XIN GÌ TRONG NGÀY CHÚA ĐẾN



Có những ca khúc Giáng Sinh sống mãi với thời gian. Đó là những ca khúc mà khi vang lên đã gợi trong ta biết bao ký ức, bao nhiêu là hoài niệm. Hằng năm lúc những hàng cây bên đường trụi lá, khi những cơn gió mùa đông se lạnh ùa về, đó đây vang lên những giai điệu của những ca khúc Giáng Sinh quen thuộc. Cũng là những ca khúc Giáng Sinh nhưng mỗi nơi mỗi vẻ khác biệt. Nơi giáo đường nhạc được tấu lên bởi tiếng dương cầm du trầm bổng cùng dàn hợp xướng nhiều bè; Từ các xóm đạo nhạc là những ca khúc bình dân, gần gũi. Ở các trung tâm mua sắm nhạc nhộn nhịp, réo rắt theo những bước chân vội vã. Nơi quán xá vang lên những ca khúc trữ tình với lời nguyện ước chung đôi...


Trong những ca khúc ấy, bất kể tiết tấu nào, dù vui tươi hay lắng đọng thì vẫn thường chung một mẫu số, đó là nguyện ước bình an. Ta có thể thấy điều này trong ca từ của bài hát Joy To The World (Niềm vui cho thế giới) của G.F. Handel: “Tiếng muôn thiên thần hỉ hoan ca mừng. Lừng vang đồng xanh đêm vắng. Chúa sáng danh trên trời.Chúc thái an cho đời. Người người dạt dào niềm vui. Đất trời ngợp đầy hạnh phúc. Trong giờ phút linh thiêng. Chúa Con ra đời”. Hay ở điệp khúc trong bài Mary's Boy Child (Đi tìm Chúa tôi) của nhóm Boney M: “Vinh danh Chúa khắp ngàn tầng cao. An bình trần thế ngay lành. Hang lừa tối tăm trong máng rơm hèn. Đơn nghèo vua Trời Chúa ta”. Với Silent Night ( Đêm Thánh Vô Cùng) thì nguyện ước thẳm sâu ấy lại được thể hiện qua những giai điệu du dương, thánh thiện. Để rồi mỗi khi từng nốt nhạc ngân lên, trong ta như hiển hiện hình ảnh về một làng quê yên bình tận nước Áo xa xôi cách đây gần 200 năm trước. Dường như sự yên bình ấy đã khiến lòng người dễ dàng hướng đến Trời cao.

Với thánh ca Việt Nam, có lẽ nhạc sĩ Hải Linh đã tiên phong thể hiện triết lý này trong ca khúc Hang Bê lem vào thập niên 40 của thế kỷ trước: “Nửa đêm mừng chúa giáng sinh ra chốn nhân trần. Người đem ân phúc xuống cho muôn dân lầm than. Nơi hang Bê lem thiên thần sướng ca. Thiên chúa vinh danh chúng dân an hòa”. Ngày nay chúng ta có thể nhận ra chiều hướng sáng tác ấy qua các ca khúc như: Đêm Nay Noel Về của nhạc sĩ Xuân Thảo: “Ðêm nay Noel về, người ơi hãy vui lên. Hợp câu kinh tiếng hát, hợp lòng với thiên thần. Ðêm nay Noel về, người ơi hãy vui lên. Bình an cho nhân thế, người người sống tin yêu”; Ca khúc Mưa Hạt Cứu Rỗi của nhạc sĩ Thông Vi Vu: “Vinh danh Thiên Chúa khắp cõi Trời. An hoà nhân thế đời thảnh thơi. Ngày từng ngày niềm hạnh phúc đã khơi .Lòng hẹn lòng vun đắp đời đẹp tươi”; Và trong ca khúc Ngàn Ánh Sao Đêm của nhạc sĩ Lê Minh Hoàng: “Ngàn vạn tinh tú soi sáng khắp trần gian. Tình người bên nhau chia sẻ những lúc ưu phiền. Yêu mãi yêu từng lời cầu chúc nhau. Chúc nhân loại an lành vui mùa Noel”.

Chúa đã đến cách đây hơn hai ngàn năm và vẫn đang đến với mỗi người chúng ta trong từng biến cố của cuộc đời. Chính Chúa Giêsu đã để lại bình an của Ngài như lời đã hứa: "Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con." (Ga 14,27). Và trong thánh lễ ta nhận được nhiều lần lời chúc bình an từ linh mục chủ tế: “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”, “Lễ xong chúc anh chị em ra đi bình an”…Thế nhưng sao ta vẫn chưa thấy được bình an trong tâm hồn. Sao ta vẫn khắc khoải kiếm tìm ơn bình an trong cuộc sống?

Bởi lẽ bình an chính là thông điệp đầu tiên được các thiên thần tung hô trong một đêm lạnh giá ở Bê lem khi Con Thiên Chúa đã sinh ra làm người trong máng cỏ đơn sơ: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Bình an là khát vọng của loài người một khát mong vượt qua mọi lãnh thổ, mọi biên giới; vượt qua những khác biệt về màu da, về ngôn ngữ; vượt qua cả không gian và thời gian.

Thế nhưng cuộc sống hôm nay đã mang đến cho ta quá nhiều những nỗi bất an. Bất an bởi những lo toan cơm, áo, gạo, tiền; Bất an bởi ta bị cuốn theo những vòng xoáy tưởng chừng như vô tận của những toan tính nhỏ nhoi, những ước muốn ngông cuồng. Thế giới mỗi ngày vẫn ngập tràn những cuộc tranh chấp, xung đột đẫm máu. Không phải vô tình khi trên các nấm mộ người ta thường ghi dòng chữ R.I.P như lời cầu chúc “Hãy yên nghĩ trong an bình”. Nói khác hơn, người ta chỉ có thể có được sự bình an đích thực trong tâm hồn khi không còn ưu tư hay bám víu vào bất cứ một điều gì khác.

Không phải bất kỳ ai cũng có được sự bình an của Chúa khi Ngài đến, nhưng chỉ có những ai thành tâm, thiện chí mà thôi. Trước tiên, các mục đồng được bình an khi thấy rằng Đấng Cứu Thế không phải là người xa lạ, nhưng thật gần gũi với họ, khi Ngài chọn sinh ra trong nơi ở của súc vật. Chiêm ngắm Hài Nhi, các mục đồng có thể yên tâm rằng, Con Thiên Chúa chắc chắn cảm thông được thân phận bé nhỏ của họ, Ngài là người thuộc về họ. Con Thiên Chúa đã chấp nhận sinh ra trong cảnh nghèo và luôn trung thành với lề luật của Thiên Chúa. Còn chúng ta lại luôn than thở và trách móc, bất mãn về cảnh sống của mình. Thậm chí, chúng ta còn nhân danh cái nghèo để vi phạm lề luật của Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đã đi hết hành trình cuộc sống với tất cả nỗi buồn vui, âu lo và trăn trở. Chẳng ai hiểu chúng ta bằng Ngài. Ngài chẳng xa lạ với những gánh nặng của cuộc sống chúng ta. Ngài đến để cùng chia sẻ kiếp người với chúng ta, để có thể dẫn đưa chúng ta về với Thiên Chúa. Ngài đã sống trọn vẹn thân phận của một con người, chỉ trừ tội lỗi (x. Dt 4, 15). Không có gì của con người mà lại xa lạ với Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đã sống trọn vẹn từng phút giây của cuộc sống con người một cách bình an.

Hêrôđê đã mất bình an vì Chúa đến, thực ra là ông chưa hề có bình an và sự ra đời của tân vương mới của Ít-ra-en, càng khiến ông bất an. Để có được thứ “bình an giả tạo”, ông đã tắm máu biết bao trẻ nhỏ vùng Bêlem. Những ông bà chủ của những quán trọ đã từ khước sự bình an của Con Thiên Chúa khi chẳng muốn biến quán trọ của họ thành nhà hộ sinh vì Maria đã sắp lâm bồn. Con Thiên Chúa xuống thế làm người, dầu có ở trong hang đá máng lừa, vẫn còn may mắn hơn bao thai nhi vô tội ấy, khi Ngài có cơ hội mở mắt chào đời trong sự yêu thương và bảo bọc của mẹ cha.

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, Chúa đến và sẵn sàng ban bình an cho con người, nhưng chúng con không muốn đón nhận vì thích những bình an giả tạo từ tiền bạc, quyền lực, và dục vọng hơn. Xin cho chúng con cảm nhận thật sâu sự bình an đích thực của Chúa, sự bình an đến từ sự hủy mình ra như không, chỉ vì yêu. Chỉ khi cảm được sức nóng từ ngọn lửa tình yêu của Chúa, chúng con mới đủ can đảm nói không với những bất an phù phiếm và chóng qua ở đời này, để dám yêu Chúa và để Chúa yêu mình, ngõ hầu bình an đích thực của Chúa sẽ ngự trị cõi lòng chúng con Giáng Sinh năm nay.

Chung Thanh Huy
(Tác giả gửi bài về BBT)

Đám nhóc con ném từng nắm đá lên mái lá nghe rào rào rồi lao nhao chọc tức:
- Lêu, lêu ông Tư què!
- Chấp ông một giò đó, dám chạy đua không..ha..ha…!
- Chạy nhanh tụi bây ơi, ổng rượt kìa !

Ông già cà thọt tức tối quơ quơ cây nạn lên trời vừa nghiến răng chửi rủa:
- Đồ mất dạy, có ngon đứng lại đây!

Trong nhà có tiếng vọng ra:
- Thôi đi, hơn thua làm chi với đám con nít!

Ông lê bước quay vào nhà nhưng cơn giận vẫn không nguôi, ông lẩm bẩm:
- Con nít quỷ thì có, Trời đánh tụi bây!
Bà già cằn nhằn:
- Nói tầm bậy, ông Trời nào mà như vậy ?
Ông già càng cay cú:
- Có đó, thứ Trời đất bất công nên tôi với bà mới khổ sở như vầy.
Rồi ông rống lên bằng cái giọng như khùng như điên:
- Trời ơi, là trời có giỏi thì đánh chết mẹ tui luôn …đ..i… t..r..ờ..i..

Tư què, là tên những người quanh đây vẫn quen gọi khi nói về đôi vợ chồng luống tuổi tá túc trong cái quán nước nhỏ kiêm sửa xe nằm dưới con dốc. Gọi quán cho sang chứ thực sự đó là cái mái lá xiêu vẹo dường như có thể đổ sập bất cứ lúc nào. Mà có nghèo khổ gì đâu, thụt sâu phía sau là căn nhà bề thế tươm tất cùng mấy mẫu cà phê bạt ngàn. Nhưng nghe đâu cách đây hơn chục năm vì một biến cố mà ông trút bỏ tất cả, trở nên gàn dở hết chỗ nói. Chỉ tội bà Tư, vì thương chồng nên cứ phải lê lếch cùng ông trong cái mái lá sụp sệ này trong lúc căn nhà lớn lại cửa đóng then cài. Nghe nói hai đứa con ông buồn cảnh gia đình nên đã bỏ xuống Sài Gòn làm ăn, sinh sống.

Mưa bắt đầu nặng hạt, ông Tư nheo mắt nhìn ra, dường như có ai đó đang loay hoay trên chiếc xe lăn như muốn ghé vào trú mưa. Chưa kịp bước ra, chiếc xe đã lủi sâu vào chòi, đâm thẳng vô vách “rầm” một cái, ông bực bội cằn nhằn:
- Từ từ thôi chớ!
- Ông thông cảm, tui vướng cục đá. Phiền ông bà cho tui trú mưa một lát.

Người đàn ông trên chiếc xe lăn lắp bắp giải thích rồi kéo cái nón nhàu nhỉ trên đầu xuống lau những vệt mồ hôi chảy dài trên khuôn mặt khắc khổ. Trong lúc người đàn ông de tới de lui để xoay trở chiếc xe quay hướng ra đường ông Tư mới nhìn rõ hơn bộ dạng của người khách lạ; hai chân cụt quá gối, chỉ một cánh tay là lành lặn nhưng cũng đầy thẹo vít, tay kia cụt gần sát khuỷu. Hèn chi, ổng điều khiển chiếc xe lăn mà mướt rược mồ hôi, như người ta cuốc đất làm rẫy. Lúc mời nước, thoáng thấy cây Thánh giá trước ngực người khách lạ, ông Tư dợm hỏi:
- Ông theo đạo Chúa ?
- Tui đi đạo từ nhỏ.

Ông Tư bắt đầu giở cái giọng gàn dở của mình:
- Sao Chúa của ông lại để ông khổ sở như vậy?
- Ông thấy tui khổ thiệt hả, ai cũng nói vậy. Nhưng tui thấy mình hạnh phúc hơn nhiều người, ông à!
- Vậy mà hạnh phúc? Sao ông không nói Chúa làm phép để tay chân ông được lành lặn?
- Tôi từng có một cơ ngơi và mái ấm hạnh phúc như người ta. Sau bảy lăm, tôi theo chân bạn bè đi mua bán phế liệu. Từ Nam ra Bắc chỗ nào cũng giáp dấu chân tụi tui. Mà người ta nói đúng thiệt, chỗ nào càng nguy hiểm, chỗ đó càng dễ mần ra tiền. Sau chiến tranh đi đâu cũng thấy đạn bom, thấy mà ham. Ông biết không, cái thời khó khăn nhất, gia đình tui chưa từng ăn độn một bữa nào. Trong nhà xe tải, xe hơi đều có hết. Vậy mà…


Nén tiếng thở dài, người khách kể tiếp:
- Đúng là sinh nghề tử nghiệp. Đó là lần ở Quảng Trị, mặc dù không hề sơ suất, lúc tháo ngòi nổ trái 105 ly cuối cùng, một tiếng nổ rung chuyển trời đất. Lúc tỉnh dậy, tui mới biết mình may mắn vì là người duy nhất sống sót sau vụ nổ đó nhưng mất hẳn 2 chân. Tui đã kêu Trời, trách Chúa tại sao không để tui được chết vì tui sẽ sống, sẽ tồn tại thế nào trong cái hình hài thảm thương này.Trong lúc những vết thương trên người vẫn đang mưng mủ, làm độc thì con vợ đã ẵm đứa nhỏ theo người khác với của cải dành dụm bao năm. Ra viện, tui thành kẻ tứ cố vô thân và xa lạ ngay với chính bản thân mình. Không gia đình, không nghề nghiệp, không tiền bạc, không tương lai …

Như bị cuốn theo câu chuyện, ông Tư hỏi tới:
- Rồi ông vượt qua làm sao?
- Lúc đó thứ duy nhất tôi còn lại là niềm tin ông à. Tui đã trách Chúa, rồi bỏ đạo luôn. Ông nghĩ coi tôi gần như mất tất cả, tại sao Thiên Chúa lại để tôi đi vào con đường cùng như vậy. Tôi đã sống một cuôc sống của một người không còn niềm tin, tương lai mất hết. Tui phải đi bán vé số kiếm ăn qua ngày. Rồi cũng vào một buổi chiều mưa như vậy, một người đàn ông coi bộ dạng cũng bình thường lắm trong lúc cùng trú mưa hỏi thăm hoàn cảnh của tui, một hồi lâu ổng móc bóp ra, hình như vét cạn tiền đưa tui đủ số tiền còn thiếu để tui nộp cho đại lý. Lạ lùng là ổng không lấy bất cứ tờ vé số nào hết. Ống nói chia sẻ cùng tui thôi, chớ ổng không ham mê cớ bạc, ổng chỉ muốn được ngồi trò chuyện cùng tôi là đủ rồi. Lúc đó tui cứ nghĩ thầm trong bụng, chắc ổng sẽ như những người khác, cứ thấy hoàn cảnh tui là mở miệng ra lên lớp thế này thế nọ, khuyên nhủ tui phải vượt lên chính mình, lạc quan mà sống. Toàn những lời môi miệng chó chết. Họ có như tui đâu mà hiểu, nói suông thôi thì ai mà chẳng nói được. Nhưng thôi kệ, ổng đã vét sạch tiền cho mình thì dù gì đi nữa cũng là người ơn, người nghĩa cứ chịu khó ngồi nghe một chút.

Ông Tư hối thúc:
- Ờ, ông kể tiếp đi.
- Lạ lùng là ông không hề như tui nghĩ. Ổng nói, mỗi người mỗi cảnh, vì có đứng vô chỗ người ta được đâu mà mở miệng khuyên lơn. Dù không biết tui theo đạo nào nhưng ổng kể tui nghe vắn gọn một câu chuyện: Một đoàn người đi qua sa mạc, trên vai một người đều vác một cây thánh giá to, nhỏ khác nhau. Đường xa mà cái nắng nóng giữa trưa trên sa mạc như thiêu đốt nên ai nấy đều mệt mỏi, nhưng mọi người vẫn cố gắng lê từng bước chân nặng trĩu tiến về phía trước. Có một anh thanh niên rơi lại phía sau mọi người một quãng, lúc này anh mới nhận ra thánh giá mình đang vác có vẻ nặng và to hơn, có lẽ vì thế nên anh mới bị tụt lại. Một phút đắn đo, anh quyết định cưa bớt một đoạn thánh giá hy vọng sẽ đỡ vướng mà cũng nhẹ nhàng hơn. Và đúng như anh nghĩ, sau khi cưa bớt thánh giá, anh không những đuổi kịp mà còn vươn lên dẫn đầu đoàn người ấy. Chiều đến, lúc mọi người cũng gần như đã kiệt sức, bỗng dưng trước mắt họ hiện ra một con sông rộng và sâu cùng dòng nước chảy xiết. Chỉ cần vượt qua được con sông này là mọi người sẽ đặt chân tới đích đến, đó là một ốc đảo xanh tươi cùng những dòng suối trong lành và những hàng cây trái trĩu quả. Không ai bảo ai, mỗi người lần lượt đặt cây thánh giá trên vai xuống làm thành chiếc cầu vững chãi bước qua. Chỉ anh thanh niên là không thể qua được vì thánh giá của anh bị thiếu một đoạn vừa đúng với đoạn mà anh đã cắt bỏ”.


Hớp thêm ngụm nước, ông già thong thả kể:
- Thì ra, điều ông ấy muốn nói với tui là nhiều khi những đau khổ, thử thách là những cây thánh giá Chúa gửi đến cho từng người và ngày sau hết chính những khổ đau, khốn khó mà ta đã nếm trải trong cuộc đời sẽ mang lại những phần thưởng xứng đáng ở đời sau. Trong lúc tui đang miên man suy nghĩ về câu chuyện thì người đàn ông ấy đã đi khuất từ lúc nào. Rồi cũng từ buổi chiều đó, tui trở về với Chúa ông à, như sự trở về của người con hoang đàng trong Kinh Thánh. Tui nghiệm ra rằng tuy tui nhiều lần bỏ Chúa nhưng Chúa không bao giờ từ bỏ tui, cuộc đời này luôn có Lòng Thương Xót Chúa chở che, nâng đỡ dù bất cứ hoàn cảnh nào, ông à!

Như trút được nỗi lòng, ông Tư thở dài một hơi rồi góp chuyện:
- Thú thật tui cũng là người có đạo, sao chuyện tui với ông từa tựa như nhau vậy. Ngày trước gia đình tui cũng hàng khá giả, sung túc ở cái vùng này. Vậy mà trong chớp mắt tui cũng gần như mất hết. Năm đó cà phê được giá nên sau khi bán hết mấy tấn cà phê vợ chồng tui chở nhỏ con gái lớn lên Biên Hoà sắm sửa một mớ đồ đạt. Bận đi không sao, đến bận về vừa qua khỏi ngã ba Dầu Giây một đỗi, chiếc xe tải mất thắng tông vô cái xe máy tui chạy, lôi đi hơn năm mươi mét mới dừng lại được. Tui bị cán nát một chân, đứa con gái chết ngay tại chỗ, còn bả thì chỉ bị thương nhẹ bên ngoài. Đau lòng lắm ông à, khi bất lực chứng kiến cái chết quá đau đớn của đứa con mà mình đã rứt ruột sinh ra. Sau biến cố bi thảm đó tui như điên như dại lang thang khắp đầu đường xó chợ để tìm cho được con mình. Tui không tin nó bỏ tôi ra đi như vậy. Tui đã oán trách Chúa, Chúa đang làm gì, đang ở đâu khi chiếc xe ben kia mất thắng trong cái ngày định mệnh đó. Hay Chúa đã nghoảnh mặt làm ngơ, để rồi gia đình tui phải chấp nhận cái thảm cảnh quá đau đớn ấy. Thử hỏi lòng thương xót, sự quan phòng của Chúa ở đâu? Tui chỉ thấy Thiên Chúa quá bất công và tàn nhẫn. Và tui đã bỏ Chúa từ dạo đó…

Bất chợt, ông Tư hạ thấp giọng như đang nói với chính mình:
- Nhưng hôm nay, qua câu chuyện của ông, tui như tìm thấy lại được chút bình an, một chút thanh thản… Vì hoàn cảnh của tui ít ra cũng còn may mắn hơn ông nhiều lắm, tui vẫn còn cuộc sống này, còn tài sản, còn gia đình… Có thật là Chúa không bỏ rơi, không oán trách mình phải không ông?

Người khách lạ lên tiếng:
- Thật là vậy, thật tình tui cũng không dám khuyên lơn gì, thánh giá của mỗi người chẳng hề giống nhau. Tạ ơn Chúa vì chính ông nhận ra điều đó.

Như chợt nhớ ra điều gì, ông Tư bật đứng dậy đi vô trong nói với bà Tư:
- Bà ủi gấp cho tui bộ đồ nhe!
- Đang mưa gió, đi đâu vậy ông già dịch?
- Đi nhà thờ chớ đi đâu, hỏi lạ, hôm nay là Chúa Nhật mà!

Giờ đến lượt bà Tư trố mắt ngạc nhiên, đã lâu lắm rồi ông mới thốt lên hai tiếng nhà thờ. Hơn mười năm nay, chỉ có mình bà đến nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật. Có lẽ Chúa đã nhậm lời cầu xin liên lỉ chừng ấy năm qua, bà xin Lòng Thương Xót Chúa cho ông đừng đánh mất ơn nghĩa khi tuổi già, bóng xế. Lúc ông trở ra, trời đã tạnh hẳn, người khách lạ cũng đã ra đi tự khi nào. Ông Tư thấy áy náy vì vẫn chưa kịp cảm ơn vị ân nhân của mình. Ông bước ra đường ráng tìm cho bằng được nhưng người khách đã biến mất bất ngờ như lúc ông ta đến. Chỉ có con dốc vắng lặng rực vàng màu trong ánh nắng chiều. Đằng xa, tiếng chuông nhà thờ vang lên những hồi chuông giục giã…

Đã lâu lắm rồi người ta mới thấy lại ông Tư diện bộ comple thẳng thóm đi lên nhà thờ. Lối lên nhà thờ sát cạnh nhà vậy mà hơn mười năm qua ông không hề lui tới. Con đường giờ lát đá rộng rãi sạch sẽ chứ không gồ ghề lấy lội như lúc trước. Ông Tư tới nhà thờ cũng vừa kịp lúc Ca đoàn bắt đầu bài ca nhâp lễ:
“Khi Chúa cất đi rồi Chúa ban cho con hân hoan tạ ơn Trời. Khi Chúa ban cho rồi Chúa cất đi, xin cho con biết tạ ơn Trời…”



Ai cũng nói Phương may mắn với công việc hiện tại. Cũng không biết có điều đó đúng hay sai vì Phương không mấy tin tưởng chuyện hên xui, may rủi. Nhưng giờ ngẫm nghĩ lại cũng thấy cái may mắn mà mọi người nói cô cũng có lý. Nói chi xa, đám bạn cùng tuổi, toàn kỹ sư, bác sĩ chứ có đùa đâu với đủ thứ bằng cấp vậy mà vẫn thất nghiệp dài dài. Mấy đứa có việc thì hầu hết nhờ chấp nhận làm trái nghề.


Phương làm ở một bệnh viện phụ sản. Đây là nơi cô trụ lại lâu nhất sau khoảng thời gian bôn ba khắp nơi cùng với đủ mọi công việc. Đến giờ này, hơn 4 năm gắn bó vậy mà không ít lần cô cứ nghĩ mình đang mơ. Với cô, còn gì hạnh phúc hơn được làm công việc mình yêu thích và đúng chuyên môn nữa. Sự thật là vậy, Hậu sản là khoa luôn tràn ngập tiếng cười và niềm hạnh phúc. Không có những gương mặt thấp thỏm đợi chờ hay nhăn nhó đau đớn của các sản phụ chuẩn bị lên bàn sinh như khoa Tiền sản, nơi Phương làm chỉ có nhưng nụ cười của những người được làm cha mẹ, của thân nhân, bạn bè đến chia vui. Và cả những niềm hạnh phúc rạng ngời trong ánh mắt của những người vừa trải qua hành trình vượt cạn thập tử nhất sinh. Phương yêu lắm những bàn tay, bàn chân bé xíu, những làn da lán mịn nhưng cũng thật mỏng manh của các em bé sơ sinh; Nhất là những gương mặt hồn nhiên thánh thiện tựa như thiên thần. Nhưng với những dịch vụ mâu thuẫn nhất thì phải kể đến khoa Điều trị hiếm muộn và khoa Kế hoạch hóa gia đình. Đây cũng là 2 khoa có nguồn thu vượt trội ở bệnh viện với nhu cầu người đến khám và điều trị hằng ngày khá lớn. Bên này người ta muốn có con bằng mọi giá thì bên kia cũng bằng mọi giá nhưng người ta muốn bỏ con. Một bên với những người bỏ ra cả gia tài để chắt chiu, ước mong cơ hội được làm mẹ cha. Thì ngược lại, bên kia có những con người đang chối từ cái quyền thiêng liêng ấy, chỉ muốn trục những sinh linh bé bỏng ra khỏi cơ thể mình càng nhanh càng tốt. Như ông bà xưa vẫn thường nói “kẻ ăn không hết, người lần không ra”. Không ít phụ nữ, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng lại đến khám và đều trị ở cả 2 khoa . Đơn giản là khi còn trẻ đã nhiều lần đến nạo, phá thai. Đến lúc lập gia đình, tìm một mụn con còn khó hơn mò kim đáy biển. Vậy là tìm về chốn xưa, nhưng nay lại là khách hàng của khoa Điều trị hiếm muộn.

****

Hôm đi rửa tháng lương đầu tiên, tụi bạn Phương phấn khởi ra mặt:
- Mừng vì bạn mình có việc làm đúng nghề. Và càng mừng hơn khi từ nay chúng ta có chuyên gia tư vấn những chuyện thắc mắc…không biết hỏi ai. Ai có … lỡ khôn, lỡ dại thì cũng liên hệ bạn mình luôn để được “giải quyết” kín đáo, êm đẹp nhe các bạn!

Có lẽ hiểu nhau nhiều từ hồi học chung mấy năm cấp 3 và cũng có thể do thời buổi này việc ngủ chung, sống thử đã không còn là chuyện quá ghê gớm nên tụi nó nói huỵt toẹt ra như vậy. Xa nhà, thiếu thốn tình cảm, tiết kiệm chi phí, xem tính tình có hợp nhau không… nói chung là có 1001 lý do để người ta giải thích sau đã góp gạo thổi cơm chung. Thích thì dọn đến, chán thì dọn đi bảo là không hợp, chia tay sớm cho bớt đau khổ… Được gì, mất gì sau những cuộc tình đó thì ai cũng hiểu, có điều “Con cá trong lờ đỏ lơ con mắt, con cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô”. Không ủng hộ cũng chẳng phản đối, với Phương đó là một thực tế rất phổ biến không chỉ nơi người trẻ mà cả người sồn sồn, trung niên thậm chí đến các cụ ông cũng cứ thế mà…thử. Đó là một lựa chọn cá nhân của mỗi người. Phương vẫn tâm niệm, tất cả là nhờ ơn Chúa nên cho đến lúc này cô mới không sa ngã. Chứ tự bản thân mình chẳng làm được gì. Có lẽ đức tin của cô đã được hun đúc nhờ những ngày tháng được, sống được yêu thương cùng gia đình nơi xóm đạo miền quê. Ở đó có ngôi nhà thờ với tháp chuông vươn cao giữa ruộng lúa xanh ngát bạt ngàn. Để rồi giờ đây, đó là chốn quay vể mỗi khi cô muốn tìm lại bình an trong tâm hồn.

Nhưng nói như thế, không có nghĩa hành trình bảo vệ đức tin của cô không hề gặp những cám dỗ, thử thách. Lần đó vào một buổi cuối tuần, Thái rủ Phương đi xem phim. Đến giờ hẹn, đang loay hoay tìm ổ khóa đã thấy Thái đẩy cửa bước vào cười tủm tỉm:
- Eo ơi son môi mới kìa, hôm nay “ấy” xinh quá, cho anh… thơm một miếng nhe!

Cũng nụ hôn này, cũng đôi môi này nhưng hôm nay cô cảm nhận có cái gì đó khác hơn. Hình như ngọt ngào và cũng lâu hơn mọi khi… Phương thấy mình như đang dần tan chảy của trong vòng tay ấm áp của anh, cô muốn buông xuôi tất cả …bất chợt tiếng chuông từ ngôi nhà thờ gần đó vang lên những âm thanh quen thuộc làm Phương bừng tỉnh... Nhẹ nhàng gỡ tay tay người yêu, cô nhắc khéo:
- Chúa nhắc mình đến giờ… đi cine rồi kìa anh !

Thái giả vờ như không thấy, không nghe gì cả nên càng siết Phương chặt hơn, hôn tới tấp lên môi, lên má rồi dần xuống cổ, xuống ngực. Một chiếc nút, hai chiếc nút nhanh chóng bung ra… Dùng hết sức, cô thụt chỏ thật mạnh vào bụng Thái rồi lao ra trước hiên dãy nhà trọ đứng chống nạnh miệng thở hổn hển:
- Em đã nói nhiều lần rồi. Em sẽ cho anh tất cả, nhưng trước tiên anh hãy trả lời đi, chúng ta sẽ thu xếp cuộc sống như thế nào khi em có thai ? Đồng lương của 2 đứa đã đủ để nuôi con chưa? Và còn biết bao nhiêu hệ lụy nữa anh à !

Thái lí nhí trong miệng:
- Phương, cho anh xin lỗi…

Tỏ ra mạnh mẽ, cứng rắn nhưng thật sự lúc này đây Phương thấy mình thật yếu đuối. Cô thầm cảm tạ Chúa đã soi sáng để cô có thể dứt khoát với những đòi hỏi của người yêu và nhất là thắng vượt những cảm xúc của chính mình. Sau lần đó, Phương “cấm tuyệt” Thái bước chân lên nhà trọ nữa ở vì không muốn chuyện đó lặp lại lần nữa. Thôi thì phòng bệnh vẫn tốt hơn trị bệnh.


****


Bước ra khỏi phòng nhân sự, Phương như người mất hồn. Cô hoàn toàn không ngờ có ngày mình phải đối mặt với hoàn cảnh trớ trêu như vậy. Tiếp tục làm việc hay nộp đơn xin nghỉ? Tồn tại hay không tồn tại ? Theo quyết định điều chuyển, Phương sẽ về phụ trách việc cấp phát thuốc phá thai ở khoa Kế hoặch hóa gia đình. Lúc nảy, Phương đã nài nỉ thậm chí van xin bà trưởng phòng nhân sự :
- Con theo đạo Công giáo chắc không làm việc này được cô ạ. Con có thể làm bất cứ việc gì trừ việc này, con …con…không làm được.

Trưởng phòng nhân sự vẫn cương quyết:
- Ai cũng lựa chọn công việc theo ý mình thì có lẽ cái bệnh viện này sẽ loạn lên hết. Người ta có thai ngoài ý muốn nên mới cần mình hỗ trợ họ, cũng là làm phước mà thôi. Nghĩ kỹ đi, cái bào thai thì đã là con người đâu mà con lo nghĩ sâu xa. Chuyển công tác thu nhập của con sẽ tăng lên đáng kể. Cứ suy nghĩ rồi sáng mai trả lời!

Càng nghe, Phương càng thấy rợn người trước những lời lẽ thản nhiên đến lạnh lùng của họ. Lạnh lùng nên nơi đây mỗi ngày hàng chục thai nhi phải chết tức tưởi, phẫn uất trong sự lặng im, thờ ơ của những người cha người mẹ vô trách nhiệm. Không ít lần Phương đã tận mắt chứng kiến cảnh những chàng thanh niên ngồi ghế chờ ngoài hành lang mải miết chơi game mà không hề mảy may có biểu hiện lo lắng cho bạn gái. Thậm chí, có cô gái "mặt búng ra sữa" cứ lủi thủi đi đi lại lại dọc hành lang chờ bác sĩ gọi tên, còn chàng trai chỉ biết ngửa cổ hỏi: Xong chưa? Thấy cô gái khẽ lắc đầu, cậu thanh niên còn tỏ vẻ khó chịu ra mặt: Mất thời gian. Nhanh lên, không thì tự đón taxi mà về. Nói xong, thanh niên nọ lại cúi xuống chơi game tiếp…

Cũng như các bệnh viện khác, ở đây việc nạo phá thai được hợp thức hóa với những từ ngữ hết sức mỹ miều: hút điều hòa kinh nguyệt, kế hoặch hóa gia đình. Phương vẫn nghĩ, cho dù phương pháp nào đi nữa thì phá thai cũng là một hành vi hết sức tàn ác. Nếu thai nhi đã lớn thì phương pháp kovax thường được ưu tiên. Người ta sẽ đặt túi nước vào tử cung người phụ nữ để kích thích thai nhi ra ngoài. Nhiều ca phải lấy kềm răng kẹp bất kỳ vị trí nào đó của thai thi lôi ra ngoài hết sức man rợ. Còn những thai nhi dưới 7 tuần tuổi người ta phải dùng đến 2 loại thuốc khác nhau; Đầu tiên, người phụ nữ được cho uống loại thuốc phá thai, 48 giờ sau sẽ là loại thuốc kích thích tử cung co bóp mạnh để tống khứ thai nhi ra ngoài. Nạo phá thai dù 1 lần hay nhiều lần đều để lại những hậu quả khôn lường như: băng huyết, viêm nhiễm, thủng tử cung, sốc thuốc, hôn mê … Các tai biến có thể dẫn đến vô sinh ở lứa tuổi có khả năng sinh sản khá cao. Còn những sang chấn tinh thần, khủng hoảng tâm lý thì có lẽ chẳng ai đếm được. Việt Nam là nước có tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên thế giới. Một “thành tích” hết sức đau lòng và quá xấu hổ. Chẳng lẽ giờ đây Phương lại đồng lõa, lại tiếp tay cho những tội ác khủng khiếp ấy. Nếu không cô sẽ bị đuổi vì không tuân hành sự sắp xếp điều chuyển của cấp trên. Đồng nghĩa với việc cô sẽ phải chấp nhận quay về khoảng thời gian bôn ba tìm việc như lúc mới ra trường. Một vấn đề hết sức quan trọng vậy mà Phương phải suy nghĩ và quyết định trong vòng chưa đầy 24 tiếng đồng hồ nữa…


****

Chiều muộn, Phương vẫn chưa vội rời bệnh viện dù ca trực đã kết thúc từ lâu. Cô rảo bước tìm đến chiếc ghế đá quen thuộc dưới hàng cây rợp mát. Chưa kịp ngồi xuống Phương chợt nhận ra tờ giấy học trò ai đó gấp đôi để quên trên ghế. Cô ngồi xuống tò mò mở ra xem. Thì ra là một bài thơ được chép tay với tựa đề “Lời của thai nhi”:

Con muốn tỏ cho mẹ cha được biết
Con đã là người với tim, óc, tứ chi
Mẹ cha đừng nghĩ, con chẳng biết gì
Chỉ có nói là con chưa biết nói !
Hãy sinh con ra ! Nghe theo tiếng gọi
Của chính con, của nhân loại lương tri
Nhẫn tâm giết, tội sát nhân gớm ghiếc
Cho con thành người, con mong mỏi quá đi.
Con kết tinh của tình yêu tha thiết.
Của mẹ cha, của linh khí anh hoa
Của son sắt, của tơ duyên vĩnh cửu.
Của yêu thương, của tình ái chan hòa.
Sao giờ đây mẹ cha lại dè bỉu
Chính đứa con, giọt máu của mẹ cha
Chính đứa con đã kết nụ đơm hoa
Từ ái ân từ tình yêu trân quí ?
Cho con ra đời, dù không hoan hỉ
Cứ bỏ con nơi bố thí, viện tế bần.
Dù cùng cực, dù vạn lần khốn khó
Xin một lần, cho con thấy ánh bình minh
Những lời này thật vô cùng tha thiết
Là những lời oà vỡ tự trái tim
Xin ngưng tay, hãy bớt giận, con xin…
Để con sống dù không nhìn con nữa !
Con lạy mẹ cha trăm ngàn lạy nữa
Hãy dể con, cho con được sinh ra
Ngày chào đời bằng tiếng khóc oa oa…
Chính ngày đó, con vô cùng sung sướng !
Xin hãy gắn, hãy thương con, rộng lượng
Cha mẹ không tủi hổ bởi con đâu.
Con nằm đây, chắp hai tay cầu khẩn.
Mẹ cha ơi, xin chớ bỏ con nhe...


Gấp tờ giấy đặt lại chỗ cũ, Phương mới nhận ra cặp kính đang nhoà đi với hai giọt nóng hổi. Cô thầm nghĩ, nếu được đọc những vần thơ thống thiết này có lẽ không một người phụ nữ nào có thể nhẫn tâm tước bỏ sự sống thai nhi mà họ đang cưu mang. Và Phương nhận ra điều Chúa đang nói cùng cô. Không! Phương không thể thỏa hiệp với cái ác của tội lỗi , cô sẽ không bán rẻ linh hồn mình vì miếng cơm manh áo như vậy. Cô vững tin rằng khi Thiên Chúa đóng cánh cửa này thì đồng thời Người sẽ mở cho cho cô nhiều cánh cửa khác: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia Người sẽ thêm cho” (Mt 6:33). Mặc kệ ánh mắt hiếu kỳ của những người xung quanh, Phương chắp tay trước ngực tạ ơn Thiên Chúa rồi bước nhanh đến phòng nhân sự nộp đơn thôi việc…



Cô muốn trở mình nằm nghiêng nhưng không thể. Toàn thân rã rời, họng khô rát . Mỗi lần cô gắng sức xoay trở là cái chõng tre ọp ẹp kêu lên răn rắc như muốn đổ sập. Cô lơ mơ nhận ra mình đang ở một nơi nào đó hoàn toàn xa lạ. Vậy là mình vẫn chưa chết sao ta, cô tự hỏi rồi đảo mắt nhìn quanh cái mái lá trống hươ, trống hoác. Trên vách đối diện chỗ cô đang nằm có treo cây Thánh giá màu nâu cũ kĩ. Phía dưới là tấm hình Đức Mẹ sờn rách, bạc màu. Lại Chúa với Mẹ, đúng là “chạy trời vẫn không khỏi nắng”. Có lẽ chỗ này nằm sát mé biển, vì nằm ở đây cô vẫn nghe rõ từng nhịp sóng xô bờ, tiếng xào xạc của hàng phi lao trong gió.

Cô yêu biển bằng cả con tim khao khát, yêu như chính máu thịt của mình. Nhưng cũng có lúc cô lại thấy căm thù biển trong tận cùng nỗi đau của cuộc đời. Biển cho cô cơ hội xây nên nhiều ước mơ tựa những lâu đài cát nguy nga, tráng lệ rồi cũng chính biển đập tan tất cả bằng những con sóng vô tình, hờ hững. Cô đã đến đây, một gòn đảo hoang sơ để trở về với biển khi những gánh nặng cuộc đời đang thi nhau chất chồng lên đôi vai bé nhỏ như sắp riệu rã của cô. Về với biển, để cô xóa sạch mọi ưu tư, phiền não tựa nhưng con sóng đã xóa dấu chân cô trên bãi cát dài của miền ký ức.

Cô mong được trút hơi thở sau cùng nơi biển, như một sự trở về từ nơi cô đã được sinh ra. Linh hồn cô sẽ phiêu diêu với sóng, với gió như cánh chim bằng bay khắp đại dương...

Có bóng người bước vô cửa, nhìn cô lom lom rồi lên tiếng:
- Tỉnh rồi sao, nằm yên đó đi để tao vô múc miếng cháo cho mà ăn.

Thì ra đó là một bà lão chắc cũng ngoài 80, có điều dáng đi nhanh nhẹn lắm. Bà quăng đại cái nón lá rách bươm vô góc rồi te te xuống bếp. Chỉ mấy phút sau bà bưng lên cho tô cháo trắng bốc khói thơm lừng cùng cái trứng muối chẻ đôi:
- Chắc đói lắm rồi, ăn nóng đi con cho nó mau khỏe. Nồi cháo này tao bắc hồi sớm lận, để hờ bây tỉnh là có mà ăn liền.

Cô ngồi dậy, miệng lí nhí:
- Con cảm ơn bà nhiều lắm.

Bưng cái tô lên, cô húp lia, húp lịa. Chưa bao giờ cô thấy ngon như vậy, mặc dù trước tới giờ cháo là món cô không ưa. Có lẽ do cái bụng trống rỗng từ mấy ngày nay.

Bà già ngồi bên cạnh xởi lởi:
- Ơn nghĩa cái gì con ơi, ai dân ở đây là vậy, ai đặt chân tới cũng coi như người nhà, như ruột thịt. Huống chi là người hoạn nạn!

Nghe tới đó tự nhiên nhưng giọt nước mắt mặn đắng cứ tuôn rơi thành dòng trên khuôn mặt cô. Dường như nó mặn hơn cả biển nước xanh thẳm, mênh mông ngoài kia. Đắng đót hơn cả cái tuổi thơ bất hạnh, lầm than của cô đã từng nếm trải.

Bà già đến bên cô như an ủi:
- Là người có đạo sao làm chuyện dại dột vậy bây ?

Giật mình khi bà nhắc đến hai chữ “có đạo”, nhưng cô vẫn tỏ ra bướng bỉnh:
- Con không có đạo, có biết Chúa Mẹ gì đâu!
- Biết hay không là tùy mày thôi, con à. Mình bỏ Chúa thôi chứ Chúa chẳng bao giờ bỏ mình đâu. Lúc mê sảng, bây cứ luôn miệng kêu Chúa Mẹ cứu, thì tao cũng hiểu rồi.
Chẳng lẽ thật sự như vậy sao? Lẽ nào bao năm qua cô đã chối bỏ tất cả, nhưng trong sâu thẳm trong tâm hồn cô vẫn cậy trông vào Thiên Chúa. Cô ngồi thẫn thờ một lúc rồi bắt đầu kể:
- Đúng là con có đạo, nhưng cũng bỏ lâu rồi. Quê con là một xứ đạo cũng ở miệt biển như vầy. Hồi đó nhà con cũng đầm ấm hạnh phúc lắm. Tía con theo bạn đi biển, có khi một vài tháng mới về nhà một lần. Con còn nhớ, mỗi lần tàu về là thôn, xóm vui như mở hội. Tôm cá tươi rói chất chồng đầy khoang. Đợt nào tía về cũng đưa tiền kêu má sắm sửa thứ này thứ nọ cho có với người ta. Rồi cơn bão năm đó ập tới bất ngờ không ai trở tay kịp. Tía con cùng những người đàn ông trong xóm đã nằm lại giữa biển khơi và mãi mãi không về. Sau đó mấy năm, má đi thêm bước nữa với một người đàn ông ở trên thị trấn. Ban đầu ổng ra vẻ lo lắng thương yêu con lắm, nên ai thấy cũng mừng vì nghĩ hai má con có phước nên gặp được người cha kế tốt lành. Nhưng rồi từ từ con nhận ra ánh mắt và hành động của ổng có cái gì kỳ cục lắm. Mỗi lúc nhà vắng người là ông kiếm cớ sờ soạt, đụng chạm vô người con. Nhưng khi con kể lại là má đều bênh ổng, chửi con là đồ con nít quỉ, trắt nết, cứ tưởng tượng chuyện bậy bạ. Rồi cuối cùng ổng đã ép con làm chuyện đồi bại khi má vắng nhà bằng cách dụ con đi theo ổng vá lưới ở dưới ghe. Con thấy đau đớn, xấu hổ và nhục nhã lắm. Muốn chết cho xong. Con cứ đinh ninh, khi về nhà má sẽ gào thét, sỉ vả thằng đàn ông khốn nạn kia rồi kêu công an đến trói tay giải đi. Vậy mà điều đó đã không hề xảy ra. Ngược lại, má đã quỳ lạy, van xin con đừng làm lớn chuyện, đừng để các em phải mồ côi cha thêm một lần nữa. Hãy vì má, hãy bỏ qua, hãy tha thứ cho thằng đàn ông khốn khiếp đó.

Con đã ra đi cùng với nỗi uất ức, nhục nhã đó. Càng đau hơn khi chính người rứt ruột sinh ra con lại tiếp tay cho một thằng đàn ông hãm hại đứa con của chính mình. Từ lúc đó con coi như đời con không bao giờ có mẹ. Con chỉ bỏ qua chứ không hề tha thứ cho họ. Và con cũng bỏ đạo, bỏ Chúa luôn. Con chẳng còn tin có Chúa trong cuộc đời này. Chúa đã ở đâu trong những lúc cuộc đời con nguy khốn như vậy? Rồi chính lúc con cố quên tất cả, muốn bắt đầu một cuộc sống mới thì cũng là lúc Chúa lại thử thách con bằng khối u ác tính trong não…

Cô tựa người rồi choàng tay ôm lấy bà tìm chút hơi ấm, tìm sự chở che như con kiến nhỏ đang chơi vơi tìm được chiếc lá khô giữa dòng nước xoáy. Bà lão bắt đầu kể:
- Đời tao cũng có khác gì bây đâu. Lớn lên ở cái thời buổi chiến tranh, loạn lạc. Năm đó giặc tràn về đốt phá xóm làng, cướp bóc mọi thứ. Đàn ông thì bị bắt bớ đi phu, đàn bà con gái thì bị tụi nó cưỡng bức. Mang trong mình giọt máu của kẻ mình không thương thì làm sao sống nổi. Cũng nhiều lần tao cũng muốn chết đi cho rồi nhưng mình đi đạo, tin Chúa thì đâu có quyền dứt bỏ sự sống. Với lại giọt máu đó đâu có tội tình gì, cũng là con mình thôi. Tao lẳng lặng bỏ xứ, trốn biệt cả người mà mình thương yêu để mà đi tới cái nơi hoang sơ này. Vất vả biết bao nhiêu mà kể xiết, nhưng với lòng tin cậy, phó thác vào Chúa thì mình có thể vượt qua hết con à. Rồi tao cũng sanh, nở như người ta. Có điều là một thằng con mắt xanh, mũi lỏ chớ không giống mấy đứa nhỏ quanh đây. Được cái, người xứ này đều tứ cố vô thân nên người ta thông cảm, giúp đỡ nhau hết lòng. Rồi người tao thương cũng lò la tin tức, vượt bao cách trở để tìm đến đây cho bằng được. Cũng thương đứt ruột nhưng nghĩ mình mất hết rồi, đâu có xứng đáng với người ta, nên đâu dám nhận lời. Vậy mà ổng cứ làm lì, ở riết rồi xin đi biển để được ở đây, chờ tao đồng ý. Thấy cảnh đó, bà con chòm xóm ai cũng nói vô, rồi tao thấy cũng đúng, thời buổi loạn lạc sống nay, chết mai thì cớ gì cứ tự làm khổ mình như vậy. Người ta đã lặn lội tới nơi cùng trời cuối đất này tìm mình nghĩa là họ thương yêu mình thật lòng và chấp nhận tất cả. Rồi tao với ổng gá nghĩa vợ chồng, nương tựa nhau mà sống tới giờ.

Bà lấy tay vuốt nhẹ lên mái tóc cô. Mái tóc mới ngày nào vẫn còn suông dài bóng mượt giờ đã vàng rực, xác xơ:

- Dù gì cũng ráng mà sống tốt con à. Con kiến, con trùng, ngọn cây, ngọn cỏ bị người ta chà đạp vậy mà vẫn cố giương lên mà sống. Cái mạng của mày cũng lớn lắm đó. Gió mùa này, bất cứ thứ gì rơi xuống biển cũng đều bị cuốn ra tuốt ngoài khơi. Vậy mà hổng hiểu sao cái thân mày lại được sóng đưa ngược vô bờ. Lúc vớt mày lên, ai cũng tưởng tiêu rồi, ai mà ngờ vẫn còn khỏe re. Chỉ có Chúa mới làm được vậy…

Dù gì cũng ráng mà sống tốt con à. Con kiến, con trùng, ngọn cây, ngọn cỏ bị người ta chà đạp vậy mà vẫn cố giương lên mà sống.

Nhìn những con sóng bạc đầu ngoài xa đang hung tợn cứ ào ạt vỗ vào bờ cô ngẫm nghĩ có lẽ bà nói đúng. Chúa đã chở che và nâng đỡ cô. Chúa đã không để cho cô phải chết từ chuyện rơi mất lọ thuốc ngủ đã chuẩn bị trước lúc đi đến đây và cả cái lúc cô quyết định trầm mình giữa lòng đại dương sâu thẳm. Và cuộc gặp gỡ lúc này, không ngờ câu chuyện của một bà lão ở cái nơi hoang sơ này lại giúp cô tìm ra hướng đi, một cái nhìn tươi mới hơn cho chính mình. Cô ngại ngùng hỏi :
- Nhà thờ gần đây không bà, con muốn xưng tội, cũng lâu rồi con chưa…

Bà già nhìn cô với cái miệng cười móm mém:
- Vậy mới phải chớ. Nhà thờ cách đây mấy chục bước thôi nhưng ông cha ở tuốt trong đất liền phải đi vòng vòng khắp mấy chục cái đảo thành ra lâu lâu mới ghé một lần.

Tới phiên cô ngạc nhiên thắc mắc:
- Chủ nhật cũng không có lễ hả bà?
- Thì vậy chớ sao, nên dân ở đây thèm được đi lễ lắm,.. Tội nghiệp ông cha lắm, ra tới đây là phải mần đủ thứ hết từ lễ lại, tha tội, rửa tội, đám cưới, xức dầu…

Nghe chuyện “thèm” đi lễ của người dân miệt này cô thấy thêm nể phục vì niềm tin của họ. Xa xôi cách trở mọi bề mà họ vững lòng tin, cậy, mến. Còn trong đất liền thánh lễ hằng ngày mà chỉ toàn ông già, bà cả tham dự.

Như chợt nhớ điều gì, bà già ngồi đếm mấy ngón tay rồi nhìn cô bằng đôi mắt sáng rỡ:
- Ủa, ngày mai là tới lượt ông cha ghé đảo mình rồi nè, lo dọn mình để xưng tội, rước lễ nhe con!
*
* *

Về lại khách sạn cô mới hay chỉ hơn một ngày mà điện thoại cô có gần 100 cuộc gọi nhỡ. Trong đó hơn gần 30 cuộc gọi đi từ Trung tâm chẩn đoán y khoa, 40 cuộc từ số máy của anh, còn lại là các cuộc gọi của bạn bè và các đối tác. Nhưng tại sao Trung tâm lại gọi cô nhiều như vậy. Kết quả xét nghiệm cô đã cầm trên tay. Cô đã hiểu cái án tử đang treo lơ lửng trên đầu mình và đó cũng là động cơ thúc đẩy cô đặt chân đến nơi này. Vậy thì còn thông tin gì hệ trọng hơn đến nỗi họ phải truy lùng cô một cách ráo riết? Chần chờ một lát, cô bấm máy gọi. Sau một lúc rào trước đón sau họ mới thành thật xin lỗi cô vì có sự nhầm lẫn trong việc thông báo kết quả xét nghiệm và tóm lại khối u của cô lành tính, có thể điều trị được. Cô dồn hết sức lực hét lớn vào điện thoại:
- Đồ tắc trách, tôi sẽ kiện các người!

Cô thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng ngàn cân, cũng là lúc anh gọi đến. Cô vừa bắt máy đã nghe giọng anh như reo lên:
- Em…em… làm anh lo quá, suốt từ hôm qua anh ko thể gọi em được!
- Em không sao, chỉ muốn nghỉ ngơi vài ngày thôi mà. Em đang ở cái nơi mà tụi mình từng ao ước sẽ đặt chân tới...
- Ngày mai, ngay sáng mai thôi anh sẽ tới, chờ anh nhé!

Cô mỉm cười khi nhận ra vẻ lo lắng, hốt hoảng của anh vì một ngày qua đã không thể liên lạc được với nhau. Càng thấy yêu anh hơn khi nhớ lại câu nói của bà lão ở xóm lưới: “Người ta lặn lội tới nơi cùng trời cuối đất này tìm mình nghĩa là họ thương yêu mình thật lòng và chấp nhận tất cả”.


Từ ban công khách sạn cô đang phóng tầm mắt về phía ngọn hải đăng le lói giữa biển đêm mịt mù. Cô đang mong chuyến tàu duy nhất mỗi ngày từ đất liền ra đảo. Chuyến tàu ấy có vị linh mục cùng ơn hòa giải giúp cô được trở về với Chúa và cũng có anh, tình yêu đích thực của mình. Và cô đang mong ánh bình minh của một cuộc sống mới…





Đó là chốn vốn không dành cho trẻ, nhưng vì những lý do khác nhau, một số em phải có mặt ở nơi đây…
Chỗ tôi làm việc đối diện với toà án quận. Đứng từ ban công nhìn sang khoảng sân trước toà, tôi có dịp chứng kiến biết bao cung bậc cảm xúc của cuộc đời. Nhưng điều làm tôi nghĩ ngợi nhiều nhất vẫn là hình ảnh những đứa trẻ bơ vơ, lạc loài ở chốn không hề dành cho chúng.

Làm sau không đau khi thấy những đứa trẻ vẫn vô tư chơi đùa trong lúc cách đó chỉ vài bước chân thôi là cái cảnh cha mẹ chúng đang cải vã kịch liệt hoặc so đo hơn thiệt lúc phân chia tài sản. Để rồi sau đó là những tiếng khóc xé lòng của chúng khi bị bắt lựa chọn phải sống với cha hay về cùng mẹ. Mấy phút trước đó vẫn còn là anh chị em một nhà giờ bỗng dưng mỗi đứa một nơi. Phút chốc hai tiếng gia đình đã trở thành quá khứ. Thế mới biết, những toan tính của người lớn đã đặt con mình vào những lựa chọn quá sức nghiệt ngã.
Phần lớn những đứa trẻ tôi gặp ở đó thường có gương mặt buồn buồn với bộ quần áo cũ mèm, nhàu nát vì đã từ lâu thiếu sự bảo bọc của cha hoặc không còn bàn tay chăm sóc của mẹ.
Có những đứa bé vẫn còn ẳm ngữa được quấn trong lớp khăn dày cũng được đưa đến, mong người cha đang trong vòng lao lý kịp biết mặt mình. Là những đứa trẻ ngủ ngon lành trên mấy bậc thềm cạnh khúc bánh mì ăn dở trong lúc chờ đợi. Có lẽ chúng cùng những người thân vừa mới đến đây bằng chuyến xe đi từ đêm qua.
Tất cả nhốn nháo lên khi tiếng còi ưu tiên từ chiếc xe chở phạm nhân một lúc một gần. Mọi người chen lấn, xô đẩy để được nhìn rõ mặt phạm nhân trong lúc những đứa trẻ với ánh mắt ngơ ngác, lo sợ chỉ dám đứng nhìn từ xa. Khi cánh cửa phòng xét xử khép lại cũng là lúc những đứa trẻ an phận trở về cái chỗ ngồi lúc nảy cùng tâm trạng mong chờ, trông ngóng.
Có những đứa trẻ chập chờn giấc ngủ trên vai cha dưới bóng cây trong lúc người mẹ đang đứng trước vành móng ngựa. Và cũng có những đứa trẻ đã khóc thét lên khi người cha đã trở nên xa lạ bởi lâu lắm rồi cha con chưa gặp mặt nhau.
Có khi là ánh mắt mong chờ của những cô, cậu học sinh với nguyên bộ đồng phục trên người. Các em đến đây với một ao ước nhỏ nhoi là được thấy mặt cha mẹ mình, dù chỉ trong một khoảnh khắc, rồi lại tất tả đến trường cho kịp tiết học sau.
Ở sân toà ấy, có những đứa trẻ được đưa đến để gặp mặt cha mẹ mình sau những ngày tháng cách xa với một lý do thường thấy là “đi làm ăn xa”. Hoá ra cha mẹ đã chẳng thể nào có được búp bê, xe đồ chơi cho chúng trên chiếc xe bít bùng kia như lời người lớn đã hứa trước lúc tới đây. Nhưng sự thật ấy cũng chẳng thể nào giấu mãi và liệu những đứa trẻ ấy đó có đủ sức đối mặt với những vết thương lòng sâu hoắm ấy hay không. Và liệu chúng sẽ tồn tại và phát triển ra sao trong những tháng ngày phải sống xa cha, vắng mẹ?


Sau khi bản án được tuyên, sân toà lại tiếp tục ồn ào huyên náo trong tiếng khóc, tiếng kêu của cái cảnh người đi, kẻ ở, của đôi tay bị còng giơ lên chào tạm biệt, của cái ngoái nhìn luyến tiếc và của những bàn tay bé xíu đang lạc lỏng, chơi vơi giữa cuộc đời rộng lớn mênh mông
Ở cái tuổi mà lẽ ra các em phải được bảo bọc, chăm sóc từ vòng tay yêu thương của cha mẹ. Vậy mà, lòng tham, sự vô tâm của những bậc làm cha, làm mẹ đã vô tình đẩy cuộc đời các em vào những ngõ cụt. Cái giá mà người lớn phải trả cho những sai trái của họ là điều tất yếu, chỉ thấy đau lòng cho những đứa trẻ phải gánh chịu quá nhiều mất mát, thiệt thòi khi còn chưa lớn.
Và tôi thầm mong có một phép mầu giữa cuộc đời này, để sân toà kia đừng bao giờ in dấu những bước chân non ấy…


Nhân ngày Tuyên Khấn Lần Đầu của quý sơ Hội Dòng MTG Thủ Đức 2017.




Tôi đã được gặp họ, những gương mặt còn rất trẻ nhận lấy Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí mình, tự nguyện tuân giữ những lời khuyên Phúc Âm, trở nên những nhân chứng sống động của Tình Yêu và Lòng Thương Xót Chúa giữa cuộc sống hôm nay.

Mới ngày nào họ còn là cô thôn nữ từ những miền quê xa xôi hoặc những tiểu thư đài các ở chốn thị thành nhưng nay đã trở nên những nữ tu Mến Thanh Giá, sẵn sàng lên đường gieo vãi Tin Mừng đến muôn phương, khắp lối.

Tôi đã được gặp họ, những nữ tu trẻ, vượt qua những khác biệt, cùng tề tựu nơi đây, dâng lên Thiên Chúa chính cuộc đời mình như của lễ toàn thiêu. 
Tôi đã được gặp ông bà cố của quý sơ, với những gương mặt hiền lành, chấc phác đã quảng đại dâng hiến cho Giáo Hội, cho Thiên Chúa những người con trân quý của mình.

Cũng là lần đầu tiên tôi đã được gặp Đức Cha Phaolô, người Mục tử bản lĩnh, can trường cùng một phong thái thật giản dị, gần gũi. Có lẽ không ít người đã nghe qua câu chuyện về những đàn ngỗng trời di cư vào mùa đông. Vậy mà qua cách ví von, ẩn dụ khá tài tình của Ngài đã giúp cộng đoàn phụng vụ có được những cảm nghiệm sâu sắc hơn về đời tu cũng như đời sống cộng đoàn. 

Và không hề ngẫu nhiên khi đoạn Tin Mừng được công bố trong Thánh Lễ Tuyên Khấn được trích trong diễn từ giã biệt của Đức Giêsu. Thật vậy, đối với người Kytô hữu nói chung, đặc biệt với những người theo Chúa Kytô một cách sát hơn như quý sơ, có lẽ không gì có thể quan trọng hơn giới luật yêu thương. Bởi yêu thương chính là chu toàn lề luật (Rm 13, 8-10). Với tình yêu trong tim người ta có thể làm được tất cả, như Thánh Augustino đã từng nói “Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”. 

Nguyện xin Tình Yêu và Hồng Ân Thiên Chúa luôn đồng hành và nâng đỡ quý sơ trên hành trình ơn gọi của mình. Cầu chúc quý sơ trở nên gậy dẫn đường cho những ai lạc lối, trở nên đôi mắt cho những tâm hồn chưa nhận biết Sự Thật để tất cả cùng tiến bước trên con đường trở về Nước Chúa…
Huy Chung(Bài viết tác giả gửi đến BBT VTCG)


Sau hai năm Tập Viện, ngày 20-06-2017 vừa qua, sơ Anna Nguyễn Bích Hạt đã tuyên khấn lần đầu trong Thánh lễ do Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp cử hành trọng thể tại Nguyện Đường Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức. 

Sơ Anna Nguyễn Bích Hạt (áo dòng đen) và sơ Têrêxa Nguyễn Thị Trông.


Sơ Anna Nguyễn Bích Hạt, bút danh Violet, là một tác giả khá quen thuộc của Giải Viết Văn Đường Trường với nhiều truyện ngắn được in trong các tuyển tập và đoạt giải các năm 2014, 2015, 2016.

Trước đó, ngày 18-06-2017, cũng tại Nguyện Đường Hội Dòng, sơ Têrêxa Nguyễn Thị Trông cũng đã nhận khăn lúp để bước vào giai đoạn Tiền Tập. Với bút danh Hoa Hồng Nhỏ, sơ Têrêxa Nguyễn Thị Trông cũng đã tham gia Giải Viết Văn Đường Trường nhiều năm qua và đạt giải thưởng năm 2014 và 2016.

Được biết, Mến Thánh Giá Thủ Đức là một trong những Hội Dòng luôn lưu tâm và khuyến khích việc viết lách của quý sơ trong suốt thời gian thụ huấn. Rất nhiều bài viết sâu sắc, ý nghĩa đã được ra đời từ các tác giả nữ tu thuộc nhiều lứa tuổi của các giai đoạn huấn luyện khác nhau như: Thanh Tuyển, Tiền Tập, Tập Viện, Học Viện. Website mtgthuduc.net của Hội Dòng có nhiều chuyên mục khá phong phú như: Tôn Giáo, Suy Niệm, Đời Tu, Góc Tâm Tình, Suy Tư, Nghệ Thuật Sống, Gia Đình, Giới Trẻ…tựa mảnh đất màu mỡ thuận lợi cho việc viết lách của quý sơ.

Nguyện xin Hồng Ân và Tình Yêu Thiên Chúa luôn đồng hành và nâng đỡ quý sơ trên hành trình Tận Hiến.

Và cũng ước mong với những cảm nghiệm mới mẻ và sâu sắc hơn trong giai đoạn huấn luyện mới sẽ giúp quý sơ có thêm nhiều tác phẩm hay về Tình Chúa – Tình Người. 

Huy Chung





Đó là đôi tay gân guốt, chai sần như hầu hết những người đàn ông ở cái miệt sông nước quê tôi.


Hồi đó mấy chị em tôi cứ hay thắc mắc, tại sao móng tay của ba chẳng có cái nào giống với cái nào. Lớn lên mới hiểu do phải làm lụng vất vả ngay từ nhỏ, lúc nào cũng trầm mình trong đồng sâu, nước mặn thành ra móng tay, móng chân của ba mới hư hết như vậy.
Mẹ kể, chính tay ba tập cho mấy chị em tôi những bước đi chập chững đầu tiên trong cuộc đời. Ngày đầu tiên đi học, tôi được ba cầm tay đi đến lớp trên con đường rợp mát bóng cây thật là hãnh diện và hạnh phúc đến biết chừng nào. Lớn trọng một chút, chúng tôi được ba dạy bơi ở con rạch ngay trước nhà. Ba nói gì thì gì chớ sống ở miền quê sông nước là phải biết bơi. Nông thôn ngày đó làm sao mà có mắt kính, phao tay, chân vịt mới học bơi được như bây giờ. Chỉ cần thảy xuống nước mấy khúc thân chuối do ba tôi chặt sau hè là đã có đủ cái để mà chị em tôi tha hồ bơi lặn, vẫy vùng. Tụi nhóc hàng xóm cứ hay thắc mắc, so bì tại sao chị em chúng tôi học bơi lẹ quá, mới mấy bữa là bơi được đủ kiểu. Trong khi tụi nó loay hoay mấy tháng trời vẫn chưa bơi được. Ờ, thì cũng nhờ ba tôi tập cho chớ đâu. Rồi ba còn tập cho chạy xe đạp, xe máy nữa. Nhờ tay ba mà chúng tôi ít khi nào té ngã hay lủi vô bờ, vô bụi. Lạ một điều, hễ ba chỉ dạy hay tập tành bất cứ thứ gì, chúng tôi thường nhanh chóng làm được, còn người khác thì không như vậy. Có lẽ trong vòng tay ba, chị em tôi cảm thấy tự tin hơn đồng thời cũng cảm nhận được sự ấm áp, yêu thương trọn vẹn nhất.
Mỗi lần có gánh hát cải lương hay đoàn chiếu bóng về diễn ở sân banh xã là y như rằng, đôi tay vạm vỡ của ba cứ đỡ từng đưa, thay phiên nhau con ngồi lên cổ ba để xem cho rõ.

Vậy mà những ngón tay to bè, thô ráp của ba cũng thật khéo léo. Ba tôi viết chữ, vẽ và nặn đất sét đều đẹp tuyệt vời. Khi thì cầm tay chúng tôi để tập viết, lúc thì tay chân lấm lem để nắn mớ đất sét thành đủ loại từ cây trái, đồ dùng cho tới muôn thú.

Thời đó ở quê hiếm khi bày bán các loại lồng đèn được làm sẵn như bây giờ vào mỗi dịp Trung Thu. Tất cả đều tự làm lấy, thì cũng tận dụng từ lon bia, hộp sữa bò với giấy báo cũ. Vậy mà cứ tới mùa là ba lại tất bật chọn giấy, vót tre để làm cho chúng con những chiếc lồng đèn lung linh, rực rỡ. Như người thợ lành nghề, không hề vẽ trước hay đo đếm gì hết, đôi tay ba cứ thoăn thoát trong sự thích thú của chúng tôi. Nào là vót tre, hơ lửa, uốn làm khung rồi mới tới công đoạn bồi giấy kiếng đỏ lên mặt lồng đèn. Đây là công đoạn khó nhất, đòi hỏi sự tỉ mỉ cao. Phải canh giấy sao cho đều, không thừa mà cũng không thiếu. Đợi cho khô, ba mới ra tay vẽ vời đủ loại họa tiết trang trí lên lồng đèn bằng thứ vôi ăn trầu của nội. Để rồi chúng tôi thường ưỡn ngực tự hào trước vẻ mặt trầm trồ, ngưỡng mộ của mấy đứa trong xóm: "Lồng đèn do ba tao làm đó, năm nào cũng có cái mới."

Quanh năm suốt tháng chẳng mấy khi thấy ba rảnh rỗi cho dù đó là thời gian vụ mùa hay lúc nông nhàn. Đi thì thôi, chớ về tới nhà là ba lại bận bịu tay chân với đủ mọi công việc từ trồng trọt cho đến chăn nuôi. Ai cũng nói ba tôi mát tay nên nuôi con nào, trồng thứ gì cũng thiệt là tươi tốt.

Đến lúc đi học xa nhà, ba luôn là người đưa mấy chị em ra bến. Lần nào cũng vậy, trước lúc lên xe, ba xoa đầu từng đứa một : “Có bất cứ chuyện gì, cứ điện thoại cho ba”. Đơn giản vậy thôi, nhưng trong tôi lại ngập tràn cảm giác hạnh phúc, bình an vì hiểu rằng dù chúng con có ở phương trời nào thì vòng tay ba vẫn luôn chở che, đỡ nâng.

Bà nội tôi ghiền trầu nên ba luôn giành phần đi chợ mua trầu cho nội. Ban đầu mấy bà, mấy cô thấy ba tôi là đàn ông mà đi chợ nên cũng hay chọc ghẹo, trêu đùa. Sau thì người ta cũng quen dần với hình ảnh một người đàn ông thường xuyên đi chợ mua trầu. Tận tay ba tôi lựa từng lá trầu, trái cau cho nội. Lúc răng nội yếu đi không tự nhai được thì ba lại chịu khó ngồi nguấy (giã) trầu sao cho thật nhuyễn cho nội.

Ngày bệnh viện cho nội về khi đã hôn mê sâu. Nhất quyết không để y tá khiêng nội trên băng ca mà chính tay ba ẵm nội lên xe mà thì thầm:“Về nhà mình nghỉ ngơi cho khoẻ, nhe má!”

Giờ ba đã là ông của một bầy cháu. Vậy mà đôi tay ấy nào được nghĩ ngơi. Ba lại tiếp tục chăm chút mảnh vườn xum xuê cây trái. Thấy mấy chị em con ái ngại, ba trấn an “Ở không ba chịu không được tụi con à, chịu khó một chút để hè về tụi nhỏ tha hồ trèo cây, hái trái!”
Và đôi tay ba vẫn mãi chăm chút, nâng đỡ và yêu thương cho dù mái tóc chị em chúng tôi giờ đã điểm bạc.
Đôi bàn tay ba, chúng con yêu lắm!

Huy Chung
Được tạo bởi Blogger.