô II. Về phía xã hội chủ nghĩa thì tôi đã ở tù bốn đời Tổng Bí thư Liên Xô: Brezhnev, Andropov, Chernenko, và Gorbachev.
Ông Bộ trưởng bật cười và nói:
- Ðúng! đúng!
Ông quay qua bảo người bí thư:
- Hãy liệu đáp ứng nguyện vọng của ông.

Trong lòng tôi vui mừng tạ ơn Ðức Mẹ Maria, vì không những được tự do mà còn được cả dấu chỉ. Chắc Mẹ tha tội tôi cả gan thách đố Mẹ. »



4./ Thụ án khổ sai.

Do Việt Nam cộng sản là một nước có ‘một rừng luật, nhưng thích xài luật rừng’, nên những ‘tù nhân không bản án’ bị trừng trị bằng những hình phạt khổ sai vượt mức bình thường.

Ở trại Phú Khánh, tôi bị giam trong một phòng không có cửa sổ, phải đi qua 3 lớp cửa trong một hành lang mới đến khí trời. Vào đó nóng cực kỳ, tôi ngột ngạt và cảm thấy trí óc mất sáng suốt dần dần, cuối cùng là mê man. Có lúc người ta để đèn sáng như ban ngày, lúc khác lại nằm trong bóng tối. Buồng vừa nóng vừa ẩm, đến nỗi tôi xuống nằm dưới nền, còn nấm thì mọc lên trắng cả chiếc chiếu của tôi. Lúc nằm trong tối tăm, tôi thấy có một lỗ dưới vách, ánh sáng lọt vào, tôi lết đến, kê mũi vào đó để thở. Lúc nào trời mưa, nước ở ngoài ngập, những con trùng ở ngoài bò vào, có cả giun và có lần có cả con rết dài; dù thấy vậy, nhưng tôi yếu mệt quá không làm gì được, tôi cứ để cho chúng bò quanh, ngày nào nước xuống, thì chúng lại bò ra. Sau này, hai linh mục bị giam cách tôi 2 lớp cửa, đã thuật lại cho tôi biết: ‘Một hôm cô Thanh, cấp dưỡng, đã mỡ cửa cho chúng con ra đứng nhìn Đức cha nằm dưới đất và bảo: ‘hai anh nhìn thấy ông Thuận, ông sắp chết!’. Nhưng trong cơn cơ cực này, Chúa đã cứu tôi!

II.- TIẾN TRÌNH PHONG THÁNH.


Lúc 18 giờ, ngày 16.09.2002, Ðức Hồng y đã được Thiên Chúa gọi ra khỏi thế gian. Ngay khi hay tin Người qua đời, Ðức cha Giampaolo Crepaldi, Tổng Thư ký Hội đồng Giáo Hoàng Công lý và Hòa bình, đã tuyên bố với báo chí: ‘Một vị Thánh vừa qua đời’. Chiều ngày 20.09.2002, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã từ Castel Gandolfo trở về Vatican, để chủ sự Thánh Lễ An táng Ðức cố Hồng y. Vị Hồng y quá cố đã được Giáo triều và 172 phái đoàn ngọai giao cạnh Tòa Thánh tiển biệt trong một Thánh Lễ trọng thể.

Nhân dịp nầy, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ngỏ lời: « Trong 13 năm ngục tù, Ðức Hồng y Thuận đã hiểu nền tảng của đời sống Kitô hữu là ‘chọn một mình Chúa mà thôi’ như các vị tử đạo Việt-Nam đã làm trong những thế kỹ trước. Chúng ta được mời gọi rao giảng cho tất cả mọi người ‘Tin Mừng Hy Vọng’, và Người giải thích rằng: chúng ta chỉ có thể chu toàn Ơn Gọi ấy với sự hy sinh quyết liệt, dù phải chịu những thử thách cam go nhất. Ðức Hồng y nói: ‘Hãy nêu cao giá trị của sự đau khổ như một trong muôn vàn khuôn mặt của Chúa Giêsu chịu đóng đanh và hiệp nhất đau khổ của mình với khổ đau của Chúa, có nghĩa là đi vào chính năng động khổ đau, yêu thương có nghĩa là tham dự vào ánh sáng, sức mạnh, an bình của Chúa; có nghĩa là tìm lại được nơi chính mình một sự hiện diện mới mẻ, sung mãn, của Thiên Chúa. Ðây không phải là sự anh hùng, nhưng là sự trung thành chín chắn, hướng cái nhìn về Chúa Giêsu là mẫu gương của mọi chứng nhân và mọi vị tử đạo. Một gia sản cần được đón nhận mọi ngày trong một cuộc sống đầy yêu thương và dịu hiền.

Con người Ðức Hồng y là một tấm gương sáng ngời về đời sống Kitô, phù hợp với Ðức Tin, cho đến độ tử đạo. Người nói về mình với sự đơn sơ thật đặc biệt: ‘Trong vực thẳm những đau khổ của tôi,... tôi không bao giờ ngừng yêu mến tất cả mọi người, tôi không hề loại trừ một ai khỏi tâm hồn tôi’. Bí quyết của Người là lòng tín thác kiên cường nơi Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bằng kinh nghiệm và đau khổ mà Ðức Hồng y chấp nhận với lòng yêu mến. Trong tù, mỗi ngày Người đã cử hành Thánh Lễ với ba giọt rượu và một giọt nước trên lòng bàn tay. Ðó là bàn thờ của Người, là nhà thờ Chính tòa của Người, Mình Thánh Chúa Kitô là ‘thuốc’ của Người, Ðức Hồng Y cảm động kể lại: ‘Mỗi lần như thế tôi được dịp giang tay ra và chịu đóng đinh bản thân trên Thánh giá với Chúa Giêsu, được sống chén đắng với Chúa. Mỗi ngày khi đọc lời truyền phép, tôi hết lòng củng cố một giao ước mới, giao ước đời đời giữa tôi và Chúa Giêsu, nhờ máu của Chúa hòa lẫn với máu của tôi’.

Trung thành cho tới chết, Người giữ được sự bình thản và niềm vui cả trong lúc nằm lâu và phải đau đớn trong bệnh viện và, trong những ngày cuối, khi không còn nói được nữa, Người nhìn chăm chú vào ảnh Thánh giá, cầu nguyện trong thinh lặng, khi Hy lễ tối cao Người tới tuyệt đỉnh, hoàn thành cách vinh quang một cuộc đời đánh dấu bằng sự đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô trên Thánh giá.

Trong chúc thư tinh thần, sau khi xin lỗi, Ðức Hồng y cam đoan tiếp tục yêu mến tất cả mọi người. Người quả quyết: ‘Tôi thanh thản ra đi, và tôi không giữ lòng oán hận nào đối với ai. Tôi dâng tất cả những đau khổ tôi đã trải qua cho Ðức Mẹ Vô Nhiễm và Thánh Giuse’. Chúc thư tinh thần kết thúc với ba lời nhắn nhủ: ‘Hãy yêu mến Ðức Mẹ, hãy tín thác nơi Thánh Giuse, hãy trung thành với Giáo hội, hãy đoàn kết và yêu thương tất cả mọi người’. Ðây chính là tổng hợp trọn cuộc sống của Ðức Hồng y. » và Ðức Thánh Cha đã kết luận: « Giờ đây, ước gì cùng với Thánh Giuse và Mẹ Maria, Ðức Hồng y được đón nhận vào trong niềm vui của Thiên Ðàng, chiêm ngắm Tôn Nhan rạng ngời của Chúa Kitô, Ðấng trên trần thế đã nhiệt thành tìm kiếm như niềm Hy vọng duy nhất của mình. Amen! »

1./ Mở Án Phong Thánh.

Năm năm sau ngày Người về Nhà Cha, Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình đã tổ chức Thánh Lễ đồng tế do Ðức Hồng Y Renato Raffael Martino, đương kim Chủ tịch và là người kế vị Ðức Hồng Y Phanxicô Xavie, đã chủ sự lúc 11 giờ ngày Chúa Nhật 16.09.2007 tại Nhà thờ Ðức Mẹ Cầu Thang (Santa Maria della Scala, nhà thờ dành cho Ðức Hồng y Thuận tại Rôma), để tưởng nhớ một chứng nhân Hòa bình và Hy vọng, đã chịu giam cầm 13 năm tại quê hương Người.

Tham gia sáng kiến mở án phong Thánh cho Ðức Hồng y, ngoài Hội đồng Tòa thánh Công lý và Hòa bình còn có Quỹ Thánh Mathêu tưởng niệm Ðức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, Hội Quan sát Quốc tế Văn Thuận về Ðạo lý xã hội Công Giáo, thân nhân và bạn hữu của Ðức cố Hồng y, cũng như cộng đoàn Công giáo Việt Nam ở Roma.

Nhân dịp này, một buổi triều yết đã diễn ra ngày thứ hai 17.09.2007 tại Dinh thự Giáo Hoàng ở Castel Gandolfo. Trong diễn văn, Ðức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nói: « Tôi vui mừng, nhân cơ hội này để, một lần nữa, nêu lên chứng tá Ðức Tin sáng ngời mà vị Mục Tử anh dũng này đã để lại cho chúng ta. Ðức cha Phanxicô Xavie đã được vị tiền nhiệm Gioan Phaolô 2 đáng kính của tôi bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Tòa thánh Công lý và Hòa bình. Nguời đã hoàn thành ‘Toát yếu Giáo huấn Xã hội của Hội Thánh’. Làm sao quên được những nét nổi bật về sự đơn sơ và thân thiện của Người?

Chúng ta tưởng nhớ Người với sự thán phục lớn lao, trong khi chúng ta nghĩ lại trong tâm trí chúng ta những dự phóng lớn lao và tràn đầy Hy vọng, đã làm cho Người luôn sống động và Người tìm cách thế để dễ dàng loan truyền ra và thuyết phục nhiều người; sự dấn thân đầy nhiệt huyết của Người để quảng bá Học thuyết Xã hội của Hội Thánh giữa những người nghèo trên thế giới, và lòng hăng say truyền bá Phúc âm trong lục đia Á Châu của Người, khả năng Người điều hợp các hoạt động bác ái và thăng tiến con người mà Người làm tăng thêm và nâng đỡ tại những nơi nặng nề nhất trên thế giới.

Ðức Hồng y Văn Thuận là một con người của Hy vọng, Người sống bằng Hy vọng, Người phổ biến Hy vọng cho tất cả những ai gặp Người. Chính nhờ năng lực thiêng liêng này mà Người đã chống lại được tất cả những khó khăn thể lý và luân lý. Hy vọng đã nâng đỡ Người khi là Giám mục bị cô lập trong vòng 13 năm trời, xa cách khỏi cộng đoàn giáo phận Người; Hy vọng giúp đỡ Người biết nhìn ra qua cái vô lý của các biến cố xẩy đến cho Ngườøi - không bao giờ được xét xử trong những năm tù ngục - một kế đồ sự quan phòng của Thiên Chúa.

Tin về bệnh ung thư, căn bệnh đưa Người tới cái chết, tin này đã đến với Ngài cùng lúc với việc Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đặt Người làm Hồng y, vị Giáo Hoàng này bày tỏ với Ðức Hồng y một sự trân trọng và tình cảm thật lớn lao. Ðức Hồng y Văn Thuận thường nhắc lại rằng Kitô hữu là một con người của từng giờ, của lúc này, của giây phút hiện tại, cần được đón nhận và sống với tình yêu Chúa Kitô. Trong khả năng sống giây phút hiên tại này chiếu tỏa ra cái sâu thẳm của việc từ bỏ trong bàn tay Thiên Chúa và tính đơn sơ như trong Phúc âm dạy mà chúng ta tất cả đều kính phục Ngườøi. Làm sao có thể xảy ra điều này - người ta tự hỏi - một người đặt tin tưởng vào Chúa Cha trên trời mà lại từ chối để mình được ôm ấp vào cánh tay của Chúa Cha sao? Và Ðức Thánh Cha kết luận rằng: « Anh chị em thân mến, tôi vui mừng sâu xa đón nhận tin về việc khởi sự án phong Thánh cho vị Ngôn Sứ đặc biệt này của niềm Hy vọng Kitô, và trong khi chúng ta phó thác cho Chúa linh hồn ưu tuyển của Ngài, chúng ta hãy cầu nguyện để tấm gương của Ðức cố Hồng y là giáo huấn hữu hiệu cho chúng ta. Với lời cầu chúc đó, tôi thành tâm ban phép lành cho tất cả anh chị em. »

2./ Tôi tớ Chúa.

Ngày 16.01.2009, Aùn Lệnh của Tòa Giám quản Rôma do Ðức Hồng y Agostino Vallini, Giám Quản, ký về ‘Vụ án Phong Chân phước và Phong Thánh cho Tôi Tớ Chúa Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận, Hồng y Giáo phận Rôma’ vào ngày 22.10.2010, Tòa Thánh sẽ chính thức mở hồ sơ đợt hai xét phong Chân phúc cho Người.

Nhân dịp Lễ Giỗ Ðức cố Hồng y, Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình đã mời chúng ta hãy đọc KINH XIN ƠN như sau:
Lạy Thiên Chúa toàn năng và hằng có đời đời,
là Cha và Con và Thánh Thần,
con cảm tạ Chúa vì đã ban cho Hội Thánh
gương chứng tá anh dũng
của Ðức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Kinh nghiệm khổ đau trong cảnh ngục tù,
được Ngài sống liên kết với Chúa Kitô chịu đóng đinh,
và dưới bóng che chở hiền mẫu của Mẹ Maria,
đã rèn luyện Ngài nên một chứng nhân sáng ngời
cho Hội Thánh và toàn thế giới,
về sự hiệp nhất và tha thứ,
cũng như về công lý và hòa bình.
Con người dễ thương mến
cùng với sứ vụ mục tử giám mục của Ngài
tỏa chiếu rạng ngời ánh sáng của đức tin,
nhiệt tâm của niềm hy vọng
và sức nồng ấm của đức ái.
Giờ đây, nhờ lời bầu cử của Ngài và theo thánh ý Chúa,
xin Chúa ban cho con được ơn đang khẩn cầu,
với niềm hy vọng thấy Ngài
sớm được vinh hiển trên bàn thờ. Amen.
Imprimatur : Vatican, 16.09.2007
+ Giampaolo Crepaldi, Tổng Thư ký
Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình.

Ngày 05.07.2013, tiến trình phong Chân Phước cho Vị Tôi Tớ Chúa đã hoàn thành ở Tổng Giáo phận Rôma. Nhân dịp này, nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Ðức, được Hội đồng Công lý và Hòa bình mời tham dự lễ ‘Bế mạc phần điều tra tại Giáo phận’, đã bị công an sân bay Nội Bài, Hà nội chặn lại không cho xuất cảnh sang Bangkok (Thái lan) trên đường đi Rôma (Ý đại lợi). Ông Ðức kể cho ông Mặc Lâm, phóng viên Ðài Á châu Tự do RFA biết : « Khi làm ở Phòng Tôn giáo Bộ Công an, người ta có ‘đối sách’ về Ðức cha vì một tội rất to là cháu của Ngô Ðình Diệm và sự về Sài gòn làm Phó Tổng Giám mục là để lót ổ lên Tổng Giám mục nên Người bị chuyển ra Bắc ». Tại sao, với hai ‘tội nặng’ này và bị giam giữ 13 năm, trong có những năm biệt giam, nhưng đảng cộng sản không dám đem Ðức cha ra tòa xét xử ?

Ðức Hồng y không những là một tấm gương sáng ngời về đời sống Kitô hữu mà còn là một công dân yêu nồng nàn Tổ Quốc Việt Nam. Người đã căn dặn chúng ta:
… Là người Công giáo Việt Nam
Con phải yêu Tổ quốc gấp bội.
Chúa dạy con, Hội thánh bảo con,
Cha mong giòng máu ái quốc,
Sôi trào trong huyết quản con…

Ngày 14.09.2017
Lễ Suy Tôn Thánh Giá


Bài liên quan:









(Nhân dịp Đức cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận được nâng lên bậc đáng kính ngày 04.05.2017, xin mời quý anh chị em cùng đọc lại bài chia sẻ của Ngài khi còn là Tổng Giám mục, diễn ra ngày 12-9-1998, tại nguyện đường Dòng Truyền Giáo Ðức Mẹ Vô Nhiễm (OMI), Strasbourg, Pháp, nhân dịp họp mặt “Niềm Vui Sống Ðạo” của các bạn trẻ Công giáo Việt Nam sống tại Âu Châu, do Trung tâm Nguyễn Trường Tộ tổ chức. Xin Ngài chuyển cầu cho mỗi người chúng ta cũng có được 10 “khuyết điểm” tuyệt vời này!).
10 khuyết điểm của Chúa Giêsu
 
1. Chúa Giêsu kém trí nhớ!
2. Chúa Giêsu không biết làm toán
3. Chúa Giêsu không sành luận lý
4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chánh
5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi
6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng
7. Chúa Giêsu không giữ luật Do thái
8. Chúa Giêsu như điên cuồng
9. Chúa Giêsu phiêu lưu
10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn.
***
1. Chúa Giêsu kém trí nhớ!
Lúc sắp trút hơi thở, Chúa Giêsu có cuộc đối thoại cuối cùng với hai người gian phi cùng bị treo trên thập giá cạnh ngài. Một trong hai người đó thốt lên lời nầy với Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Và Chúa nói với anh ấy: “Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng” (Lc 23,42-43).
Chúa Giêsu không sưu tra lại lý lịch người đó để nhớ xem hắn gian ác đến mức độ nào, không cân nhắc tội nặng, nhẹ để châm chước hay tạm ra hình phạt thế nào đó cho thích đáng. Người gian phi kêu nài Ngài nhớ, thì Ngài “nhớ” một điều là thấy người ấy trước mắt, còn tất cả mọi điều gian ác trước đó Ngài đã quên hết, quên đến độ ngay hôm đó hứa ngay Nước Thiên đàng cho anh ta. Các thánh nói: tên này suốt đời ăn trộm, đến lúc chết nó ăn trộm nước thiên đàng luôn!
Trong Phúc Âm chúng ta gặp lại nhiều chứng tích về việc Chúa Giêsu kém trí nhớ như thế. Nhưng qua chuyện ngụ ngôn người cha nhân hậu, sự kiện đó rõ ràng. Thánh sử Luca kể rằng người con út trong hai con của cha già đã lấy hết phần gia tài của nó, để bỏ nhà ra đi sống đời phóng đảng, quên cha, quên anh. Ðến khi tiêu hết tiền, gặp năm đói, thì quay trở về nhà, xin khai thú tội lỗi mong cha già xét tình cha con mà tha thứ...
Người cha (là hình ảnh Chúa Giêsu), không kể đến tội cũ, chỉ trông ngóng chờ con; thấy con đằng xa, thì chạy ra đón. Con có thú tội, thì cũng không cố nghe để hạch hỏi tội cũ mà ra lệnh cho tôi tớ: lấy áo đẹp, giày tốt, nhẫn quý mang lại cho cậu, làm thịt con bê béo dọn tiệc vì con ta chết mà nay nó sống lại.
“Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để”. Bấy giờ người con thưa rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa...”. Nhưng người cha liền bảo người giúp việc rằng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay , xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con dê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!...” (Lc 15,20-23).
Chúng ta thấy ở đây trí nhớ của Chúa Giêsu dường như không còn làm việc nữa! Ngài quên vô điều kiện, quên tức khắc tất cả quá khứ không hay không tốt của ta, mỗi khi chúng ta quay trở về. Ngài chỉ nhớ mỗi người là con Cha Ngài, là em Ngài, nên khi ta quay lại gặp Ngài, thì tức khắc ta lại được mặc áo vinh hiển sự sống của Thiên Chúa.

2. Chúa Giêsu không biết làm toán
Trong dụ ngôn con chiên bị mất (x. Mt 18,12-14; Lc 15,4-7), chúng ta thấy lối cư xử của Chúa Giêsu tỏ ra không biết tính toán. Một kẻ có 100 con chiên ở giữa đồng trống mà mất một con, hẳn phải tính toán xem làm sao một con đi lạc lại hơn 99 con còn lại. Không những Chúa Giêsu cho rằng 1 con đi mất cũng bằng 99 con còn lại, mà còn đi xa hơn nữa: Ngài bỏ 99 con còn lại đấy để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Một mà hơn 99, hẳn Chúa Giêsu không biết làm toán!
Trong chương trình rao giảng của Ngài, không phải số lượng quần chúng đông đảo mà Chúa Giêsu tìm kiếm, nhưng là những con người; và Ngài đã không tiếc thì giờ để trao đổi với từng người, giảng dạy cho một người như chúng ta từng thấy trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samari trên bờ giếng Giacóp (x. Ga 4,1-42).

3. Chúa Giêsu không sành luận lý
Chúa Giêsu không những không cân nhắc tính toán trên số lượng, mà có lúc lời của Ngài đi ngược lại sự khôn ngoan bình thường của con người.
“Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc... (Lc 14,12-14).
Trong dụ ngôn về đồng bạc bị mất (x. Lc 15,8-10), người phụ nữ có 10 đồng, nhưng trong đêm lỡ đánh mất 1 đồng: “Bà thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho bằng được”. - Khi tìm được, thì bất chấp giờ giấc nghĩ ngơi ban đêm của hàng xóm, bạn bè, mời họ phải đến chung vui với mình.
Chúa Giêsu ví mình như người phụ nữ tìm đồng bạc bị mất trong đêm; không cần suy tính, luận lý là đủng đỉnh ngày mai sẽ tìm, dù sao thì cũng còn 9 đồng khác trong tay; nôn nóng đem nguồn vui của mình cho người chung quanh không ngại sự nghỉ ngơi trong đêm vắng. Chẳng qua vì Chúa là yêu thương, mà yêu thương của Thiên Chúa cao hơn lý luận con của người.
“Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,10).

4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chính
Chúa Giêsu đến để loan báo Nước Trời ở gần con người, gần cuộc sống của họ. Thế mà khi giới thiệu Nước Trời với các môn đệ và với người nghe Ngài nói, Ngài lấy dụ ngôn về Nước Trời như người chủ vườn nho thuê thợ làm cho mình trong một ngày (x. Mt 20,1-16). Người chủ từ tảng sáng đã mướn thợ làm; rồi đến giờ thứ 3, giờ thứ 6, giờ 11, mỗi giờ người ấy đều đi tìm mướn thêm thợ (giờ 11 trong lối nói của người Do Thái thời của Chúa Giêsu tức là buổi cận chiều tối rồi).
Chiều tối đó, ông chủ, là hình ảnh Chúa Giêsu, bảo người quản lý kêu thợ lại và trả cho mỗi người 1 quan tiền như nhau. Những kẻ làm nhiều giờ trong ngày bực tức vì thấy ông chủ nầy không biết gì về kinh tế, tài chính cả, hơn nữa còn bất chấp lối tính toán và sự công bình thông thường:
“Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là 1 quan tiền sao?... Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ghen tức? Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót...” (Mt 20,13-16).

5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi
Không phải trong xã hội của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu còn tại thế, mà ngay giữa xã hội chúng ta, người ta khó lòng chấp nhận chuyện người “đàng hoàng” lại giao du với lớp người được đánh giá là không “đàng hoàng”.
Thời bấy giờ người đồng hương với Chúa Giêsu cho rằng hai giới đặc biệt không “đàng hoàng” là những quân thu thuế và người tội lỗi, đặc biệt là các người gái điếm. Người tội lỗi bấy giờ còn được xem là những kẻ không lành mạnh về cuộc sống thân xác, như người phung cùi, tàn tật... Những người Pharisiêu nhiều lần thắc mắc về thái độ sống của Chúa Giêsu và nhắc nhở với các môn đệ Chúa:
“Sao Thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?” (Mt 9,11). “Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng” (Lc 15,2).
Theo các sách Phúc Âm ghi lại, thì không những Chúa Giêsu chỉ gặp gỡ, chào hỏi, hay bất đắc dĩ được mời ăn thì ngại lắm phải chiều người ta, mà thực sự Ngài tự tìm tới nhà người thu thuế, và kẻ tội lỗi, làm thân với họ và ăn ở với họ.
Ông Dakêu là người “đứng đầu những người thu thuế” (Lc 19,2); khi biết Chúa Giêsu đi qua thành phố Giêricô, ông ấy sợ không chen lấn nổi với đông đảo dân chúng, nên chạy ra đàng trước, trèo lên cây sung để xem Ngài, chẳng qua vì ông rất lùn. Chúa Giêsu đi qua, nhìn lên cây ấy thấy ông và nói ngay:
“Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (Lc 19,5).
Người chung quanh xào xáo:
“Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ” (Lc 19,7).
Chúa Giêsu tự đến để gặp gỡ Dakêu và loan Tin Mừng:
“Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19,9).
Và chúng ta đều biết Chúa đã chọn 1 trong 12 vị Tông đồ của Ngài là Mathêu, trước đó có tên là Lêvi một người làm nghề thu thuế.
Và để giải thích thái độ ngược đời của mình, chính Chúa Giêsu đã nói rõ sứ mệnh của Ngài.
“Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9, 12-13).

6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng
Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy sự kiện mỗi lần đến nhà nào, gặp ai, đặc biệt là những người được xã hội xếp loại không “đàng hoàng”, Chúa Giêsu lại thường ăn uống. Ngài mở đầu sứ mạng rao giảng công khai bằng việc dự tiệc cưới Cana miền Galilê (x. Ga 2,1), kết thúc cuộc gặp gỡ chung với các tông đồ trước khi đi vào cuộc khổ nạn bằng bữa tiệc ở Giêrusalem gọi là tiệc ly (x. Mt 26,17 và tiếp theo).
Thế nhưng lịch sử nhiều tôn giáo và tâm thức nhiều nền văn hoá không phải đã cho chúng ta thấy rằng nói đến thần thánh, đạo đức, tôn giáo thì hẳn phải nói đến ăn chay cầu nguyện hay sao!
Luca thuật lại rằng, sau bữa tiệc lớn tại nhà Lêvi (tức Thánh Mathêu sau này) những người Pharisiêu và những người thông luật nói với Chúa Giêsu: “Môn đệ ông Gioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pharisiêu cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống” (Lc 6,33). Chúa Giêsu đã dùng những bữa ăn để cứu người tội lỗi như Mađalêna, Dakêu...
Cái mới của Chúa Giêsu làm cho người Pharisiêu và cả chúng ta khó hiểu đó là tất cả sứ điệp của Ngài, không còn phải là ăn chay hay ăn tiệc, nhưng tiên quyết là Yêu thương phát xuất từ tận đáy lòng mình. Như Thánh Augustinô sau này tóm tắt trong câu: “Hãy yêu rồi làm gì thì làm” (Ama et fac quod vis).

7. Chúa Giêsu không giữ luật Do Thái
Không những lui tới bạn bè, với kẻ tội lỗi, lại còn hay dự tiệc với họ, Chúa Giêsu không giữ luật lệ của cộng đồng người Do Thái đương thời. Ngài bất chấp luật phải rửa tay trước bữa ăn, đi thẳng vào bàn tiệc nên “ông Pharisiêu lấy làm lạ vì lúc đầu Ngài không rửa tay trước bữa ăn” (Lc 11,38). Ðặc biệt trong những ngày sabát, Ngài hay chữa lành bệnh tật cho người ta, và điều đó đối với người Do Thái đương thời cho là phạm luật. Phúc âm ghi lại nhiều sự kiện như thế, như việc chữa lành người bại tay (x. Lc 6,8-11), chữa người mắc bệnh phù thủng (x. Lc 14,1-6), chữa lành một phụ nữ còng lưng (x. Lc 13, 14)... Thánh sử Luca ghi rõ: “Ông trưởng hội đường tức tối vì Ðức Giêsu đã chữa lành bệnh vào ngày sabát (x. Lc 13,14). Ngài không giữ luật, và các môn đệ theo Ngài cũng không giữ luật:
“Vào ngày sabát, Ðức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ đưa tay bứt lúa ăn. Nhưng có mấy người Pharisiêu nói: “Tại sao các ông làm điều không được phép làm trong ngày sabát” (Lc 6,1-2).
Nhưng trước những lời chỉ trích này, Chúa Giêsu trả lời: “Con người làm chủ ngày sabát” (Lc 6,9). Chúa Giêsu đến để làm trọn lề luật, để ban luật mới là luật yêu thương, là luật có chiều kích nội tâm, để xoá bỏ những lối giải thích lề luật rắc rối bên ngoài: “Khốn cho các ngươi giả hình, như má tô vôi, bên ngoài trắng trẻo mà bên trong thối tha” (Mt 23,13-36).

8. Chúa Giêsu như điên cuồng
Trong Toà Tổng trấn Philatô, lúc chịu xử án, Chúa Giêsu bị lính của Tổng trấn cho choàng áo đỏ, đội vương niệm bằng gai để chế nhạo như là kẻ điên cuồng. Nhưng không phải chỉ người ngoài, mà ngay cả Phêrô, người vừa được Chúa Giêsu cử sẽ làm đầu Hội thánh Ngài: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi...” (Mt 16,18), người được Chúa tin yêu như thế cũng không chịu nổi những lời nói như điên dại của Chúa Giêsu: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Ðiên dại vì gọi môn đệ theo mình, đồng thời thông báo mình phải chịu khổ đau, bị giết chết; và xem ra điên dại hơn nữa khi bảo rằng chết sau ba ngày sẽ sống lại! Và suốt cả các cuốn Phúc Âm trang nào cũng làm cho chúng ta ngạc nhiên về thái độ và lời nói khác lạ của Ngài:
“Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại... (Lc 6,27-31).
Nói như thế, làm sao có thể nghe cho được, khi tâm tư ta còn sống trong tâm trạng “măt đền mắt, răng đền răng!”
Và tôi xin kể cho các bạn kinh nghiệm của tôi về sứ điệp “điên dại” này của Chúa Giêsu. Lúc tôi sống những năm tháng tù đày tại quê nhà, có lúc những người canh tù tâm sự cho tôi hay, họ thắc mắc và ngạc nhiên về thái độ vui cười, thân thiện của tôi đối với họ: trong hoàn cảnh này làm sao có thể thanh thản và dung thứ như thế được! Tôi đã có dịp chia sẻ các kinh nghiệm đó trong cuốn sách “Năm chiếc bánh, và hai con cá”, tôi vừa cho phổ biến trong năm này. Nhưng ở đây tôi muốn nói, chính sự “điên dại” của tình yêu thương Thiên Chúa đối với tôi, đối với mọi người là “khuyết điểm” làm tôi say mê hơn cả; sự điên dại đó lôi kéo tôi bước theo Chúa Giêsu!

9. Chúa Giêsu phiêu lưu
Một chương trình cứu chuộc toàn nhân loại, một dự tính gửi người đi rao truyền Phúc Âm cho mọi dân nước, mọi thế hệ, thế mà lại chọn và đặt hết tín nhiệm, quyền hành cho Phêrô, một người chài lưới bộp chộp, ít học rồi còn sợ sệt chối mình nữa!
Và về phương cách truyền bá, rao giảng nước Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo” (Lc 9,3).
Phiêu lưu trong việc tuyển lựa các môn đệ, Chúa Giêsu còn bị ngay các môn đệ Ngài nghi ngờ là quá phiêu lưu. Khi Chúa Giêsu loan báo chương trình Ngài sẽ bị bắt nạp, bị giết chết và sẽ sống lại trong ngày thứ ba, thì “Các môn đệ buồn phiền lắm” (Mt 17,23). Khi Chúa nói với họ: “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6,53), thì “nhiều môn đệ của Ngài liền nói: “Lời này chướng ta quá! Ai mà nghe nổi” (Ga 6,60). Và, vì thấy lời giảng dạy của Chúa Giêsu khó nghe và phiêu lưu quá, nhiều môn đệ rút lui. Nên Chúa quay hỏi nhóm 12 Tông đồ: “Cả anh em nữa, anh em cũng bỏ đi sao?” (Ga 6,67).
Có lần khác, có người lại muốn đi theo Ngài làm môn đệ, nên hỏi: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo”. Người trả lời: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58).
Và cuộc phiêu lưu tột đỉnh của Yêu thương nơi Chúa Giêsu được diễn tả cô động nơi bài ca trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Philipphê:
“Ðức Giêsu Kitô
Vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân phận nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).

10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn
Mâu thuẫn vì Lời từ Thiên Chúa khác với lời chúng ta.
Làm sao chúng ta thấy hợp lý được khi tuyên dương phúc cho kẻ nghèo, kẻ phải đói, kẻ phải khóc, kẻ bị người ta oán ghét (x. Lc 6,20-22).
“Ai muốn cứu mạng sống mình, thì phải mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24).
Làm sao có thể ví Nước Thiên Chúa, Nước của Ðấng toàn năng, vô tận với một hạt cải (x. Lc 13,18-19).
Mà làm sao có thể tuyên xưng là “Con Thiên Chúa, Ðấng hằng sống” lại phải chấp nhận sự chết và chết nhục nhằn trên Thập giá (x. Lc 23,70).
Ngày 12-10-1998, có một cuộc tĩnh tâm linh mục quốc tế, tại thành phố Monterrey, nước Mexico: 91 giám mục, 1.500 linh mục tham dự. Lúc tôi vừa nói: Tôi yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu, các ngài nhìn nhau với vẽ ngạc nhiên, bỡ ngỡ! Nhưng nói đến đâu các ngài lại cười đến đó, cuối bài các ngài xúm lại quanh tôi và bảo: “Chúng tôi cũng yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu”.
***
Các bạn thân mến,
Bây giờ, sau khi chúng ta cùng nhau lược qua 10 khuyết điểm của Chúa Giêsu, 10 khuyết điểm ghi lại nơi các bản Phúc Âm, tôi lại một lần nữa xác quyết với các bạn rằng: vì tôi yêu 10 khuyết điểm này của Chúa Giêsu, nên chọn Chúa Giêsu làm Thầy, làm Mẫu-mực tuyệt đối cho đời tôi. Tôi cũng tâm sự với các bạn rằng, cho đến giây phút này, tôi không hề có một chút gì ân hận, Chúa Giêsu đã cuốn hút cuộc đời của tôi. Vì Chúa là Tình Yêu đã dẫn lối cho tôi đi, đặc biệt trong những ngày tháng tôi cảm thấy xao xuyến, bứt rứt; chúng đã đem lại nguồn vui và hy vọng cho tôi, nhất là trong những giây phút khổ đau, tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi. Các bạn biết lý do tại sao không? Vì 10 khuyết điểm đó phát xuất từ Tình yêu thương mà Thiên Chúa là cha chúng ta ban cho để chúng ta được sống nhờ Chúa Giêsu:
“Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15,13).
Tình yêu đó không nhớ lỗi lầm, không tính toán, không xét nét, không vị kỷ, không phê phán, không câu chấp, không gò bó, không biên giới, không điều kiện; Tình yêu đó yêu điên cuồng đến độ phiêu lưu và hy sinh cả mạng sống mình; tình yêu đó khác với mẫu mực nhỏ hẹp của xã hội và của lối cân nhắc giới hạn của chúng ta. Chúa là Ðấng trọn lành, làm sao có khuyết điểm được, nhưng Chúa lại là tình yêu vô hạn, mầu nhiệm. Trí khôn loài người không hiểu nổi, không tin nổi, nên gọi là khuyết điểm! Khuyết điểm ấy lên đến cùng độ trên thánh giá. Cả 10 khuyết điểm cô đọng vào đó, khi người lính thách đố Chúa: "Nếu ông thật là con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi Thánh giá để chúng tôi tin" "Chúa Giêsu thinh lặng, lại còn cầu nguyện: “Xin Cha tha cho họ...”. Lạy Chúa, lúc ấy Chúa không chết thì làm sao chúng con được sống đời đời.
Tôi khích lệ các bạn chọn lựa cuộc sống làm chứng 10 khuyết điểm tuyệt vời đó của Chúa Giêsu.
Và để chấm dứt buổi chia sẻ này tôi xin kể cho các bạn một sự kiện trong cuộc đời của một danh nhân thế giới đã từng chọn Chúa Giêsu, chọn giáo huấn của Ngài, một giáo huấn mà ông ấy cho là kỳ lạ, mâu thuẫn “Kitô giáo kỳ lạ” (Le Christianisme est étrange, Pascal, Pensées, no 537). Danh nhân ấy là ông Blaise Pascal (1623-1662). Khi ông Pascal vừa qua đời vào tuổi 39, người giúp việc trong gia đình xin người chị của ông cho phép mở gấu áo ông mặc lần cuối để xem ông thu giấu cái gì trong ấy. Vì mỗi lần thay áo cho ông, chị giúp việc thấy ông luôn mở gấu áo cũ lấy một cái gì trong ấy rồi lại tự may vào gấu áo mới. Người chị của Pascal cũng như người giúp việc cắt gấu áo và thấy có một miếng giấy nhỏ, trên ấy ghi vỏn vẹn câu sau đây:
“Sự sống đời đời là hiểu biết và yêu mến Ðức Kitô và Ðấng đã sai Người... lửa, lửa, lửa; nước mắt, nước mắt, nước mắt của tình yêu”. Ðó là bí quyết của B. Pascal một văn hào, một triết gia, một nhà toán học.

ĐHY. P.X. Nguyễn Văn Thuận
Được tạo bởi Blogger.