BÀI HỌC VỀ SỰ DẬY MEN TIN MỪNG TẠI HÀN QUỐC
CHIA SẺ NHÂN DỊP TỔNG HỘI LEGIO MARIAE
NGÀY 05-12-2017 TẠI QUI NHƠN



Những chia sẻ của các đơn vị đa số đều tập trung vào việc đem lại bình an và hy vọng cho những người và những gia đình đã có một đôi chút quá khứ Công giáo nào đó. Chưa có mấy đại biểu nêu sáng kiến về việc trực tiếp loan báo Tin mừng cho lương dân. Thường thì khi gặp gỡ anh chị em lương dân, chúng ta dừng lại quá lâu với những nhập đề loay hoay với các lập luận nhân loại. Thế nhưng kinh nghiệm dậy men Tin mừng tại Hàn Quốc dạy chúng ta hãy mạnh dạn bắt đầu bằng chính lời Chúa. Đúng như lời trong thư gửi tín hữu Hipri: “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người” (Hr 4,12).


TIN MỪNG VÀO HÀN QUỐC


Vào năm 1603, Yi Gwang-jeong, nhà ngoại giao Hàn Quốc, từ Bắc Kinh trở về mang theo Kinh thánh và nhiều sách thần học của giáo sĩ Matteo Ricci, một nhà truyền giáo dòng Tên đang giảng đạo tại Trung Quốc. Ông phổ biến các thông tin trong sách và gieo những hạt giống đầu tiên của Kitô giáo trên đất Hàn. Năm 1758, tức là sau một thế kỷ rưỡi, vua Yeongjo chính thức cấm đạo Công giáo. 25 năm sau đó, năm 1785, một nhà ngoại giao khác là ông Yi Seung-hun được ơn thánh tẩy và hô hào phát triển Đạo, nhưng rồi đàn áp và bách hại lại xảy ra vào những năm 1801 về sau, và nhiều người đã được phúc tử vì đạo.

Nhà truyền giáo Tin Lành đầu tiên vào Hàn Quốc là Horace Newton Allen, năm 1884, sau ông Yi Gwang-jeong 281 năm.

CUỘC CHẠY ĐUA


Vào năm 1945 cả hai hệ phái (Công giáo và Tin Lành) chiếm khoảng 2% dân số. Sau đó họ tăng trưởng rất nhanh: Năm 1991, có 18,4% dân số (8,0 triệu) là Tin Lành, và 6,7% (2,5 triệu) là Công giáo. Giáo Hội Công Giáo đã gia tăng thêm 70% trong vòng mười năm qua. Anh Giáo ở Hàn Quốc cũng đã tăng trưởng đáng kể trong những thập kỷ gần đây...

Các Kitô hữu đã có ảnh hưởng quyết định trên nền giáo dục với 293 trường học và 40 trường đại học do họ điều hành, kể cả 3 trong số 5 tổ chức học thuật thế giá nhất.

Trước chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), hai phần ba Tin Lành Hàn Quốc sống ở miền Bắc, nhưng sau đó hầu hết chạy trốn vào Nam. Vào cuối những năm 1960 đã có khoảng một triệu người Tin Lành ở Hàn Quốc, nhưng trong quá trình giai đoạn bùng nổ kết thúc vào năm 1980, số người Tin Lành tăng nhanh hơn so với bất kỳ quốc gia nào khác. Năm 2005 điều tra dân số của Hàn Quốc cho thấy 29,2 phần trăm dân số là Ki tô hữu, tăng từ 26,3 phần trăm của mười năm trước đó.

Hàn Quốc hiện đang cung cấp số lượng nhà truyền giáo Kitô lớn thứ hai trên thế giới, qua mặt cả Hoa Kỳ. Trong năm 2000, đã có 10.646 nhà truyền giáo Tin Lành Hàn Quốc ở 156 quốc gia, cùng với một số các nhà truyền giáo Công giáo tương ứng. Một bài báo năm 2004 cho biết "Theo các tổ chức truyền giáo ở Hàn Quốc và phương Tây, Hàn Quốc đã cử hơn 12.000 người truyền giáo đến hơn 160 quốc gia so với khoảng 46.000 nhà truyền giáo người Mỹ và 6.000 nhà truyền giáo người Anh". Theo một bài báo năm 2007 "Hàn Quốc có 16.000 nhà truyền giáo đang làm việc ở nước ngoài, chỉ đứng sau Mỹ". Năm 1980, Hàn Quốc gửi đi chỉ mới 93 nhà truyền giáo nhưng vào năm 2009 đã lên đến khoảng 20.000 người.

ĐI TỪ CẢM NGHIỆM BẢN THÂN


... Kitô giáo tại Hàn Quốc đã bắt đầu như một phong trào giáo dân bản địa chứ không do một nhà truyền giáo nước ngoài đưa tới. Đây là một lợi thế bất ngờ. Đạo Chúa đã khởi đầu rộng khắp tại Hàn Quốc do nỗ lực của thường dân, cho nên nó lây lan trong dân chúng nhanh hơn hẳn việc rao giảng bắt đầu từ các giáo sĩ như các nơi khác.

Mọi việc xảy ra tương tự như khi người ta bất ngờ tìm ra một phương thuốc hữu hiệu vừa chữa lành vừa ngăn ngừa được một chứng bệnh đang hoành hành khắp trong dân gian. Chính những người được chữa lành đã loan truyền cho những người khác, hô hào những kẻ đang mắc bệnh nên mau đi tìm loại dược thảo ấy để chữa bệnh. Người ta còn vận động nhau gieo trồng thứ dược thảo ấy, nhân nó lên thật nhanh để đáp ứng kịp thời cho mọi người.

Như đã nói trên, trước sự kiện Nước Mặn của Giáo phận Qui Nhơn 15 năm, một nhà ngoại giao Hàn Quốc là ông Yi Gwang-jeong, từ Bắc Kinh trở về quê nhà, đem theo Kinh thánh và nhiều sách vở Kitô giáo khác, phổ biến các thông tin trong sách và gieo những hạt giống đầu tiên của Kitô giáo trên đất Hàn. Người ta đọc sách, cảm nghiệm, nghiền ngẫm, đem áp dụng vào đời sống, thấy nó rất ích lợi cho bản thân và gia đình cho nên hết người này tới người kia mách bảo nhau tìm đọc và học hỏi… Không phải mãi đến cuối thế kỷ XX mới có chuyện tại Hàn Quốc mỗi gia đình Công giáo nỗ lực đem về cho Chúa một gia đình mới. Kinh nghiệm ấy đã bắt đầu ngay từ đầu, hơn 400 năm trước đây, bằng cách phổ biến sách vở. Thế rồi sau đó đang khi người Công giáo lơ là với việc ấy thì cuối thế kỷ XIX, năm 1884, anh em Tin Lành đã khởi sự công cuộc rao giảng tại Hàn Quốc và lặp lại cùng một kinh nghiệm ấy, cách có kế hoạch và hệ thống hơn cho nên đã đạt kết quả nhanh hơn. Chỉ 107 năm sau, vào năm 1991, đang khi số tín hữu Công giáo chỉ mới được 2,5 triệu, số tín hữu Tin Lành đã lên tới 8 triệu người, chiếm gần 1/5 dân số Hàn Quốc!

CÔNG CUỘC CỦA THIÊN CHÚA


57 năm trước, tôi vào chủng viện Làng Sông thì được biết số tín hữu Công giáo chiếm 10% dân số người Việt. Hiện nay, tỉ lệ ấy tuột xuống dưới 7%. Chúng ta tuột dốc đang khi cộng đồng Kitô giáo Hàn Quốc tiến lên. Tại đâu? Tại vì hai bên theo đuổi hai đường lối trái ngược.

Người Hàn bắt đầu từ Kinh thánh và các sách dẫn giải Kinh thánh, nhờ đó họ gặp được Chúa Kitô và sống hạnh phúc trong Ngài, sau đó họ chia sẻ kinh nghiệm của mình cho người bên cạnh. Mãi lâu sau họ mới tìm cách bắt liên lạc với Hội Thánh Chúa, gửi thư sang Rôma xin Tòa Thánh sai linh mục đến giúp. Còn chúng ta thì ngược lại: Mời người ta vào Hội thánh nhưng không trao tặng kinh nghiệm gặp Chúa, chúng ta có nói về Chúa Kitô nhưng hình như chưa đặt nặng vấn đề giúp người ta thực sự gặp Chúa trong cầu nguyện, và họa hoằn mới nói về việc đọc và sống theo lời Kinh thánh.

Bắt đầu bằng việc lắng nghe và sống theo Lời Chúa, người Kitô hữu Hàn Quốc hưởng ứng công cuộc của Thiên Chúa chứ không theo đuổi một kế hoạch nhân loại. Còn chúng ta, khi bắt đầu bằng việc thuyết phục người khác vào Đạo, chúng ta vô tình biến công cuộc của Thiên Chúa thành công cuộc nhân loại. Chúng ta loay hoay thả lưới cả đêm vất vả, không bắt được con cá nào. Còn người Hàn nhờ biết vâng theo lời Chúa dạy mà bắt được cá đầy ắp, thuyền nào thuyền nấy đều gần chìm.

Văn hóa đọc đang tuột dốc, hiện nay số người đọc sách tại Việt Nam chỉ còn 1/10 dân số, khiến ta nản lòng không còn nghĩ tới việc chia sẻ đức tin bằng sách vở. Dù vậy, muốn cho việc loan báo Tin mừng là một công cuộc của Thiên Chúa, dứt khoát ta vẫn phải bám vào việc cổ võ đọc sách, trước hết là Sách thánh, bởi vì giáo lý mạc khải được ghi trong Biblos/Bible/Quyển Sách. Kinh thánh có nghĩa là Quyển Sách.

Ta thường than phiền về tiến độ quá chậm của việc loan báo Tin mừng tại Việt Nam hiện nay. Thế nhưng có lẽ cần nhìn lại cách làm việc của chúng ta. Hãy thể nghiệm lại tiến trình dậy men Tin mừng của Hàn Quốc ngay tại Giáo phận chúng ta. Chúng ta đã dành rất nhiều tiền cho việc xây cất cơ sở, tượng đài, tường rào, cổng ngõ, cho lễ hội, rước xách, tiệc tùng, nhưng chưa quan tâm đầu tư đủ cho việc phổ biến Kinh thánh và các sách vở Công giáo? Anh chị em sẽ hỏi ngay: Có ai đọc đâu cha? Hỏi như thế hoặc chỉ là do suy bụng ta ra bụng người, hoặc chỉ vì chưa đủ tin vào ơn Chúa. Hãy chân thành hỏi bạn hữu và hàng xóm: “Ai trong các bạn muốn có một quyển Tân Ước, xin cho biết. Chúng tôi rất sung sướng được trao tặng mỗi người một quyển.”

Trao Kinh thánh và sách vở Công giáo vào tay anh chị em lương dân là trách nhiệm của chúng ta. Còn chuyện họ đọc thế nào và bao giờ họ đọc là việc của Chúa. Sẽ đến lúc Thiên Chúa nhắc họ đọc và giúp họ cảm nhận. Hiểu ra rồi, họ sẽ òa lên sung sướng, chạy nhốn nháo khắp nơi la lớn lên rằng chỉ có Thiên Chúa mới là nguồn hạnh phúc đích thật, chỉ có Chúa Giêsu mới là Đấng Cứu thế giải thoát mọi người.

Bất cứ ai đích thân cảm nghiệm được thông điệp của Chúa trong Kinh thánh cũng đều lập tức trở thành Tông đồ. Đây là điều chúng ta chưa để ý đủ.

Chúng ta hãy quảng đại tặng sách và hãy tha thiết cầu nguyện cho người nhận sách để họ đọc và cảm nghiệm. Quan trọng hơn, muốn cho lời nguyện ấy được Thiên Chúa nhậm lời, ngay từ hôm nay, chính chúng ta hãy bắt đầu lại một chương trình đọc Kinh thánh hằng ngày. Mấy ai trong chúng ta trong năm qua đã tự nguyện đọc và nghiền ngẫm Tân ước và các sách vở Công giáo khác? Hãy bắt đầu từ chính mình rồi cầu nguyện cho anh chị em lương dân, nhất định chúng ta sẽ được Thiên Chúa nhậm lời.

Kinh nghiệm truyền giáo của Giáo hội Hàn Quốc, cả Công giáo lẫn Tin Lành, là kinh nghiệm bắt đầu từ chính mình. Chúng ta đã bắt đầu từ chính mình như thế nào? Thôi, đừng chần chừ nữa, hãy khởi sự lại ngay từ hôm nay.


BẮT ĐẦU TỪ CHÍNH MÌNH

(Bài chia sẻ thánh lễ ngày năm thánh cho các nhà giáo tại Giáo phận Qui Nhơn)

Xin kính chào cộng đoàn phụng vụ, kính chào quý đại biểu Đại hội Hội đồng Mục vụ và đặc biệt kính chào quý thầy cô giáo quy tụ về đây nhân ngày lễ kính thánh linh mục tử đạo Phanxicô Isidore Gagelin Kính, được chọn làm ngày năm thánh dành cho các nhà giáo.


Câu chuyện về Thánh Phanxicô Kính, chúng ta đã biết phần nào qua quyển Cẩm nang Năm thánh trang 36-38 và quyển Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, trang 192-196. Vị thừa sai này đến Việt Nam năm 22 tuổi, khi vừa học xong thần học, rồi thụ phong linh mục năm 23 tuổi với sứ vụ đầu đời linh mục là dạy học, đào tạo chủng sinh tại Chủng viện An Ninh ở Quảng Trị và một năm sau phải đưa chủng sinh di tản vào tận Lái Thiêu tỉnh Bình Dương ngày nay. Chi tiết ấy giúp ta hiểu tại sao ngài được chọn làm bổn mạng các thầy cô giáo của Giáo phận Qui Nhơn chúng ta. Hồi ấy tiền thân của Giáo phận Qui Nhơn là Giáo phận Đàng Trong kéo dài từ phía nam sông Gianh ở tỉnh Quảng Bình cho tới tận Campuchia. Năm 25 tuổi, cha Phanxicô rời Chủng viện Lái Thiêu đi làm mục vụ tại Hà Tiên, tức là mé biển nhìn ra đảo Phú Quốc. Năm 27 tuổi, cha về làm mục vụ tại Đồng Nai. Năm 1827, 28 tuổi, cha bị vua Minh Mạng đưa về cầm chân tại Huế cùng với cha Taberd Từ và cha Odorico Phương. Cũng năm ấy cha Taberd Từ được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Đàng Trong. Qua năm sau các ngài được trở lại Lái Thiêu. Cha Phanxicô Kính lại phụ trách việc đào tạo chủng sinh, và hai năm sau, 31 tuổi, ngài được Đức Giám mục bổ nhiệm làm Quyền Đại diện chăm lo mục vụ cho ba tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, tức là toàn bộ lãnh thổ Giáo phận Qui Nhơn chúng ta ngày nay.


Thưa anh chị em, lúc ấy ngài 31 tuổi, thua cha phó Phanxicô Xaviê của Chính Tòa 6 tuổi, và thua cha phó Simon 9 tuổi.

Thánh Phanxicô Kính

Một Giám mục dám giao cả giáo đoàn trên địa bàn rộng lớn này cho một linh mục 31 tuổi, mới làm linh mục 8 năm, không chỉ vì tài năng đức độ của vị thừa sai trẻ này mà còn vì bản thân Đức Giám mục dám tin vào hiệu năng đào tạo của Hội Thừa sai Paris và hơn nữa, của nền giáo dục nước Pháp thời ấy.

Ôn cố tri tân. Những chi tiết về tuổi đời của Thánh Phanxicô Kính rất đáng cho các thầy cô giáo và tất cả các thành viên Hội đồng Mục vụ chúng ta đây phải suy nghĩ. Trong trách nhiệm giáo dục ngày nay, chúng ta cần học điều gì nơi kinh nghiệm giáo dục của người xưa?

Ngày nay, tại Giáo hội địa phương chúng ta, tất cả các cấp Giáo phận, Giáo hạt, Giáo xứ và Giáo họ đều gặp khó khăn về nhân sự. Đâu đâu cũng thiếu người. “Thưa cha, biết làm sao bây giờ, đám trẻ có học hành được đôi chút và cả những em không được học cũng kiếm mọi cách tìm đường về các thành phố lớn. Cuộc sống mà cha! Tương lai của các cháu mà cha!”

Tôi không đặt vấn đề về sự đua đòi bồng bột của các bạn trẻ nhưng muốn đặt vấn đề ở chỗ khác, muốn đặt vấn đề cho chính chúng ta. Tôi muốn hỏi rằng chúng ta đã giáo dục và đào tạo thế nào để con em những xứ đạo cổ kính, cháu chắt của các anh hùng tử đạo giờ đây cũng coi vật chất là quan trọng nhất? cũng có cái nhìn chẳng khác người đời một chút nào cả và cũng đổ xô đi tìm tiền bạc, lợi nhuận?

Thánh Phanxicô Kính
Tôi muốn hỏi rằng Giáo hội và Dân tộc Pháp đầu thế kỷ XIX đã đào tạo thế nào để người thanh niên 21 tuổi đầy năng lực của tỉnh lẻ BesanÇon, thay vì đi tìm Paris phồn hoa đô hội, lại dấn thân đi thí mạng sống mình cho những dân nghèo ở một vùng Viễn Đông xa xôi là đất Việt?

Thế nhưng vấn đề không chỉ là tình trạng di dân. Còn có những điều khác đáng sợ hơn. Ấy là sự cạn kiệt của tinh thần Hội thánh, tinh thần vì ích chung và tinh thần trách nhiệm. Nếu các em vẫn học ở quê nhà, thì mười em hỏi được mấy em dấn thân lo việc chung? Nơi những em sẵn lòng đến phục vụ, được mấy em hoàn toàn đáng tin cậy, mấy em có tinh thần trách nhiệm cao độ, không tìm thanh minh biện hộ nhưng luôn biết tập trung tâm trí làm tròn công việc được giao phó?

Chúng ta phải làm gì để có thể cống hiến cho Quê hương và Giáo hội Việt Nam, cách riêng là cho Giáo phận Qui Nhơn thân yêu này một lớp trẻ hào hùng, quảng đại, đầy tinh thần trách nhiệm, biết quả cảm tự nguyện quên mình vì ích chung?

Đã có một thời, chưa xa lắm, trên dải đất Việt Nam thân yêu này không thiếu những tấm lòng quảng đại, tại sao giờ đây hình như con người ngày càng ích kỷ, tham lam và vụ lợi? Câu trả lời vẫn luôn sẵn đó cho những ai biết thinh lặng. Hoàn cảnh ngày nay hẳn là khó khăn hơn ngày xưa nhiều, thế nhưng nếu cha mẹ thật sự kính mến Chúa, dành ngày Chúa nhật để phát huy lòng mến Chúa yêu người, thì con em sẽ không bỏ lễ Chúa nhật cách bừa bãi. Mọi sự hẳn sẽ khá hơn nếu chúng ta có được sự khiêm nhường của người xưa, không vội đổ lỗi cho hoàn cảnh hay cho ai khác, nhưng dám thẳng thắn nhận lỗi, dám tự răn mình: “bụng làm dạ chịu”, “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”; hoặc những kiểu nói khác đặt nặng trách nhiệm lên người chồng, người cha trong gia đình: “cha nào, con nấy”, “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”.


Câu chuyện Tin mừng hôm nay sẽ soi sáng cho vấn đề một cách rốt ráo. Nước Trời giống như một nhúm men vùi vào ba rá bột, cho tới khi tất cả bột dậy men. Với hình ảnh men trong bột, Chúa Giêsu mời gọi ta truy cứu trách nhiệm cách tích cực hơn. Ngài muốn nói rằng: Không ai cho được cái mình không có! Không ai cho được cái mình không có! 

Muốn giúp khối bột giới trẻ trở nên thế này hay thế khác, chính nhà giáo dục phải thực sự là thứ men đúng phẩm chất của điều mình mơ ước. Từ nơi gia đình nhỏ, nơi các đoàn thể, nơi các cộng đồng giáo xứ và họ đạo, cho đến các chủng viện và dòng tu, việc giáo dục và đào tạo đích thực phải là giáo dục và đào tạo bằng gương sáng, lớp lớn làm gương cho lớp nhỏ, đàn anh đàn chị làm gương cho đàn em. Chính nhà giáo dục phải thực sự là thứ men đúng phẩm chất cho điều mình mơ ước. Men quảng đại và yêu thương, men mau mắn phục vụ cách tươi cười, men dịu dàng niềm nở, men chân thật và khiêm nhường, men lắng nghe và hợp tác, men thanh thoát, từ bỏ, men xóa mình vì ích chung, men nhiệt tình và tận tụy. Nói tắt là men mến Chúa yêu người. Nơi cộng đoàn chiều nay, có biết bao bậc làm cha làm mẹ. Nếu mỗi bậc cha mẹ ở đây đều thật sự là men thì hẳn là các gia đình của anh chị em đang là khối bột dậy men. Nơi cộng đoàn chiều nay, có 250 thầy cô giáo/ và theo danh sách cho đến lúc này thì/ khắp 7 giáo hạt của Giáo phận có đến hơn 370 thầy cô đang phục vụ ngành giáo dục, từ các lớp mầm non cho tới nhà trường đại học. Không nhiều thì ít, chắc hẳn quý thầy cô đã thay mặt cho Giáo hội thân yêu/ để đóng vai trò chất men yêu thương và chân thật, chất men khiêm nhường và quảng đại ở trường, ở lớp, chất men giữa khối bột học sinh cũng như khối bột ban giáo dục và đào tạo. Đôi khi có thể chúng ta đã yếu đuối, đã vô tình đồng lõa với những khuẩn độc làm lây lan sự mốc meo rữa thối, đôi khi có thể chúng ta đã quên mất mình là men, đã vô tình để cho môi trường nhiễm độc xung quanh hủ hóa ta thành thứ bột xoàng xĩnh.

Chính nhà giáo dục phải thực sự là thứ men
đúng phẩm chất cho điều mình mơ ước.
Chiều nay chúng ta về đây là để lại nhắc nhau nhớ mình là men. Chúng ta về đây nhằm tìm lại cho mình sức mạnh, để ngày càng thật sự là men, là muối, là ánh sáng. Sức mạnh đến từ đâu? Sức mạnh đến từ Thánh Thần của Thiên Chúa, từ Thánh Thể, từ Lời Thánh kinh và sự hiện vô hình của Chúa mọi nơi mọi lúc. Trên bục giảng, tại cổng trường, trên bàn giấy dọn giáo án hay chấm bài khuya khoắt, Chúa luôn ở bên ta, Chúa luôn ở trong ta để trút cho ta sức sống, tình yêu và ân sủng của Ngài, để ta thành hiện thân của Ngài giữa lòng xã hội.

Nếu có lúc nào ta nản lòng muốn quỵ ngã, hãy nhớ rằng Chúa đang ở ngay bên, đang hướng ống kính của Ngài trên ta, đợi bấm được cho ta những kiểu hình đẹp nhất khi ta lại ngước mắt lên, gạt nước mắt, đứng dậy và lại quả cảm bước tới…


Giáo dục bằng gương sáng là bắt đầu từ chính mình, nhưng thật ra, để bắt đầu từ chính mình, ta phải bắt đầu từ Chúa. Cần phải đến với Chúa từng phút từng giây, trong từng nhịp tim hơi thở, ngõ hầu Chúa biến ta thành nhà giáo dục và đào tạo của Ngài, thành muối, thành men, thành chứng nhân của Ngài để tôn vinh Danh Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, toàn năng, hằng hữu, thượng trí và luôn giàu lòng xót thương.

Qui Nhơn, 17-10-2017


Lm Trăng Thập Tự


         Sáng ngày 30-8-2017, Văn phòng Tập san Mục Đồng tại Chủng viện Qui Nhơn hân hoan tiếp đón đoàn hành hương “nutura”, “những phụ nữ đã tu xong” (đã thành chánh quả) thuộc môn phái SPC, tức dòng Thánh Phaolô, với một niềm vui lớn: 20 vị trong đoàn đã đăng ký mua dài hạn Tập san Mục Đồng.

Tôi định nhờ họ đem đến La Vang hai tập Mục Đồng 1 và 2 để kính dâng Đức Mẹ, thế nhưng họ đang trên đường về chứ không phải trên đường đến La Vang. Tôi chợt nhận ra, trước khi mình nghĩ đến Mẹ, Mẹ đã nghĩ đến mình. Mẹ đã gợi cho tôi câu chuyện để chia sẻ với đoàn  khách hành hương này, và có lẽ tôi chỉ cần kể lại mọi người sẽ thấy gắn bó với Tập san Mục Đồng hơn chăng.
Tập san Mục Đồngnày tiếp nối một khởi đầu dang dở cách nay đã 73 năm. Tờ báo Văn chương Công giáo tiếng Việt duy nhất trong lịch sử trước đây là đặc san Tác Phẩm Đầu Xuân, in cuối năm 1944 tại Hà Nội do Hồ Dzếnh, Bùi Tuân, Lm Thanh Hải, Bùi Hiển, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Duy Diễn và Phạm Đình Khiêm… thực hiện, 56 trang khổ 16cmx21cm, chỉ được một số duy nhất rồi thời cuộc không cho phép làm gì thêm nữa. Dù vậy, tờ báo yểu mệnh ấy được coi là một sự kiện của Văn học Công giáo Việt Nam, từ ấy không có tờ nào tiếp nối để quy tụ người cầm bút Công giáo (x. Lê Đình Bảng, Miền thơ kinh cầu nguyện, trang 335-336). Đó cũng là lý do tại sao đến nay chúng ta vẫn còn thiếu hẳn các tác giả truyện ngắn và tiểu thuyết Công giáo. Nay Tập san Mục Đồng ra đời, mong sẽ tiếp nối giấc mộng của người xưa, làm nơi gặp gỡ cho các tác giả Công giáo trẻ rèn luyện ngòi bút. Tập san dành 70% số trang cho các tác giả dưới 40 tuổi. Rất mong các tác giả trẻ khắp nơi tham gia gửi bài.


Tập san Mục Đồng đang chuẩn bị phát hành số 3 và hy vọng sẽ tiến xa hơn, với điều kiện… có độc giả dài hạn. Chúng tôi đã gửi đi những lời kêu gọi tha thiết, không phải để vận động tiền nhưng nhằm vận động việc mua báo dài hạn. Sau 4 tháng, cho tới ngày 30-8-2017chỉ mới có 73 cá nhân và đơn vị đặt mua báo với tổng số 660 tập báo mỗi kỳ. Tập san cần có khoảng 2000 số đăng ký dài hạn để có thể bước đi trên đôi chân mình, bằng không, nhiều lắm chỉ có thể sống lây lất tùy thuộc vào tài trợ bên ngoài. 
Để phục vụ độc giả, chúng tôi có thực hiệnhai phiên bản song song trên mạng: www.vanthoconggiao.netvà www.tapsanmucdong.net. Tuy nhiên mười trang như thế cũng không thay thế được một Tập san bằng giấy trong việc quy tụ và cổ võ các tác giả sáng tác. Với các tác giả, việc đăng bài trên báo giấy bao giờ cũng lý thú hơn đăng trên báo mạng.

Số 2 đã quy tụ nhiều tác giả trong và ngoài nước:
Văn:
Đinh Thị Thu Hằng * Nguyễn Một * Chung Thanh Huy (Sài Gòn)  * Cao Gia An(Rôma) * Trần Mộng Tú (Hoa Kỳ)* Nguyễn Mỹ Nữ * Nguyễn Thị Trúc Lư *  Dolly * Nguyễn Thị Mỹ Kiều (Qui Nhơn) * Maria Nguyễn Thị Khánh Liên * Lê Hồng Bảo (Ninh Thuận) * Lê Ngọc Thành Vinh (Hà Nội) * Maria Nguyễn Thị Thu Thảo (Đà Nẵng) * Giuse Nguyễn Ngọc Bích.(Hưng Hóa).
Thơ:
Thánh Gioan Thánh Giá (Tây Ban Nha) * Sơn Ca Linh * Mạc Tường * Trăng Thập Tự * Nguyễn Bá Hiếu * Gioakim Nguyễn Vũ Hồng Kha * Cát Đen * Nguyễn Thị Thanh Trà * Lê Minh Ngọc * Thái Thị Thu Giang * trương Thị Diễm Phúc (Qui Nhơn) * Song Ninh (Quảng Ninh) * Quang Lan* Lê Quốc Hán * Antoine Nguyễn (Vinh)   * Nguyễn Thanh Tuấn (Kon Tum) *Phan Nam (Đà Nẵng)  * Bảo Lê (Nha Trang) * Lê Quang Hận (Quảng Ngãi) * MP Hồng Nhung* Đặng Thị Vân Khanh  (Hà Nội) * Phanxico* Vương Diệu Ân * Trầm Tư  * Trầm Tĩnh Nguyện * Dzuy Sơn Tuyền (Sài Gòn) * Mic. Cao Danh Viện (Đồng Nai) * Thanh Hương (Xuân Lộc) * Phạm Thái Sơn * Trịnh Tây Ninh * Sa Mạc Hồng (Hoa Kỳ) * Đỗ Trọng (Ban Mê Thuột) * Mục Đồng Nguyễn (Bắc Ninh).

Chúng tôi kỳ vọng rằng nhiều người trong quý vị và các bạn rất tha thiết với công cuộc phát triển Văn học Công giáo tại Việt Nam. Ước mong quý vị và các bạn đăng ký mua báo dài hạn, hoặc cho mình hoặc để tặng cho những người trí thức ngoài Công giáo có thiện cảm với Đạo, đang cần tiếp cận với Đạo Chúa qua những vần thơ, câu chuyện nhẹ nhàng và có giá trị văn chương. Quý vị cũng có thể đặt báo tặng cho những người đang lo việc truyền giáo như hội viên Legio, hoặc cho nhóm văn thơ trong Giáo xứ, cho các chủng sinh, ứng sinh các Dòng hoặc cho những sinh viên hiếu học… để ươm mầm văn chương cho Giáo hội Việt Nam. Quý vị đã từng đóng góp những viên gạch mấy trăm ngàn hoặc nhiều triệu đồng cho những cơ sở vật chất, còn ở đây viên gạch xây ngôi nhà Văn hóa cho Giáo hội, với 4 số báo năm 2017, chỉ có 90.000 VNĐ, chưa đến 5 US.
Xin đăng ký theo phiếu đặt mua ấn phẩm dưới đây và gửi email về <tapsanmucdong@gmail.com>.
Kính lạy Mẹ Maria, với chút tâm tình hành hương từ xa, chúng con xin gửi gắm công cuộc mọn hèn này trong tay Mẹ. Xin Mẹ thương phù giúp chúng con.
Qui Nhơn, 31-8-2017
Lm Trăng Thập Tự

 

PHIẾU ĐẶT MUA ẤN PHẨM MỤC ĐỒNG


Họ và tên : ……………………………………………………………………
Giáo xứ: ……………………………………………………………………..
Địa chỉ người nhận bưu phẩm: ……………………………………………………………..
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
Điện thoại: ................................Email: .................................................

Ấn phẩm đặt mua
(Mỗi quý một tập)
Số lượng
Đơn giá
Thành tiền
Tập 1 (Quý 1)

15.000 đ

Tập 2 (Quý 2)

25.000 đ

Tập 3 (Quý 3)

25.000 đ

Tập 4 (Quý 4)

25.000 đ

Tổng cộng



(Tập đầu 76 trang, các tập sau 120 trang)

Xin điền vào phiếu này và gửi về Tập san MỤC ĐỒNG, 116 Trần Hưng Đạo, Tp Qui Nhơn, Bình Định - Hoặc gửi email về: tapsanmucdong@gmail.com   hoặc gọi qua văn phòng Mục Đồng, Đt: (0256)  350-1373


Tiền đặt mua ấn phẩm xin chuyển vào tài khoản Nguyễn Đức Quang - Số TK: 4305205033153 - NH: AGRIBANK chi nhánh PHÙ CÁT, BÌNH ĐỊNH. Khi chuyển tiền xong xin vui lòng báo về ĐT: 0989636995 (Cha Quang).



Thân ái chào anh chị em tác giả và quý bạn đọc,

Trước hết, xin chân thành cám ơn những ai đã quan tâm tới câu chuyện về Tập san Mục Đồng mà chúng tôi đã chia sẻ trong thư trước.
Sau khi Tập san số ra mắt (Tập 1: “Chào Xuân”) phát hành và được gửi tặng rộng rãi đến tất cả các giáo xứ trong toàn quốc, qua hai tháng mà thấy rất ít những phản hồi hưởng ứng, tôi đã viết thư chia sẻ với mọi người về nỗi khó khăn của những người thực hiện. Đọc những chia sẻ ấy, khoảng 30 vị đã hồi đáp, bày tỏ mối đồng cảm, nhờ đó tôi đã thấy được những tia sáng lóe lên phía chân trời trước mặt, có thể giúp đoàn lữ hành của một tập san văn thơ Công giáo vững tin tiến bước.

Một tác giả phía Bắc, đã từng giúp chuyển ấn phẩm Mục Đồng về Tòa Giám mục Hà Nội và một số giáo phận lân cận, sau đó đã bỏ công điều nghiên và cho biết: Nguyên nhân của sự việc thiếu phản hồi hưởng ứng là do ấn phẩm vẫn chưa tới được tay người đọc:
- Ấn phẩm đã về tới Tòa Giám mục hoặc nhà cha Quản hạt rồi nằm chờ ở đấy, không ai đưa về các giáo xứ.
- Ấn phẩm có thể đã tới các nhà xứ nhưng lại bị bỏ quên ở góc phòng hoặc chỉ được trưng bày trong tủ kính.
Một chủng sinh từ Vinh cho biết các thùng sách đang nằm yên tại Tòa Giám mục, chờ tới 15-8-2017, lễ bổn mạng Giáo phận, các cha hội về đông đủ, người ta sẽ giao cho các ngài luôn.
Thông tin từ một số nơi khác cũng tương tự. Bản thân tôi khi ghé thăm một cha sở, cũng đã tận mắt nhìn thấy gói ấn phẩm còn nguyên trong bọc được đặt yên trong tủ…
Với tình cảnh ấy, thì e rằng rồi sẽ có nhiều nơi “cả Xuân sau chưa đọc báo Xuân này”…

Rút kinh nghiệm, chúng tôi quyết định thay đổi cách phát hành. Từ số 2, chúng tôi sẽ gửi thẳng qua đường bưu điện theo địa chỉ độc giả đã đăng ký.

Cũng có thể nhiều người chỉ thích mua lẻ ngay tại chỗ chứ không muốn đăng ký dài hạn. Do đó từ số 2, chúng tôi sẽ ký gửi một ít ở một số nhà sách Công giáo tại Sài Gòn và tại Giáo phận Qui Nhơn. Hiện nay chúng tôi không có người để lo việc ký gửi tại các nơi khác, nếu bạn nào có thể giúp thực hiện việc ký gửi thay chúng tôi, xin vui lòng cho biết để trao đổi. Xin liên hệ: hoặc sđt: (0256) 350-1373. Chúng tôi chân thành cám ơn. 


Những trở ngại đã gặp vừa qua cũng thúc giục chúng tôi một lần nữa phải thỉnh cầu các cấp thẩm quyền trong Giáo hội, mong các ngài quan tâm đôn đốc một hệ thống phát hành hữu hiệu để phục vụ nhu cầu đọc sách của Dân Chúa. Quả thật đang khi văn hóa đọc suy thoái, vẫn còn đó những người thích và chịu khó đọc sách đạo nhưng không biết tìm sách ở đâu?

Tập san Mục Đồng số 2 sắp phát hành. Do những khó khăn của số 1, số 2 cũng bị chậm, nhưng chúng tôi quyết tâm tìm mọi cách để thực hiện xong cả bốn số của năm 2017 trước khi bước sang năm 2018.

Chỉ cần có được chừng 2000 độc giả dài hạn, tờ Mục Đồng có thể tồn tại tự lập, không cần xin tài trợ từ đâu khác. Cho tới lúc này, sau khi giới thiệu lá thư chia sẻ trên 4, 5 trang truyền thông Công giáo, và phát đi những thông tin bằng email, đã có 24 phản hồi đăng ký mua báo với tổng số 412 quyển (Trong đó TGM Hải Phòng 200 quyển, Cha đặc trách Văn hóa TGP Sài Gòn 50 quyển, và 22 đơn đặt hàng còn lại tổng cộng 162 quyển). Thiết tưởng đây đã là một khởi đầu khá phấn khởi. Hy vọng đến cuối tháng 12 này sẽ có một số lượng độc giả khá hơn đăng ký mua báo.

Nhân đây, tôi cũng xin được chia sẻ về một nguồn cảm hứng mới. Một vài người đã tặng quyển Mục Đồng 1 cho một vài trí thức có thiện cảm với Đạo Chúa, và thấy các anh chị em này tỏ ra ưa thích nội dung của nó. Phản hồi này như một tia sáng tuy còn yếu ớt, nhưng cũng đủ là một tín hiệu đầy hy vọng cho một tương lai có ý nghĩa của Tập san trong công cuộc loan báo Tin Mừng.

Những thập niên vừa qua và ngay cả hiện nay, số người lớn tự nguyện đến với Chúa trong Đạo Công giáo tại Việt Nam chẳng là bao.

Quyển “Giáo hội Công giáo Việt Nam - niên giám 2016”, ở trang 480 có ghi thật rõ các con số của năm 2015. Giám mục: 45, linh mục triều và dòng: 5.197, tu sĩ nam nữ: 23.196, chủng sinh: 4.854, Giáo lý viên: 66.624. Tống cộng lên đến 99.916 vị tông đồ lớn và nhỏ, chỉ thiếu 84 người nữa là chẵn 100.000 vị, chưa kể còn khoảng 100.000 hội viên Legio Mariae không được sách Niên giám thống kê. Ấy thế mà số người lớn được rửa tội chỉ vỏn vẹn 38.050 người (x. Sđd, trang 482).

Suốt năm 2015, phải hơn năm vị Tông đồ mới thu hoạch cho Chúa được một linh hồn, ấy là ta giả vờ quên đi phần đóng góp quyết định của các cô dâu chú rể Công giáo.

Cho đến nay Giáo hội Công giáo Việt Nam chưa có một kế hoạch truyền giáo cụ thể nào hướng tới giới trí thức người lương… Do đó tia sáng yếu ớt trên đây chợt khiến tôi thưa với Chúa Kitô: “Phải chăng Chúa đang muốn dùng chút đóng góp bé nhỏ của chúng con cho đại cuộc của Chúa?”

Cảm nghiệm ấy đã gợi hứng cho tôi phải tìm mọi cách vận động cho tờ Mục Đồng có đủ số đăng ký dài hạn để có thể tự tồn tại.

1. Tôi đã ngỏ lời với anh chị em Legio Mariae. Nếu mỗi đội Legio Mariae nhận đăng ký một số báo, họ có thể tặng tờ báo cho những người lương có thiện cảm với Đạo, rồi sẽ có kết quả không nhiều thì ít. Thế nhưng vấn đề là làm sao để người hội viên Legio Mariae hiểu rằng những bài thơ và truyện ngắn Kitô giáo là những hạt giống tốt gieo vào cánh đồng trí thức?… Xin anh chị em vui lòng giải thích với họ và hãy cầu nguyện, tôi linh cảm mùa gặt mới đang chờ trước mặt…

2. Có ba tác giả bày tỏ đồng cảm với nhóm thực hiện, bằng cách tự nguyện nhận nhuận bút bằng ấn phẩm thay vì bằng tiền. Đó là một ý tưởng rất thiết thực. Chúng tôi mong rằng với ba số còn lại của năm 2017, các tác giả khác cũng vui lòng nhận nhuận bút bằng báo. Từ số 5, chúng tôi sẽ lại gửi nhuận bút bằng tiền, trừ trường hợp tác giả nêu rõ muốn nhận nhuận bút bằng báo.

3. Chúng tôi cũng hy vọng rằng một số tác giả, sau khi tặng ấn phẩm cho bạn hữu, sẽ mời họ gặp gỡ để cùng trao đổi về văn thơ Công giáo, cổ võ nhau viết bài cho Mục Đồng; rồi cũng từ đó, có thể nẩy sinh những trạm phát hành nhanh chóng và chính xác chuyển báo đến độc giả trong khu vực.
Thưa anh chị em tác giả và quý bạn đọc,

Với những tia sáng le lói ấy, dù đang cố sức lội ngược dòng, ta vẫn có quyền lạc quan, mọi sự sẽ dần dần sáng sủa. Mến chúc mọi người luôn an vui phấn khởi trong tình yêu Chúa.

              TM Ban Biên Tập
               Chủ biên


               Lm. Trăng Thập Tự



Á thánh Anrê Phú Yên, bổn mạng giáo lý viên Việt Nam, được mừng bổn mạng vào 26/7 hàng năm

TRƯỜNG CA : THẦY GIẢNG ANRÊ PHÚ YÊN


Giáo lý viên Việt Nam thế kỷ 17

và là người Việt Nam đầu tiên

đổ máu công khai vì tin Đức Kitô



Lm. Phêrô Võ Tá Khánh

Thi hiệu Trăng Thập Tự

Viết theo cuốn

NGƯỜI CHỨNG THỨ NHẤT

của Phạm Đình Khiêm

Tinh Việt 1959



--- + ---
LỜI MỞ

Cây lành sinh trái ngọt

Đất thánh trổ người hiền

Trên quê hương Phú Yên

Có anh hùng tuổi trẻ

Dâng đời làm của lễ

Cho rạng rỡ danh Cha

Từ thuở dân tộc ta

Đang trên đà Nam tiến.

I

TIỂU SỬ

THẦY GIẢNG ANRÊ PHÚ YÊN

BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Vào những ngày chinh chiến

Thời vua Lê Thần Tông (1)

Chúa Nguyễn ở Đàng Trong

Mở rộng dần đất nước :

Khi đoàn quân tiến bước

Đến non nước Phú Yên,

Nhiều tín hữu trung kiên,

Cũng theo chân lập nghiệp,

Vùng Mằng Lăng cảnh đẹp (2)

Lắm ruộng tốt đất màu

Tín hữu cũng đưa nhau

Cùng tiến vào xây dựng.

———————————————————————

IGA ĐÌNH ANRÊ

Giữa những người kiên vững

Có ông bà Gio-an

Rất đạo hạnh tinh toàn

Thương người và yêu Chúa.

Được ơn ban chan chứa

Sinh sáu bảy người con

Người nào cũng chăm ngoan,

Làm hay và học giỏi

Xứng con dòng cháu dõi

Những người sống Phúc Âm.

———————————————————————
Nhà thờ Mằng Lăng, quê hương của Á thánh Anrê Phú Yên


TUỔI THƠ CỦA ANRÊ

Năm một sáu hăm lăm (1625)

Trong lời mừng câu chúc

Ông bà cũng diễm phúc

Khi cậu Út chào đời

Có đôi mắt sáng ngời

Có nụ cười vui vẻ.

Ông Gio-an tạ thế

Út còn bé còn thơ

Xa linh mục nhà thờ

Út vẫn chưa rửa tội;

Nhưng từ khi tập nói

Nhờ chị hát mẹ ru

Út đã biết Giê-su

Gọi tên Ngài luôn miệng

Gần mẹ hiền thánh thiện

Có anh chị làm gương

Út ăn nói dễ thương

Biết chào thưa lễ phép.

Trong gia đình nề nếp

Biết gọi dạ bảo vâng

Học giáo lý siêng năng

Thích nghe lời Chúa dạy.

Út đọc kinh trôi chảy

Út cầu nguyện nghiêm trang

Trong lớp học trường làng

Út rất là chăm chỉ.

Bạn bè ai cũng quý

Thầy giáo khen xuýt xoa,

Tan học Út về nhà,

Vâng lời mà vui vẻ :

Thường mau tay giúp mẹ

Việc không kể gần xa

Lúc kiếm củi Sơn Chà (3)

Lúc chăn bò Văn Thánh. (4)

Cũng nhiều khi rỗi rảnh

Út nhí nhảnh thả diều

Chơi giỡn dưới nắng chiều

Thả câu theo sông Cái

Tập bơi thuyền đánh lưới

Nhìn sông nước say sưa

Út nhớ chuyện ngày xưa

Chúa ra làm phép lạ:

Giúp Tông đồ đánh cá,

Gọi họ bước theo Ngài.

Út mong ước một mai

Cũng theo Chúa như thế.

ANRÊ ĐƯỢC RỬA TỘI

Rồi một hôm gió nhẹ

Tiết Phục sinh trời trong

Lúa chín đã vàng đồng

Ai cũng mong cũng đợi

Chợt nghe tin phấn khởi

Có giáo sĩ đến thăm:

Một linh mục nhiệt tâm

Chính là cha Đắc-Lộ. (5)

Ngài giảng ơn cứu độ

Suốt cả hai tháng liền

Tối ở dinh Trấn biên (6)

Ngày đó đây bước rảo.

Người đón nghe đông đảo

Cả bên giáo bên lương

Thấm lẽ đạo tình thương

Quyết tin thờ theo Chúa.

Út thật sung sướng quá

Tuổi mười sáu rộn ràng

Ngày hồng phúc chứa chan

Từ bao năm ấp ủ.

Tại trấn dinh Hội Phú

Tức Thành cũ ngày nay (7)

Út được giáo sĩ này

Ban bí tích Rửa tội.

Từ nay Út được gọi

Bằng tên mới: An-rê

Ôi hạnh phúc tràn trề

Làm sao mà quên được.

Điều ngày nào mơ ước

Nên sự thật đây rồi

Lòng An-rê bồi hồi

Muốn xin theo giáo sĩ.

Nhưng đường dài thiên lý

Giáo sĩ còn đi xa (8)

An-rê ở lại nhà

Đợi chờ cha năm nữa.

Bên trong đền kính nhớ thầy giảng Anrê Phú Yên


———————————————————————

LÊN ĐƯỜNG

Năm sau như lời hứa

Với tín hữu Việt Nam

Cha Đắc-Lộ về thăm

Thiết lập đoàn thầy giảng

Chọn những người xứng đáng

Huấn luyện thành tông đồ

Rao giảng Đức Kitô

Cho đồng bào ruột thịt

Và đắp xây nước Việt

Trên nền móng yêu thương.

An-rê rất hiền lương

Thật thà và trong trắng

Đầy đạo đức sốt sắng

Khao khát được dâng mình

Sống cuộc đời hy sinh

Giảng Tin Mừng cứu thế.

Dù anh còn rất trẻ

Đã yêu Chúa nồng nàn

Cha Đắc-Lộ hân hoan

Nhận anh làm thầy giảng.

Lòng An-rê bừng sáng

Ôi vui sướng bao nhiêu

Từ giã mẹ dấu yêu

Lên đường theo Chúa gọi

Tay nhẹ nhàng khăn gói

Nhắm thẳng lối Hội An.(9)

———————————————————————

Ở TRƯỜNG THẦY GIẢNG

Mười anh em trong đoàn

Thầy An-rê trẻ nhất,

Đầy thông minh tư chất

Thật một đoá tinh hoa.

Ơn Chúa xuống chan hoà

Qua một năm gian khổ

Trong nhà cha Đắc-Lộ

An-rê học rất chăm

Vừa tìm hiểu Phúc Âm

Vừa học cách truyền giáo

Học việc đời việc đạo

An-rê học đủ điều

Tập kinh nguyện sớm chiều

Noi gương theo I-nhã. (10)

Với tâm hồn cao cả,

Thương người hơn thương thân

Thích làm việc tay chân

Từ dọn sân cuốc cỏ :

Sống khiêm nhường bé nhỏ.

Cha Đắc-Lộ nói rằng

Thầy như một thiên thần

Đủ mọi phần trong trắng.

Thầy âm thầm lẳng lặng

Giúp vị giáo sĩ già

Thầy tiếp tay với cha

Dựng xây vần quốc ngữ.

———————————————————————

TUYÊN KHẤN VÀ TRUYỀN GIÁO

Sau thời gian luyện thử

Nhờ Thiên Chúa ban ơn

Năm mười tám tuổi tròn

An-rê được tuyên khấn

Thầy đi cùng các bạn

Ra Huế giảng Tin Mừng.

Tại kinh đô tưng bừng

Đón mừng Sinh nhật Chúa

An-rê dọn hang đá

Ngay ở giữa dinh quan.

Thầy lo việc trang hoàng

Dọn nhà thờ sạch sẽ

Giúp đức tin bạn trẻ

Dạy giáo lý dự tòng

Hướng dẫn rất thành công

Giãi bày rất thông tỏ.

Thầy theo cha Đắc-Lộ

Đến tận bờ sông Gianh

Rồi trở lại kinh thành

Đi khắp nơi truyền giáo

Cho đến cuối tháng sáu

Về xóm đạo Hội An

Chờ đợi ngày vinh quang

Đổ máu đào mến Chúa.

———————————————————————

SÓNG GIÓ BẮT ĐẦU

Hồi ấy tại Thuận Hoá

Tức xứ Huế sông Hương

Chúa NguyễnCôngThượngVương (11)

Nhiều lần nghe thuyết giáo

Rất có lòng mến đạo

Để tín hữu tự do

Nhưng đáng tiếc thay cho

Vợ ông là Tống thị (12)

Sống lăng loàn ích kỷ

Hại nước và hại dân

Đã độc ác lắm lần

Tìm cách trừ đạo thánh.

———————————————————————

ÂM MƯU GIẾT HẠI

Một hôm trời trở lạnh

Có ông quan đại thần

Tụ tập các cao nhân

Đạo Nho và đạo Lão

Đến luận bàn tôn giáo

Với giáo sĩ Lịch-Sơn (13)

Mong biết rõ ai hơn

Để tìm theo đạo thật.

Nghe những lời đối chất

Cha Đắc-Lộ mỉm cười

Cha vui vẻ nhường lời

Cho trưởng đoàn : I-nhã

Lời thầy lưu loát quá

Lý lẽ rất hùng hồn

Nhóm nọ phải thua non

Đành ngượng ngùng lui bước,

Về tìm mưu nghĩ chước

Hại môn đệ Giê-su

Giết I-nhã báo thù

Họ đến nhờ Tống thị.

Sẵn bà này ác ý

Đang muốn diệt đạo lành

Vì lẽ đạo cao thanh

Dám trách người dâm loạn.

———————————————————————

ÔNG NGHÈ BỘ KHỦNG BỐ

Bà còn đang tính toán

Lại gặp lão quan tham

Ông Nghè Bộ Quảng Nam (14)

Về kinh đô có việc

Là một tay ác nghiệt

Từng khủng bố giáo dân

Đuổi giáo sĩ lắm lần

Bà liền giao mật lệnh.

Ông Nghè ỷ thế mạnh

Lòng gian ác càng thêm

Vừa vô đến Thanh Chiêm (15)

Đã ra tay bắt trói

Cụ trùm bảy ba tuổi

Tên là An-rê Son.

Ông Nghè lại sai quân

Lùng bắt luôn I-nhã :

Xuống Hội An tầm nã

Đám lính xông vào nhà

Họ lục lọi xét tra

Nhưng cả giờ không thấy.

Vì sáng nay thầy ấy

Cùng với mấy anh em

Đã nhắm hướng Thanh Chiêm

Đi với cha Đắc-Lộ.

———————————————————————

ANRÊ BỊ BẮT

Riêng An-rê bé nhỏ

Tình nguyện ở lại đây

Săn sóc cho bốn thầy

Hiện nay đang bị ốm.

Mới rồi trong lễ sớm

Chúa ngự đến trong lòng

Tim An-rê say nồng

Tình yêu đang rực cháy

Bỗng dưng bây giờ thấy

Có dịp được hy sinh

Hiến dâng mạng sống mình

Thật thoả lòng ao ước.

Thầy liền lên tiếng trước :

“Ông I-nhã đi rồi

Nhưng ở đây có tôi

Là một người tin Chúa

Lại là thầy giảng nữa

Các ông cứ bắt đi

Thầy kia có tội gì

Tôi cũng thì tội ấy

Sao lại không bắt lấy

Cho ai nấy hài lòng ?”

Đám lính giương mắt trông :

Thật chuyện không chờ đợi!

Họ tức thì xông tới

Quyết túm lấy thầy ngay.

Thầy đã vội chìa tay

Đưa cho người ta trói.

Thầy lặng thinh không nói

Nhưng đến lúc quan quân

Lôi dậy một bệnh nhân

Định kéo đi luôn thể,

Thầy lấy lời mạnh mẽ

Rồi lấy giọng ngọt ngào

Thuyết phục khéo làm sao

Nên họ tha thầy ấy.

Tìm lâu vẫn không thấy

Thầy I-nhã ở đâu

Đám lính đành bảo nhau

Lôi An-rê đi trước.

———————————————————————

KHÔNG NGỪNG RAO GIẢNG

Đồng bào như đám rước

Chạy theo coi rùng rùng

Thầy An-rê khiêm cung

Vừa đi vừa giảng đạo

Khiến kẻ lương người giáo

Ai ai cũng chạnh lòng.

Quân lính thấy đám đông

Sợ rằng không thuận tiện

Vội lôi thầy ra bến

Đẩy thẳng xuống thuyền ngay.

Trên thuyền thầy hăng say

Trình bày về Nước Chúa

Sông dài như dãi lụa

In trọn cả trời cao

Lòng người bỗng nao nao

Theo lời mời đạo lý.

Thầy An-rê thoả chí

Lòng hoan hỷ rộn ràng

Vì được Chúa thương ban

Cho chung phần thương khó.

———————————————————————

GIÁO SĨ GẶP ÔNG NGHÈ BỘ

Đường xa trong lúc đó

I-nhã với anh em

Đang nhắm hướng Thanh Chiêm

Cùng với cha Đắc-Lộ

Sắp vào thăm Nghè Bộ

Gây thiện cảm làm quen.

Họ đâu ngờ là chiên

Đang bước vào miệng sói.

May sao khi gần tới

Có người vội cho hay

Giáo sĩ bảo các thầy

Tạm ẩn mình lánh nạn.

Riêng mình cha bạo dạn

Vào dinh gặp ông Nghè

Cha muốn nói ông nghe

Những điều hơn lẽ thiệt.

Nhưng ông Nghè đã quyết

Nhất định chẳng nương tay.

Ông cấm cha từ đây

Không được đi giảng đạo.

Ông ngăm đe cảnh cáo

Ông muốn ép buộc cha

Phải rời bỏ nước ta

Đừng bao giờ trở lại.

Cha Đắc-Lộ khẳng khái

Từ biệt lão quan tham

Cha bước tới trại giam

Thăm cụ trùm dũng cảm

Giúp cụ thêm can đảm

Làm chứng cho đức tin

Rồi cha rảo bước liền

Tới chiếc thuyền đã hẹn.

———————————————————————

CÁC BẠN THOÁT NGUY

Thầy trò đang cầu nguyện

Dưới trời sao lưa thưa

Bỗng đám lính hồi trưa

Nhảy bùng lên xông xáo.

Miệng hỏi tra láo nháo :

“Có ai thấy môn đồ

Của giáo sĩ Gia-tô (16)

Chỉ để quan bắt trọn !”

Nhưng một người trong bọn

Lại chán nản bàn ra :

“Mới thấy họ đây mà !”

Rồi hò la rẽ lối.

Âm thầm trong bóng tối

Giáo sĩ với các thầy

Vội vã rút lui ngay

Kịp tìm nơi ẩn náu.

———————————————————————

ANRÊ BỊ TỐNG NGỤC

Trên quê nhà yêu dấu

Vũ trụ chìm bóng đêm

Trong thị trấn Thanh Chiêm

Đó đây đèn le lói.

Khoảng hơn tám giờ tối

Đám lính lao nhao về

Giải theo thầy An-rê

Nạp cho ông Nghè Bộ.

Lúc đầu ông dụ dỗ

Rồi sau đó ngăm đe

Ông muốn buộc An-rê

Phải từ cha bỏ Chúa.

Nếu bằng lòng cải hoá

Ông sẽ giúp mọi bề,

Còn nếu không chịu nghe

Sẽ thẳng tay trừng trị.

Thầy An-rê quyết chí

Một lòng xưng đức tin

Khiến ông Nghè bất bình

Sai gông xiềng tống ngục.

Nhà giam thật hạnh phúc

Hai An-rê gặp nhau

Chung một tiếng nguyện cầu

Chia nhau lời khích lệ.

———————————————————————

PHIÊN TOÀ CHỚP NHOÁNG

Đêm hè qua mau lẹ

Bình minh loé rạng dần

Lính điệu hai tù nhân

Ra toà nghe xử án.

Ông Nghè mưu đã sẵn

Giọng léo lận nhiều đường

Ông bảo rằng Thượng Vương

Truyền cho ông làm thế.

Qua đôi lời lấy lệ

Với ít kẻ quanh mình

Ông lấy án tử hình

Xử hai người công chính.

Ông lại còn quyết định

Đem chém nội trong ngày.

Dân chúng nghe tin này

Đầy ngạc nhiên ai oán

Trách ông Nghè độc đoán

Kết án quá vội vàng

Lương giáo đều thở than

Buồn thay cho công lý.

Riêng phần hai chiến sĩ

Lòng hoan hỷ tưng bừng

Mắt ứa lệ vui mừng

Miệng tuyên xưng tình Chúa.

———————————————————————

VẬN ĐỘNG XIN THA

Bên ngoài trời nổi đoá

Bốn phía dậy cuồng phong

Sóng cuồn cuộn bên sông

Thuyền ai mong cập bến ?

Cha Đắc-Lộ vừa đến

Cùng với mấy thương gia

Gốc người Bồ Đào Nha

Vội vàng qua dinh trấn

Xin ông Nghè xoá án :

“Xin ông nghĩ tình tha

Một người đã quá già

Một người còn quá trẻ”.

Ông Nghè nêu lắm lẽ

Chỉ thả cụ cao niên

Còn An-rê Phú Yên

Ông nhất định xử chém.

———————————————————————

TRONG NHÀ GIAM

Rời ông Nghè nham hiểm

Giáo sĩ vội bước ra

Cùng với mấy thương gia

Tới nhà giam ủy lạo.

Tại đây hai đồng đạo

Đã sốt sắng dọn mình

Chờ đợi phút hy sinh

Đang đọc kinh cầu nguyện.

Vừa nghe cha nói chuyện

Biết rõ lệnh quan tha

Cụ trùm Son khóc oà

Vì mất phúc tử đạo.

Cha Đắc-Lộ khuyên bảo

An ủi thật lâu dài

Cụ trùm mới nguôi ngoai

Cúi đầu vâng ý Chúa

Cha nước mắt dàn dụa

Ôm An-rê Phú Yên

Chung quanh người thanh niên

Mấy thương gia quỳ gối.

Nhiều tín hữu cũng tới

Cung kính cúi hôn chân

Thầy An-rê can ngăn

Thưa rằng : “Tôi tội lỗi”.

Rồi thầy lên tiếng nói

Khuyên ai nấy vững tin

Đừng sợ kẻ hành hình

Hãy sợ mình Chúa Cả :

“Anh em đừng buồn bã

Hãy mừng rỡ cho tôi

Vì Chúa thương tôi rồi

Mặc dù tôi bất xứng”.

Dáng khiêm cung thầy đứng

Như nhân chứng hiền lành

Tiếng đồn ra rất nhanh

Người chung quanh kinh ngạc,

Đổ dồn về như thác

Mong ước được ngắm nhìn

Người chứng nhân đức tin

Người thanh niên dũng cảm.

———————————————————————

NHỮNG LỜI TÂM HUYẾT

Thầy An-rê thương cảm

Nói với đám đông rằng :

“Anh chị em thấy chăng

Tôi sẵn sàng chịu chết

Bởi vì tôi nhận biết

Một Thiên Chúa trên trời

Ngài thương yêu mọi loài

Ngài cho tôi tất cả.

Anh chị em đây nữa

Cũng được Chúa yêu thương,

Anh chị em coi chừng

Đừng coi thường ơn Chúa.

Chúa yêu thương ta quá

Ta hãy nhớ ơn Ngài

Kìa tôi thấy cửa trời

Đã được Ngài mở sẵn

Chúa nhân từ vô hạn

Đang đón nhận tôi vào”.

Lời thầy thật ngọt ngào

Ai cũng nao nao dạ

Cả kẻ quen người lạ

Đều như mở tấm lòng

Trước ơn Chúa thơm nồng

Tuôn như dòng sữa mẹ.

Chắp tay thầy nói khẽ :

“Chúa đã thương ta nhiều

Ta hãy lấy tình yêu

Đáp tình yêu của Chúa

Chúa chết trên thập giá

Đổ máu Chúa chan hoà

Hãy dâng sự sống ta

Mà báo đền sự sống”.

Lời thầy như lửa nóng

Đốt cháy cả lòng người

Nét mặt thầy vui tươi

Rạng môi cười hạnh phúc.

Giữa gông cùm tù ngục

Thầy rất mực tự do

Có chết cũng không lo

Vì chết cho danh Chúa

Muốn thêm ơn thánh hoá

Ơn phù trợ đến cùng

Thầy quỳ gối khiêm cung

Xưng tội lần sau hết.

Thầy ước ao được chết

Cứ tha thiết hỏi giờ :

“Sao người ta chần chờ

Sao người ta chậm thế ?”

Nhìn trời chiếu bóng xế

Giờ hạnh phúc gần kề

Thầy cầu nguyện say mê

Gọi Giê-su không ngớt.

———————————————————————

ĐƯỜNG RA PHÁP TRƯỜNG

Năm giờ chiều nắng nhợt

Thầy thanh thoát mỉm cười

Từ giã hết mọi người

Xin giúp lời cầu nguyện.

Người người đang lưu luyến

Đã thấy lính ùa vào

Mang giáo mác gươm đao

Dẫn tù đi xử tử.

Thầy An-rê hớn hở

Đã vội vã đón ngay

Cho họ sớm ra tay

Đưa thầy đi hành quyết.

Họ dẫn đi khắp hết

Các phố xá bến đò

Người mở lối hô to :

“Đạo Gia-tô đáng chết !”

Tiếng quân binh hò hét

Dân chạy riết theo xem,

Cả thị trấn Thanh Chiêm

Hướng về người chứng trẻ.

Người đông hơn đại lễ

Vượt qua cả cánh đồng

Ánh hoàng hôn phập phồng

Nhuộm hồng trên gò Sứ.

———————————————————————

LỜI TỪ BIỆT

Đây rồi nơi xử tử

Lính tráng đứng vây quanh

Thầy An-rê hiền lành

Quỳ nghiêm trang cung kính.

Cha Đắc-Lộ bình tĩnh

Xin phép lính vào theo

Khuyến khích người con yêu

Đổ máu đào vì Chúa.

Cha trải ra ở đó

Một chiếc chiếu mới tinh

Để hứng máu ngay lành

Muốn xin thầy quỳ gối.

Thầy khiêm cung từ chối

Xin cha cứ để cho

Được giống Chúa Kitô

Đổ máu đào xuống đất.

Quỳ chắp tay ngước mắt

Thầy nhìn trời vững trông

Quân lính đến tháo gông

Rồi lấy thừng cột trói.

Biết rằng giờ đã tới

Thầy An-rê quay nhìn

Những người cùng đức tin

Mắt dịu hiền tha thiết.

Thầy nói lời bất diệt

Lời từ biệt mọi người :

“Hỡi anh chị em ơi !

Hãy trung thành giữ nghĩa

Cùng Giê-su Chúa Cả

Cho hết sức hết hơi

Cho đến cả trọn đời”.

Người người rơi lệ khóc

Riêng mình thầy nhẩm đọc

Kinh “Kính mừng” như ru

Kêu tên Chúa Giê-su

Và kêu tên Mẹ Thánh.

———————————————————————

LỄ HY SINH TÌNH YÊU

Gió chiều phơn phớt lạnh

Lặng cả tiếng thì thầm

Rừng người đứng trầm ngâm

Nghe lý hình than thở :

“Lạy Trời, xin tha thứ

Tôi là kẻ thừa hành

Có đổ máu người lành

Xin Trời Xanh tha tội”.

Than rồi, ông bước tới

Cố nén tiếng thương đau

Lấy ngọn giáo đâm thâu

Xuyên từ sau ra trước.

Thầy An-rê vẫn ngước

Nhìn trời mắt đăm đăm

Rồi quay lại chăm chăm

Thầy chào cha Đắc-Lộ.

Lòng cha bao đau khổ

Vẫn gắng ngỏ một lời :

“Con ơi hãy nhìn trời

Giê-su Ngài đang đợi !”

Thầy nghe lời cha nói

Vội nhìn trời bao la

“Giê-su ! Ma-ri-a !”

Lời thốt ra luôn miệng.

Người lý hình tê điếng

Rút lại ngọn giáo dài

Đâm một nhát thứ hai

Rồi đâm thêm nhát nữa.

Thầy vẫn chưa gục ngã

Kiên vững cả xác hồn

Trên đôi môi như son

Vẫn kêu giòn danh Chúa.

Thấy cực hình lâu quá

Một người lính đứng gần

Tuốt ra lưỡi gươm trần

Nhắm chém ngay vào cổ.

Nhưng thầy vẫn quỳ đó

Danh Chúa thầy vẫn kêu

Thêm một nhát gươm vèo

Mới đứt ngang cuống họng :

Vọt lên dòng máu nóng

Cùng hai tiếng “Giê-su !”

Từ đáy lòng khiêm nhu

Của con người yêu Chúa.

Chúa yêu thương thầy quá

Cho giống Chúa mọi đường

Với năm dấu yêu thương

Với máu tuôn như suối.

Chết năm mười chín tuổi

Út đã trở nên đầu

Giục kẻ trước người sau

Nối tiếp nhau làm chứng.

Thầy đã được diễm phúc tử đạo 

———————————————————————

Ý NGHĨA MỘT CÁI CHẾT

Mây chiều bay lờ lững

Đồi cao gió vân vê

Lính tráng đã ra về

Đám đông còn lưu luyến :

Kẻ lặng thinh cầu nguyện

Kẻ bịn rịn xót xa

Mấy người Bồ Đào Nha

Đem lụa đào lau thấm

Quý từng giọt máu thắm

Của một bậc hiền nhân

Tín hữu cũng chen chân

Nhặt nhánh cây cọng cỏ

Hốt lớp đất ướt đỏ

Có dính máu người hiền

Khiến lương dân đứng nhìn

Rất ngạc nhiên sửng sốt.

Không bỏ qua dịp tốt

Cha Đắc-Lộ đứng lên

Cha ứng khẩu giảng liền

Mấy lời khuyên tha thiết

Về ý nghĩa cái chết

Của thầy giảng An-rê

Về ơn phúc tràn trề

Của tình thương Thiên Chúa.

Đoàn giáo dân lệ ứa

Có mang sẵn quan tài

Họ tẩm liệm thi hài

Và máu đào quý giá

Rồi lời kinh cảm tạ

Vang trong gió chiều hôm

Như hương trầm ngát thơm

Bay về tôn nhan Chúa

Đêm trùm lên ruộng lúa

Thuyền xuôi ngả Hội An

Nhưng An-rê Phú Yên

Đã thắp lên ánh sáng.

Ôi người thật xứng đáng

Con của Mẹ Việt Nam

Từ đây đến ngàn năm

Sẽ không quên ngày ấy

Hai mươi sáu tháng bảy

Năm một sáu bốn tư (1644)

Dâng tiến Chúa nhân từ

Lễ đầu mùa nước Việt.

———————————————————————

II

MỘT SỐ VIỆC XẢY RA

SAU KHI THẦY AN-RÊ CHẾT (17)

………………………………………………………………………………..

LỬA CHÁY THÀNH CHIÊM

Thầy An-rê bị giết

Đã nên việc động trời

Dân chúng ở khắp nơi

Đều lắm lời kháo láo.

Việc càng thêm huyên náo

Vì liên tiếp ba ngày

Sau cái chết của thầy

Xảy ba lần hỏa hoạn.

Lửa tràn lan thị trấn

Lửa cháy chợ, cháy đình,

Cháy ngục thất, tư dinh,

Cháy phố phường, nhà cửa.

Từ đâu mà nổi lửa

Chẳng ai rõ, ai hay,

Có người bảo rằng đây

Giáo dân bày phù phép.

Nhưng phần đông miệng chép

Đây là việc trời làm

Oán trách lão quan tham

Đã giết người vô tội.

Lửa cháy thiêu, cháy rụi,

Lửa cháy vội, cháy mau,

Cháy sạch đường thương đau

Đã điệu người đi xử.

Lửa cháy hung, cháy dữ,

Cháy sạch đường hôm qua.

Chỉ trừ lại một nhà

Lại là nhà người lính

Rất hung hăng nóng tính

Thật ngạo ngược quá tay

Đã muốn đòi phanh thây

Sau khi thầy giảng chết.

Bây giờ lửa đốt hết

Anh mới biết tội mình

Tức khắc anh van xin

Người mà anh giết hại.

Thật lạ lùng ngang trái

Giữa đám cháy điêu tàn

Nhà anh được bình an

Như lời anh cầu khẩn.

———————————————————————

NGƯỜI HOA TIÊU VÔ HÌNH

Còn thi hài thầy giảng

Cha Đắc-Lộ giữ nguyên

Cha vẫn để trong thuyền

Đợi ngày đem gởi gắm.

Sang đến đầu tháng tám

Có tàu Bồ Đào Nha

Sắp nhổ neo đi xa

Vội vàng cha nhờ họ

Chở giùm quan tài đó

Về dòng Tên Áo-môn.

Sẵn có lòng kính tôn

Các thương gia hoan hỷ.

Còn riêng phần giáo sĩ

Giữ thủ cấp An-rê

Mong sớm hôm cận kề

Thoả tấm lòng quý mến.

Khi tàu ra giữa biển

Được gió thuận buồm xuôi

Người hoa tiêu mừng vui

Cho tàu đi đúng hướng.

Nhưng tàu như trở chứng

Tự định hướng tìm phương

Theo hẳn một con đường

Chẳng ai tường, ai rõ.

Tàu bất chấp ngược gió

Vẫn cứ đi dễ dàng.

Về tới bến bình an

Mới hay rằng dạo ấy

Trên đường tàu quen chạy

Có bọn cướp ngang tàng

Những chiếc tàu đi ngang

Có gì thường mất sạch

Chủ tàu và hành khách

Nghe vậy hết sức mừng

Ai nấy đều nghĩ rằng

Thầy An-rê phù hộ.

———————————————————————

ĐƯỢC ĐÓN TIẾP TẠI ÁO-MÔN

Tin này loan khắp phố

Người trăm họ xôn xao

Càng thêm lòng ước ao

Đón thi hài thầy giảng.

Khắp Áo-môn bừng sáng

Đèn hoa kết đầy đường

Chuông rộn rã du dương

Chào mừng thi thể ấy.

Cuộc khải hoàn lộng lẫy

Đón rước thật chỉnh tề

Đưa thi thể An-rê

Về nhà thờ Đức Mẹ.

———————————————————————

CHẾ NGỰ THÁI BÌNH DƯƠNG

Trong khi đó giáo sĩ

Còn liên lỉ âm thầm

Làm việc tại Việt Nam

Được một năm trôi chảy.

Năm sau đầu tháng bảy

Ngậm ngùi cảnh biệt ly

Cha bị đuổi ra đi

Phải xuống tàu thật gấp.

Tay cha ôm thủ cấp

Của thầy giảng An-rê

Mà đôi mắt trông về

Việt Nam rất yêu dấu.

Bỗng Thái Bình nổi bão

Dậy sóng gió kinh hồn

Như chấn động càn khôn

Các cột buồm gãy mất.

Người hoa tiêu hoa mắt

Các thủy thủ ngã lòng

Nhưng giáo sĩ cậy trông

Xin An-rê cứu chữa

Thủ cấp thầy để giữa

Chung quanh mọi người quỳ

Miệng khấn hứa thầm thì

Rồi cầu kinh Đức Mẹ.

Kinh cầu còn đang kể

Sóng gió đã yên hàn

Ai nấy được bình an

Lòng tạ ơn khôn xiết.

Về Áo-môn mới biết

Lúc họ thoát hiểm nguy

Cũng gần chỗ họ đi

Hai chiếc tàu bị đắm :

Bão nhận chìm thê thảm

Cuốn mất cả tăm hơi,

Chỉ sống sót mấy người

Về ngậm ngùi kể lại.

———————————————————————

ĐỤC ĐÁ VÁ TÀU

Qua những ngày chờ đợi

Đến tháng hai năm sau (1646)

Cha Đắc-Lộ đáp tàu

Đi Rô-ma báo cáo

Về công việc truyền giáo

Phát triển ở nước ta

Để xin Đức Thánh Cha

Gởi các vị Giám mục

Tới chăm nom coi sóc

Và tiếp tục công trình.

Tàu cha đang lênh đênh

Theo gió lành biển lặng

Bỗng dưng đâm thật mạnh

Vào một núi đá ngầm

Bị lủng cả dưới hầm

Gỗ nổi lên mặt nước.

Tàu kẹt không ra được

Mọi người mặt tái xanh

Cuống quýt lo dọn mình

Xin chết lành trong Chúa.

Giáo sĩ khuyên vững dạ

Cầm thủ cấp An-rê

Cha nói nhỏ thầy nghe

Xin cứu nguy thoát chết.

Tức khắc tàu khỏi kẹt

Và lại tiếp tục đi

Bình an chẳng việc gì

Cứ theo lời thủy thủ

Ván đóng tàu đã cũ

Có ghép gỗ thêm nhiều

Phần gỗ nổi lều bều

Chắc chỉ là lớp vỏ.

Lúc tàu về bến đỗ

Kéo lên cạn sửa sang

Ai nấy mới bàng hoàng :

Lủng tang hoang dưới đáy.

Xưa nay chưa từng thấy :

Đá đục lấy ván tàu

Rồi tách khối đá đầu

Vá chặt đâu vào đấy.

Ai ai nhìn thấy vậy

Cũng rất đỗi ngạc nhiên

Riêng hành khách được yên

Kể rằng trong nguy biến

Họ đã cùng cầu nguyện

Với thầy giảng An-rê.

———————————————————————



TẠI CHÂU ÂU

Hành trình dài lê thê

Sau bảy năm đằng đẵng

Thủ cấp của thầy giảng

Mới về tới Rô-ma (1652)

Được giữ như ngọc ngà

Tại nhà Bề trên Cả. (18)

Cha Đắc-Lộ cũng đã

Nhờ người họa hình thầy

Kèm tiểu sử in ngay

Trình bày cho thế giới.

Cho đến khi cha tới

Thủ đô Pháp : Ba-lê (1653)

Danh thầy giảng An-rê

Đã được nhiều người biết.

Có những người ốm liệt

Chữa chạy đã lâu ngày

Họ cầm ảnh của thầy

Cầu xin và khỏi bệnh.

Hồ sơ xin phong thánh

Cho thầy giảng An-rê

Từ Áo-môn gởi về

Đang chờ Tòa Thánh xét. (19)

———————————————————————

CÁC BẠN CỦA ANRÊ TẠI VIỆT NAM

Dưới bầu trời nước Việt

Sau cái chết của thầy

Đoàn thầy giảng mọi ngày

Đã đầy mười hai vị.

Cùng một lòng một ý

Làm chứng cho Giê-su

Bảy vị bị ở tù

Bị chặt chân một ngón.

Còn hai người anh lớn

Là I-nhã thuở nào

Và Vinh-sơn anh hào

Đúng một năm sau đó (20)

Cũng bị quan xử tử.

———————————————————————

TỪ ĐÓ HỘI THÁNH VIỆT NAM PHÁT TRIỂN MẠNH

Máu đổ vì Phúc Âm

Cho hạt giống nảy mầm

Khắp trời nam nước Việt.

Bao nhiêu người oanh liệt

Sống chết vì đức tin :

Một trăm ba chục nghìn

Đã hy sinh vì đạo.

Từ nhi đồng, phụ lão,

Từ thầy giáo, học trò,

Đến thợ thuyền, nông phu,

Thương gia và y sĩ,

Cả các bà, các chị,

Cả cụ lý, thầy cai,

Cả bà mẹ mang thai,

Quan quân và lính ngục,

Cả thầy dòng, Giám mục,

Cả cha xứ, ông trùm,

Người giúp việc nhà chung,

Nữ tu và thầy giảng,

Tất cả đều xứng đáng

Những nhân chứng tình yêu.

Người hy sinh càng nhiều

Người tin theo càng lắm

Cho quê hương tươi thắm

Cho Hội Thánh vững bền

Bốn trăm năm xây trên

Máu anh hùng tử đạo

Từ một miền truyền giáo

Nay Hội Thánh Việt Nam

Đã cùng nghĩ cùng làm

Với anh em thế giới.

———————————————————————

LỜI KẾT

ta đi phấn khởi

Mở lối bởi tiền nhân

Nén hương lòng tri ân

Tấm bia lòng ghi khắc.

Sau Phan-sinh xứ Bắc (21)

Đây An-rê Phú Yên

Là người Việt đầu tiên

Đã trung kiên làm chứng

Cho lòng ta tin vững

Cho hy vọng ta vươn

Cho đậm nét yêu thương

Cho quê hương ngời sáng.

Nguyện tiếp tay xứng đáng

Với sự nghiệp người hiền

Gương mẫu thanh thiếu niên

Và giảng viên giáo lý

Xin thành tâm quyết chí

Noi gương người khiêm nhu

Yêu mến Chúa Giê-su

Đến hiến dâng đời sống.


Trăng Thập Tự



(1) Các vị vua cuối thời nhà Lê bị hai dòng tộc lấn quyền, nước ta bị chia làm hai miền ở hai phía sông Gianh, mỗi bên thuộc một gia tộc được phong tước “vương”(quen gọi là “chúa”), miền Bắc thuộc quyền Chúa Trịnh, miền Nam thuộc quyền Chúa Nguyễn, hai bên đánh nhau nhiều lần. Về mặt đạo, miền Bắc được gọi là Xứ Bắc hay Đàng Ngoài, miền Nam được gọi là Xứ Nam hay Đàng Trong.

(2) Mằng Lăng : Một giáo xứ thuộc giáo phận Qui Nhơn. Nhà thờ Mằng Lăng nằm ở phía bắc thị xã Tuy Hòa (Phú Yên) 30 km, cách quốc lộ 2 km về phía đông, bên hữu ngạn sông Cái.

(3) Sơn Chà : Một ngọn núi ở Mằng Lăng.

(4) Văn Thánh : Chỗ đất trống trên sườn núi A-mang tại Mằng Lăng trước kia có đền thờ Đức Khổng Tử. Cánh đồng rộng phía đó được gọi là cánh đồng Văn Thánh.

(5) Cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ (1591-1660) : Giáo sĩ dòng Tên, quê ở lãnh địa A-vi-nhông của Tòa Thánh (lãnh địa này nằm trên đất Pháp), truyền giáo tại Việt Nam từ 1624-1645. Cha đã giúp hoàn thành chữ quốc ngữ. Cuối đời, cha đi truyền giáo tại BaTư và chết ở đó.

(6) Dinh Trấn biên : Quân ta tới đâu đều lập đồn trấn giữ biên giới, dinh quan Trấn thủ gọi là dinh Trấn biên.

(7) Dinh Trấn biên của vùng Phú Yên lúc đó được đặt tại thôn Hội Phú, cách nhà thờ Mằng Lăng chừng 1 km, chỗ xây thành quách xưa, nay được gọi là Thành cũ.

(8) Mấy tháng sau thánh lễ rửa tội của An-rê, cha Đắc-Lộ đi Phi-líp-pin và Áo-môn một thời gian. Áo-môn (hay Ma-cao) là một thành phố trên bờ biển Trung Quốc, lúc đó thuộc quyền người Bồ Đào Nha, có nhà thờ chánh tòa và nhiều cơ sở tôn giáo.

(9) Cha Đắc-Lộ đặt trụ sở hoạt động tại Đà Nẵng và Hội An, mỗi nơi đều có nhà thờ chung cho giáo dân và nhà riêng cho các cha và các thầy.

(10) Trưởng đoàn thầy giảng là I-nhã, một người học thức cao, xin thôi làm quan để theo cha Đắc-Lộ và thầy I-nhã hướng dẫn các thầy theo tinh thần tu đức của thánh I-nhã Lô-dô-la, là vị thánh sáng lập dòng Chúa Giêsu (dòng Tên).

(11) Công Thượng Vương còn gọi là Chúa Thượng, tên thật là Nguyễn Phúc Lan. Ông là vị vương thứ ba của nhà Nguyễn, sau Tiên vương Nguyễn Hoàng và Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên. Ông cai trị từ năm 1635-1648.

(12) Tống thị, hay “Người đàn bà họ Tống” tức là bà Tống Thị Toại, vợ của ông Nguyễn Phúc Kỳ là anh ruột Nguyễn Phúc Lan. Sau khi ông Kỳ chết, bà lén lút sống như vợ của ông Lan là em chồng bà. Để tránh khỏi bị phanh phui những chuyện mờ ám, bà đã gây ra một cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ tư (1648) và gây náo loạn phủ Công Thượng Vương. (xem “Người chứng thứ nhất”, trang 109-113, báo Văn Đàn số 48, trang 8).

(13) Tức là Cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ.

(14) Ông Nghè Bộ hay Ông Bộ là tiếng người bình dân dùng để gọi chức cai bạ (Cai bộ). Ông Cai bạ tỉnh Quảng Nam này tên gì sách không ghi lại. Tuy ông chỉ giữ một chức nhỏ dưới quyền quan Trấn thủ nhưng có lẽ quan Trấn thủ quá bận việc quân sự nên ông ta được dịp lộng hành. (Người chứng thứ nhất, 116-117).

(15) Thanh Chiêm là dinh Trấn biên của tỉnh Quảng Nam, cách Hội An chừng 10 km ngược dòng sông.(Người chứng thứ nhất, 121-124).

(16) Gia-tô : tức là “Giê-su”, theo cách đọc hồi xưa.

(17) Chỉ có những sự kiện được Tòa Thánh công nhận là một phép lạ, ta mới được gọi là phép lạ đúng nghĩa. Những sự kiện sau cái chết của thầy An-rê chưa được Tòa Thánh công nhận, chúng ta chỉ nhắc lại như những kỷ niệm trìu mến về thầy An-rê.

(18) Nhà Bề trên Cả dòng Tên. (Người chứng thứ nhất, 190-192).

(19) Hồ sơ xin phong thánh cho thầy giảng An-rê đã được thiết lập từ 1645, được tổng kết năm 1901 (Người chứng thứ nhất, 207-215). Sắc lệnh của ĐGH Urbanô VIII cấm chỉ mọi việc tôn sùng công cộng đối với những nhân vật không được phong chân phước hay phong hiển thánh. Đối với một tôi tớ Chúa, đang được điều tra để phong thánh cũng thế, không được tôn sùng công cộng. Tôn sùng công cộng nghĩa là có người nhân danh Hội Thánh (như linh mục v.v…) đứng ra tổ chức các việc : cầu kinh, rước, trưng bày ảnh tượng trong nhà thờ v.v… Còn những việc các giáo dân tự động có sáng kiến tỏ lòng tôn kính đối với một tôi tớ Chúa, dù là tụ tập đông người, mà không có sự tham dự của giáo quyền, thì không phải là tôn sùng công cộng. (Xem các chi tiết giáo luật trích lại trong Người chứng thứ nhất, 215-216).

(20) Ngày 26-7-1645

(21) Phan-sinh, tức Phanxicô, là một giáo dân ở Đàng Ngoài, giúp việc cho một vị quan lớn trong phủ Chúa Trịnh. Vì Phan-sinh nhất quyết tin thờ Chúa Giêsu nên bị vị quan ấy giết chết năm 1630. Tiếc rằng ta không biết được gì nhiều về Phan-sinh. (Người chứng thứ nhất, 24 và 223).


Được tạo bởi Blogger.