Có thể bạn không biết, nhưng nhiều vị thánh nổi tiếng vì óc hài hước của mình. Chẳng hạn như thánh Philip Neri, Phanxicô Đệ Sâle, và Têrêsa thành Avila, không chỉ nổi tiếng vì đời sống mẫu mực, mà còn bởi họ biết cách dùng những câu chuyện đùa thật khéo léo.

Nhưng người ta không cần phải tìm về vài thế kỷ trước để thấy được một con người thánh thiện hóm hỉnh là thế nào. Chẳng hạn như, khi một nhà báo hỏi Đức Gioan XXIII xem ở Vatican, có bao nhiêu người làm việc, thì ngài suy nghĩ một chút rồi trả lời, “Khoảng một nửa.”


Óc hài hước luôn có chỗ trong cuộc sống hân hoan của người con Chúa, nên chúng tôi xin dẫn ra đây năm chuyện cười phổ biến của Công giáo. Có thể bạn cũng từng nghe ai đó kể chúng rồi cũng nên.



1

Một thầy Dòng Tên, một thầy Dòng Đa Minh, một thầy Dòng Phanxicô cùng đi trên đường, tranh luận xem dòng nào là vĩ đại nhất. Đột nhiên, Thánh Gia hiện ra trước mặt họ, với Chúa Giêsu nằm trong máng cỏ, còn Đức Mẹ và thánh Giuse chiêm ngắm Ngài. Thầy Dòng Phanxicô sấp mình xuống, choáng váng trước cảnh Chúa hạ sinh trong nghèo khổ. Thầy Dòng Đa Minh quỳ gối, chiêm ngắm vẻ đẹp của Thánh Gia. Còn thầy Dòng Tên thì bước lại bên thánh Giuse, khoanh tay cung kính, “Ngài đã định gởi Hài Nhi học ở đâu chưa?”

2

Một thầy Dòng Phanxicô và một thầy Dòng Đa Minh tranh luận xem dòng nào vĩ đại hơn. Sau vài tháng tranh luận, họ quyết định là khi về trời sẽ hỏi Chúa xem sao. Vài năm sau, họ gặp nhau trên thiên đàng, và tìm đến gặp Chúa để giải quyết chuyện tranh luận cũ. Chúa có vẻ hơi rối về câu hỏi này, và bảo họ là vài ngày sau, Chúa sẽ viết thư trả lời cho. Sau một hồi suy nghĩ, Chúa gởi cho họ lá thư thế này:

Các con của Ta,

Làm ơn đừng cãi vặt về mấy chuyện không đâu nữa. Cả hai dòng đều vĩ đại và tốt đẹp trong mắt ta.

Chân thành,
Thiên Chúa, OP

3

Một thầy Dòng Tên và một thầy Dòng Phanxicô cùng ngồi ăn tối, món tráng miệng là bánh nướng. Có hai miếng, một to một nhỏ. Thầy Dòng Tên vươn tay ra bốc lấy miếng to. Thầy Dòng Phanxicô trách, “Thánh Phanxicô luôn dạy chúng ta phải lấy phần nhỏ hơn.” Thầy Dòng Tên trả lời, “Thì thầy có rồi đấy.”

4

Thánh Bênêđictô, thánh Đa Minh, thánh Inhaxiô, và thánh Phanxicô ở trên thiên đàng, tranh luận xem đoàn sủng của ai có trước. Thánh Bênêđictô nói: “Từ thời vườn Địa đàng, mọi thứ tồn tại nhờ làm việc và cầu nguyện, ‘Ora et Labora’ đấy, thế nên dòng chúng tôi có trước hết.” Thánh Đa Minh nói ngay, “Khoan đã. Để có vườn Địa đàng, Thiên Chúa phải phán, thế nên Lời có trước hết. Dòng Đa Minh mới là nhất.” Thánh Inhaxiô, khá tự tin, nói rằng, “Nhưng ngay cả trước đó nữa, là hỗn mang, và Chúa đã dựng nên trật tự cũng như cơ cấu. Thế nên, rõ ràng Dòng tên có trước.” Thánh Phanxicô thì khúc khích cười, đồng ý. “Cha nói đúng. Hỗn loạn có trước nhất!”

5

Một thầy Dòng Tên, một thầy dòng Đa Minh, và một thầy Dòng Xitô bị bỏ lại trên hoang đảo. Họ tìm được một cây đèn thần, và sau một hồi tranh luận, đã quyết định dùng nó. Alê hấp, thần đèn hiện ra và cho họ ba điều ước. Họ quyết định để cho công bằng, mỗi người được một điều ước. Thầy Dòng Tên nói mình muốn dạy ở đại học nổi tiếng nhất thế giới, và bùm, thầy biến đến đó ngay! Thầy Dòng Đa Minh muốn được giảng ở nhà thờ lớn nhất thế giới, và bùm, thầy cũng đến được nơi mình muốn! Thần đèn quay sang người còn lại, thì thầy Dòng Xitô nói, “Thôi không cần nữa, điều ước của tôi thành sự thật rồi mà!”


Aleteia | Daniel Esparza



Blaise Pascal

Blaise Pascal là một trong những học giả quan trọng nhất của thế kỷ XVII. Ông là nhà khoa học, toán học, nhà phát minh, nổi tiếng vì nhiều đột phá. Ông cũng là người Công giáo sốt sắng và đã viết một trong những tác phẩm biện giáo lớn nhất của thời đại mình.

Nhưng không phải lúc nào ông cũng có đức tin mạnh, và có lúc còn không có đức tin. Sau khi dành gần như cả đời vào kiểu lòng đạo trên danh nghĩa, ông có được một cảm nghiệm biến đổi sâu sắc, một thần nghiệm.

Pascal sinh tại Pháp vào năm 1623. Ông là con thứ hai trong ba người con, mẹ ông mất khi ông mới 3 tuổi. Vài năm sau, cha ông dời cả nhà đến Paris.

Sự thông minh của Pascal đã lộ rõ từ lúc còn nhỏ, nên cha ông quyết định dạy riêng cho ông ở nhà. Và việc này đã sinh hoa kết trái, khi mới 16 tuổi, Pascal đã có những bước đột phá trong toán học và còn tranh luận hàn lâm với các nhà toán học chuyên ngành. Đến năm 19 tuổi, ông đã phát minh ra máy tính tự động, và bán cho nhiều gia đình giàu có trên khắp châu Âu. Những năm 20 và 30 tuổi, Pascal có thành tựu quan trọng trong toán học thống kê, và có những khám phá quan trọng về chất lỏng và áp lực.

Năm 1646, cha ông bị ngã gãy xương hông, một chấn thương kinh khủng vào thời đó. Hai bác sỹ chăm sóc cho cha ông trong suốt vài tháng trời, là những người Công giáo sốt sắng. Qua tình bạn và những lần trao đổi với họ, Pascal bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc hơn về tôn giáo.

Nhiều nhà viết tiểu sử gọi đây là ‘hoán cải đầu tiên’ của ông. Nhưng sự biến đổi này hầu như chỉ mang tính tri thức và không kéo dài được lâu. Khi cha ông mất vào năm 1651, ông rời bỏ tôn giáo và đi vào ‘giai đoạn trần tục.’ Không lâu sau, em gái của ông quyết định vào tu viện, và như thế là một cho đi một phần ba gia sản của cha ông. Chị gái của ông cũng đã dùng phần thừa kế của mình làm của hồi môn, nên bây giờ Pascal chỉ còn lại một mình, với một phần ba tài sản của cha, nhưng lại không có cha mẹ, còn chị em thì đã hoàn theo những hướng khác.

Có thể nói, ông nghèo và cô đơn. Đó là lúc Chúa đi vào cuộc đời ông thật kinh ngạc.

Ngày 23-11-1654, Pascal đang ở nhà một mình. Mặt trời đã lặn và màn đêm bao phủ. Ông đang chuẩn bị đi ngủ, thì khoảng 10h30, bất thình một chuyện gì đó siêu nhiên xảy đến. Không rõ là thấy gì, nhưng thị kiến thần nghiệm kinh ngạc kéo dài trong ông suốt hai tiếng đồng hồ. Ngay khi thị kiến vừa qua, ông chụp lấy giấy và viết ra những gì vừa cuồn cuộn trong đầu mình.

Đây là những dòng của ông:

Năm ân sủng 1654,
Ngày thứ hai, 23 tháng mười một, lễ thánh Clemente, giáo hoàng tử đạo, và các bạn tử đạo. Đêm trước lễ thánh Chrysogonus, tử đạo và các bạn. Từ lúc khoảng mười giờ rưỡi đến khoảng mười hai giờ rưỡi đêm.

LỬA
THIÊN CHÚA của Abraham, THIÊN CHÚA của Issac, THIÊN CHÚA của Giacóp,
không phải của những triết gia và học giả.
Tin chắc. Tin chắc. Cảm giác. Vui mừng. Bình an.
THIÊN CHÚA của Chúa Giêsu Kitô.
Chúa của tôi và Chúa của bạn.
CHÚA của bạn sẽ là Chúa của tôi.
Thế giới và mọi sự sẽ bị lãng quên, ngoại trừ CHÚA.
Chỉ tìm thấy được Ngài bằng con đường mà Tin mừng dạy.
Linh hồn con người cao cả thay.
Cha Công chính, thế giới không biết Cha, nhưng con biết Cha.
Vui, vui, vui, những giọt nước mắt của niềm vui.
Con đã bỏ Ngài.
Họ đã bỏ con, nguồn suối nước hằng sống.
Lạy Chúa con, Chúa có bỏ con?
Xin đừng để con xa Ngài mãi mãi.
Đây là sự sống bất diệt, là họ biết Ngài, Đấng là Thiên Chúa thật, Đấng mà Cha đã sai đến, Chúa Giêsu Kitô.
Chúa Giêsu Kitô.
Chúa Giêsu Kitô.
Con đã bỏ Ngài, con đã trốn Ngài, khi Ngài bị lên án, bị đóng đinh.
Xin đừng để con mãi mãi xa Ngài.
Chỉ tìm thấy được Ngài bằng con đường mà Tin mừng dạy.
Từ bỏ, hoàn toàn và ngọt ngào.
Hoàn toàn quy phục Chúa Giêsu Kitô Đấng chỉ lối cho con.
Xin cho con đừng quên lời Ngài.
Amen.

Rồi ông gấp mảnh giấy và để trong túi áo, mảnh giấy này theo ông đến suốt đời. Và chỉ sau khi ông chết, người ta mới khám phá ra.

Không như sự hoán cải mang tính tri thức ban đầu, sự hoán cải lần này là ở trong tim. Ông hầu như bỏ công việc toán học và tận hiến cho thần học và biện giáo. Vài năm sau, ông cho xuất bản Các Lá Thư Tỉnh Hạt, một cuộc tấn công những ngụy biện luân lý, một tác phẩm nhanh chóng nổi tiếng không chỉ vì các lý lẽ mà còn vì giọng văn trào phúng hài hước.

Khoảng 35 tuổi, ông viết một tác phẩm biện giáo toàn diện với tựa đề ‘Biện hộ Kitô giáo.’ Nhưng ông lâm bệnh và không thể hoàn tất nó. Ngài 18-08-1662, ông lên cơn co giật và lãnh nhận các Bí tích sau cùng. Sáng hôm sau, ông qua đời ở tuổi 39. Những lời cuối đời của ông là gì?

‘Xin Chúa đừng bao giờ bỏ con.’



Được tạo bởi Blogger.