MÙA HỘI TÌNH THƯƠNG

Hằng năm, cứ vào tháng 11, người Công Giáo tận hưởng một mùa sinh hoạt tôn giáo thú vị, đầy nghĩa tình. Mùa này khởi đi từ ngày 1 tháng 11, ngày lễ các Thánh Nam Nữ của Thiên Chúa, ngày tôn vinh tất cả những con người đã cống hiến cuộc đời của mình cho Thiên Chúa và tha nhân, đã trung tín và đã đi đến cùng cuộc đời trong ơn nghĩa Chúa. Kinh Thánh nói họ là những người “đi qua những đau khổ lớn lao mà đến” và Kinh Thánh cũng nói họ “đông vô số kể, từ muôn nước muôn dân”.




Mùa Hội Tình Thương kéo dài hết tháng 11, được gọi là Tháng các Linh Hồn, vì từ ngày mồng 2 tháng 11, đúng hơn là chiều 1 tháng 11, từ tâm trạng tung hô ngợi ca Thiên Chúa nơi các bậc Thánh nhân, người tín hữu tưởng nhớ đến tất cả những người đã khuất và thiết tha cầu nguyện cho họ được bình an. Những người đã khuất trong đó có những người thân yêu của mình nên từ trong đáy lòng, trong khoảng sâu thẳm của con tim, người tín hữu Công Giáo chú tâm và trào tràn cảm xúc sống những ngày yêu thương này với kinh nguyện

Khi thời gian lùi dần vào cuối tháng 10, đó là lúc các gia đình Công Giáo xôn xao viêc đi viếng mộ thân nhân, họ ra nghĩa trang để thăm viếng, xem xét mộ phần, tu bổ hoặc làm mới, họ dọn cỏ, quét lá, thắp nhang. Ban Trị Sự nghĩa trang tất bật làm rạp, dọn dẹp chung khu nghĩa trang, chuẩn bị cho ngày hội tưng bừng đông đảo vào chính ngày 2 tháng 11. Ở Sàigòn, Bình Hưng Hòa là khu nghĩa trang lớn nhất và lâu đời nhất, các nghĩa trang khác trong lòng thành phố như Nghĩa Trang Đô Thành đường Lê Văn Duyệt nay là đường CMT8, Nghĩa trang Thánh Minh Tương Tế đường Thoại Ngọc Hầu nay là đường Pham Văn Hai đã bị giải tỏa từ lâu. Đáng kể nhất là nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, một nghĩa trang đẹp, sang trọng với những hàng cây lâu năm, yên tĩnh và an bình như những con người năm im dưới đáy mộ, nghĩa trang này bị giải tỏa ngay từ những năm đầu “giải phóng”, đặt dấu chấm hết cho một khu đất đầy tính văn hóa, nhân văn và thiên nhiên giữa lòng thành phố. Có thể nói không một bạn sinh viên học sinh nào thời đó mà không có những kỷ niệm đẹp của những giờ khắc êm đềm học bài hoặc dạo chơi trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Sáng sớm ngày 2 tháng 11, các ngã đường vào nghĩa trang Bình Hưng Hòa đã rơi vào tình trạng kẹt cứng, các nhân viên giao thông làm việc hết sức vất vả, các nghĩa trang đầy hoa đèn, cờ quạt, tưng bừng đủ mọi màu sắc của ngày hội, lố nhố dáng người đầy ắp các nghĩa trang, tiếng kèn, tiếng trồng, tiếng âm thanh khuyếch đại của các nghi thức cầu nguyện và Thánh Lễ, vang động cả một góc trời. Nghĩa trang trở thành một vùng lễ hội náo nhiệt… Rồi ngày hội tan dần về buổi chiều, một vài nghĩa trang lác đác dâng lễ muộn, nhưng cả tháng 11, nhang đèn hoa nến được bày biện khắp các ngôi mộ nơi người thân yêu đang yên nghỉ.

Ở các tỉnh lẻ thì không khí có phần khác hơn, mỗi Giáo Xứ có một nghĩa trang, tất cả mọi người qua đời trong Giáo Xứ đều được chôn cất ở nghĩa trang đó, vì thế mỗi nghĩa trang tách biệt nhau và có thể nói toàn bộ Giáo Xứ “di chuyển” ra nghĩa trang với người quá cố trong những ngày nay. Nghĩa trang như một công viên hoa, hoa tươi khắp nơi, ngôi mộ nào cũng được người thăm chăm chút cho thật đẹp, thật thân thương, từng ngôi mộ được trang hoàng nối tiếp các ngôi mộ khác làm thành một công viên tuyệt đẹp, sống động với những làn khói hương nghi ngút.

Trong những lần đi tham dự các khóa học hoặc làm việc ở nước ngoài, tôi có dịp đến các nghĩa trang ở một số nước vào những ngày đầu tháng 11. Nghĩa trang ở Liège, nước Bỉ, buồn thê thảm, bầu trời xám xịt lạnh lẽo mùa đông, rộng thênh thang người viếng nghĩa trang lác đác lẻ loi.

Thế nhưng nghĩa trang ở Roma đúng là ngày hội, một lễ đài uy nghi trang trọng trải thảm đỏ dựng ngay cổng nghĩa trang, những tiệm bán hoa chung quanh nghĩa trang đầy người tấp nập, bên trong nghĩa trang, mỗi ngôi mộ là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tinh xảo, có những bức tượng chỉ cần có thêm âm thanh nữa chúng ta sẽ lầm tưởng là người thật.

Ngôi mộ cũ của Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận được đặt trong lòng tường dưới một căn hầm, đối diện qua ngõ nhỏ, chếch lên cao là ngôi mộ của Đức Ông Vinh Sơn Thụ, gần đó, vài bước thôi là một căn Nhà Nguyện nhỏ, chúng tôi thường dâng lễ ở đây khi có dịp ra viếng mộ ngài. Bây giờ ngài được phúc trên Thiên Đàng, xin phù hộ cho đất nước dân tộc của chúng ta.



Ở Sàigòn gần đây các nghĩa trang bị giải tỏa theo cơn sốt đất, người tín hữu Công Giáo quen dần với việc hỏa táng, đáp ứng nhu cầu này, các Giáo Xứ lần lượt xây dựng các nhà đặt Hài Cốt, đặt hũ Tro của người quá cố, những cái tên đã được ghi trên khu cửa ngôi nhà này âm vang niềm tin và nỗi vui mừng phục sinh: Nhà Chờ Phục Sinh, Nhà Yên Nghỉ, Nhà Hài Cốt, Nhà Phục Sinh, Nhà Cha, Nhà Vượt Qua… Ngày 2 tháng 11, ngày hội được tổ chức ngay tại ngôi nhà này, khói nhang nghi ngút, người ra vào thăm viếng tấp nập.

Không chỉ có ra viếng và tổ chức lễ hội ở nghĩa trang, người tín hữu Công Giáo còn xin dâng lễ và tụ họp đọc kinh trong gia đình trong tháng 11 này để cầu nguyện cho thân nhân và các người đã qua đời. Hành động này bày tỏ Đức Tin, sự hiệp thông và lòng yêu mến đối với người quá cố.

Ngày mồng Hai Tết cũng là ngày đặc biệt mà mọi gia đình Công Giáo dành riêng để cầu nguyện cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cùng với những ngày kỷ niệm của các đấng sinh thành nữa.

Tháng 11 nhắc ta về tình yêu thương gia đình, gợi chúng ta nhớ đến những người thân yêu đã khuất, tạo dịp cho chúng ta bày tỏ tình yêu mến đối với họ và với nhau, nuôi dưỡng và phát triển mối liên kết huyết nhục trong Đức Tin.

Mùa Hội Yêu Thương…

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 29.10.2017
Ephata 769


PHÚC ĐỨC NƠI NÀO MÀ ĐỂ CẦU AO RÁCH NÁT?

Cha tôi xuất thân từ vùng quê đồng bằng sông Hồng, sinh ra và lớn lên trên ruộng lúa, cả tuổi trẻ chân lấm tay bùn lăn lóc ở những vuông đất nghèo kiệt. Năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, cha tôi thoát vội vàng ra khỏi xóm làng bởi những cuộc truy đuổi, người thanh niên trẻ bỏ lại vợ con lang thang lên đất Hà Nội, ở đó, nỗi tủi buồn vì nghèo và mù chữ dằn vặt ông mỗi ngày. Năm 1954 di cư vào Nam, nhờ hệ thống giáo dục của Cụ Ngô, cha tôi cắp sách đến trường khi tóc bắt đầu điểm sương, ông đi về mỗi tối từ các lớp Bình Dân Học Vụ, kiên trì từ giã nỗi nhục để bước vào con đường tri thức.



Vì không biết chữ nên cha tôi chịu ảnh hưởng sâu rộng bởi lối giáo dục truyền khẩu của cha ông, mỗi khi cần dạy con cái điều gì, ông ví von và trưng dẫn những câu thơ, những lời văn thật ý nhị nhưng không kém phần sâu lắng. Anh tôi hay đi chơi và rất mê Xinê, có lần vào rạp chiếu phim thường trực, loại rạp chiều phim liên tục không có giờ nghỉ, anh xem phim quên cả giờ về, khi ra khỏi rạp mắt mờ, bụng đói, ngất ngưởng như con chuối phải khói. Không đánh con bao giờ, cha tôi ra hình phạt lên bàn viết 100 lần câu: “Đi đâu phải báo cho nhà biết, chớ đi biền biệt kẻo nhà đợi mong”. Tôi sinh ra với gương mặt không được tươi lắm, mỗi khi có nỗi buồn tôi thường nhăn nhó coi rất khó chịu, để nhắc nhở tôi ông bảo: lên bàn viết 100 lần câu: “Làm trai cho đáng nên trai, bác mẹ có mắng cũng cười như hoa”. Bây giờ đã ngoài sáu mươi, chẳng sửa được như lời ông dạy, những mỗi lần thấy mặt mình nhăn nhó bỗng nhớ cha vô cùng.

Ông có tính xã hội cao, tham gia nhiều công việc chung của làng xóm, đồng hương, giang rộng tay đón các bạn bè của chúng tôi ở quê lên Sàigòn trọ học, lắm khi ông mải miết lo việc chung làm phật lòng bà, bà sống đời nội trợ nên thế giới của bà là quanh quẩn trong nhà, lắm lúc bà tức giận "pháo kích" ông cũng bằng thơ văn “phúc đức nơi nào mà để cầu ao rách nát”! Khi trận chiến khai màn thì ông thường chọn cách “nể mẹ mày chứ đây không sợ” và rút lên lầu nằm im! Thấy ông nằm lâu không xuống bà liền pha cốc nước chanh bảo tôi “mang lên cho bố mày”.

Bài học chúng tôi suy nghĩ là làm sao cân đối được những sinh hoạt trong ngoài của chính mình, những sinh hoạt ngoài xã hội đã giúp ích cho việc đào luyện bản thân mình rất nhiều, nhưng những việc bổn phận và trách nhiệm trong gia đình cũng cần phải chu toàn. Thật ra thì bố tôi khá quân bình trong công việc, tuy ông có phần quảng đại trong việc xã hội, nhưng chúng tôi hài lòng và hãnh diện vì tấm lòng nhân ái của ông.

Mấy năm nay tôi chứng kiến sự đổ vỡ của gia đình người bạn thân, chúng tôi quen và sinh hoạt chung với nhau từ khi còn niên thiếu, cuối thập niên 60 anh vào quân đội tham gia trận đánh chí tử tại An Lộc năm 72, trở về an dưỡng một thời gian anh tiếp tục lao vào cuộc chiến khốc liệt. Ngày cuối cùng của năm 75, đơn vị anh trấn giữ cầu Xa Lộ rồi tan hàng, cởi chinh y từng mang huy hiệu tên một loài cọp, anh xếp hàng trong doàn bại tướng đi lưu đày. Sau thời gian bị tập trung anh sang Mỹ theo diện HO rồi lập gia đình, người vợ là bạn của người yêu cũ đã bỏ anh khi anh còn ở trại tù. Những năm sau này anh mệt mỏi vì không chịu nổi tính của vợ, chị bỏ bê gia đình, mặc anh với hai đứa con sống ra sao thì ra, cả ngày chị đi hết nhà dưỡng lão này đến trại tù kia, về Việt Nam chị đi làm từ thiện từ Nam chí Bắc, số ngày đi giúp người nhiều gấp mấy lần số ngày về với gia đình. Khuyên bảo không được, bạn bè lên tiếng, chị vẫn không thay đổi, anh vùi đầu vào hơi men! Đoạn cuối của cuộc hôn nhân kéo dài trong bi thảm!

Tôi miên man chuyện gia đình, chuyện bàn bè, vì từ lâu, cái cách truyền thông và ứng xử quốc tế của Nhà Nước làm tôi thắc mắc. Có những chuyện tày đình trong nước mà lại vờ bỏ quên không thông tin, nhưng chỉ một chuyện nhỏ ở Mỹ hay ở một quốc gia tư bản dãy chết nào khác thì bình luận và thông tin rộng rãi. Gần đây nhất vụ xả súng ở Las Vegas số người chết và thiệt hại không bằng dấu phẩy của những tai họa đang đổ trên đầu dân Việt, thì Nhà Nước tỏ ra quan ngại, chia sẻ, nhưng những chuyện thê thảm trong nước thì… đánh trống bỏ dùi ! Người dân phải sống triền miên trong cảnh đói nghèo, nông dân được mùa phải chịu rớt giá, mặc cho thương lái Tàu tung hoành hại dân, trong khi đó lại chở hàng nghìn tấn gạo nhiều lần viện trợ quảng đại cho "anh em" Triều Tiên, tiếp sức cho một đất nước CS đang bóc sức dân để chế tạo vũ khí hạt nhân, tên lửa, hăm he gây chiến!

Đó là chuyện của xã hội, chuyện của Giáo Hội cũng vậy, có những người lo đi giúp và truyền giáo ở những nơi khác, nhưng ngay Giáo Hội nhà, còn quá nhiều nơi, nhiều vùng, nhiều người chưa biết Chúa thì không hề đưa tay chạm thử vào, thành tích sẽ được kể như một sự mở mang bờ cõi ra ngoài biên giới, nhưng chuyện trong biên giới, ngay ở vùng ngoại biên theo cách nhấn mạnh của Papa Phanxicô, thì mặc cho đói nghèo, cho việc mù Tin Mừng thao túng! Tỷ lệ 6% dân số là Kitô hữu kéo dài trong nhiều năm có là con số làm nhức nhối tâm hồn mình không?

Dĩ nhiên các Thừa Sai năm xưa không đợi Giáo Hội nhà lớn mạnh rồi mới đi truyền giáo, mới dấn thân đến những vùng đất mới, nhưng những nơi ngay trên mảnh đất hình chữ S này còn chưa biết Chúa thì những vùng ấy có phải là những "vùng đất mới" hay không, hay chúng ta còn phải đi tìm vùng đất mới nào khác?

Lm. Vĩnh Sang, DCCT, 20.10.2017
Ephata 768


Chủng viện Làng Sông

Nước Mặn, Gò Thị, Gò Bồi, Làng Sông, là những địa danh (thuộc Giáo Phận Quy Nhơn ) đậm chất Đức Tin của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam thửa khai mở. Các Thừa Sai Tin Mừng đã đến Nước Mặn (1618 ). Ngày nay Tòa Giám Mục Quy Nhơn đã xây dựng di tích nơi các Thừa Sai đặt chân đến để lưu truyền và ghi dấu Đức Tin. Di tích tọa lạc trên một khu đất nhỏ, khoảng 100 mét vuông, gồm một bệ ximăng trên đó một gốc cây bằng bêtông có nhiều nhánh đang vươn lên tượng trưng cho Giáo Phận Đàng Trong từ gốc rễ này nảy sinh, các mặt bên của gốc cây có 8 bảng đá ghi bằng 8 ngôn ngữ di tích Tin Mừng đến Việt Nam.

Gò Thị là nơi đặt Tòa Giám Mục đầu tiên của Giáo Phận Đàng Trong (1840 ). Là quê hương của Thánh Tử Đạo Trùm Cả Năm Thông (Anrê Nguyễn Kim Thông, còn gọi là Anrê Năm Thuông ), ngày nay có một ngôi đền thờ ghi dấu tích tử đạo, ngoài cửa đền thờ có lễ đài lưu giữ cỗ quan tài của Thánh Anrê Năm Thông. Ngôi đền thờ này do Đức Cha Phaolô Huỳnh Đông Các, Giám Mục Giáo Phận Quy Nhơn xây dựng theo bản vẽ thiết kế của cha Matthêô Nguyễn Văn Khôi nay là Giám Mục Chính Tòa Quy Nhơn. Nơi đây còn giữ di tích ngôi mộ của Thánh Anrê Năm Thông, bên cạnh là ngôi mộ của vị Linh Mục con trai Thánh Anrê Năm Thông, ngài cũng chịu chết vì đạo như cha mình. Khi Thánh Anrê Năm Thông bị giải vào Nam để chịu xử án, ngang qua Phan Thiết nơi người con làm Linh Mục đang trú ngụ, ngài đã ra viếng thăm cha mình và khích lệ Thánh Anrê vui lòng hy sinh vì chánh đạo.
Người ta nói với nhau rất nhiều về ngôi mộ của Thánh Anrê Năm Thông, nhiều người mang bệnh nan y bất trị, đến cầu nguyện với Thánh Anrê nơi ngôi mộ này, đã được lành bệnh một cách lạ lùng. Ngôi mộ được mở ra khi khai quật tử thi của Thánh Anrê, ngày nay vẫn mở nguyên như vậy, bên trong mộ cát đùn lên và luôn có một mạch nước trong vắt trên bề mặt cát.
Làng Sông là nơi xây dựng Chủng Viện đầu tiên của Giáo Phận Đàng Trong mà trong bài trước chúng ta có đề cập đến. Một trong các di tích quan trọng để lại trong khuôn viên Chủng Viện Làng Sông là một nhà in mang tên Làng Sông Ấn Quán. Ngay từ đầu thế kỷ 19 nhiều sách đã được in và phát hành bởi Làng Sông Ấn Quán này. (Ảnh chụp cây nhiều nhánh ở Nước Mặn, tượng trưng cho Giáo Phận Đàng Trong ).
Trong các cuộc hội thảo khoa học, cụ thể là cuộc hội thảo mới nhất gấn đây (tháng 1 năm 2016) được tổ chức ở Bình Định, đã có nhiều bài tham luận đánh giá cao về nhà máy in này trong sự nghiệp đóng góp cho việc sáng tạo và xây dựng chữ Quốc Ngữ. Một cuộc cách mạng cho ngôn ngữ Việt Nam. Chúng ta biết rồi, nhờ chữ Quốc Ngữ mà chúng ta có phương tiện mở mang và nâng cao kiến thức, thoát khỏi dạng chữ tượng hình, đồng thời đủ phương tiện để diễn tả các ý niệm trong mọi lãnh vực, rất dễ tương tác với nhiều ngôn ngữ khác.
Gò Bồi, nơi đây vừa xây dựng và trùng tu xong ngôi đền thờ kính Thánh Stephano Cuénot Thể, địa danh Vĩnh Thạnh, Gò Bồi, Tuy Phước, Bình Định. Thánh Cuénot Thể, Giám Mục Giáo Phận Đàng Trong ( 1835 – 1861 ), chính ngài đặt tòa Giám Mục Đàng Trong tại Gò Thị, quê hương của Thánh Anrê Năm Thông. Truyền giáo là tâm huyết dặc biệt của vị Giám Mục này, ngài đã sai rất nhiều người lên miền Tây Nguyên để rao giảng Tin Mừng cho người dân bản địa nơi đây. Công cuộc loan báo Tin Mừng của “Thầy Sáu Phanxicô Nguyễn Do” kết quả là Giáo Phận Kon Tum ra đời, chính là đã khởi đầu bằng lệnh truyền Sai Đi của Thánh Cuénot Thể ( 1848 ).
Ngôi đền được xây dựng ( 1935 ) tại chỗ ngài bị bắt ( 28.10.1861 ), là nhà của Tôi Tớ Chúa, bà Maria Mađalêna Huỳnh Thị Lưu, Đức Cha đã dâng Thánh Lễ cuối cùng tại đây trước khi bị bắt, họ giải ngài về Bình Định đi ngang qua Nước Mặn. Ngài đã chết rũ tù, nhưng khi có án từ Huế vào, người ta đã đào mả ngài lên để thi hành án, lấy xác phân thây, thả trôi sông.
Ngay cửa chính của đền, chúng ta bắt gặp được một chi tiết rất đắt giá mà những người làm công việc trùng tu còn giữ lại, đó là cái ngạch cửa. Cái ngạch cửa dùng để nối hai chân cột lại chống lực đẩy do sức nặng của nhà làm giãn hai chân cột ra. Đây là một chi tiết kiến trúc cổ của mọi ngôi nhà Việt, nó không chỉ giữ vai trò chịu lực như phân tích ở trên, nhưng nó còn là một nét văn hóa Việt nữa.
Ngôi nhà của người Việt dành riêng gian giữa để thờ kính ông bà tổ tiên. Cái ngạch cửa là ranh giới phân định nội thất và ngoại thất của ngôi nhà, khi bước đến cái lằn ranh ấy, người khách được cái ngạch cửa nhắc là đã bước đến giới hạn giữa ngoài và trong, việc đầu tiên là phải cúi đầu thi lễ với chủ nhà là ông bà tổ tiên của họ, cái ngạch cửa buộc người khách phải cúi xuống thận trọng bước qua nếu không muốn vấp ngã !
Ngạch cửa 

Luật pháp được xây dựng để giúp người ta hiểu, nhắc người ta nhớ, gìn giữ cho kỷ cương trật tự được thi hành. Luật không phải để rình bắt, quy chụp và rào kín, giới hạn quyền tự do. Không xây dựng luật, hoặc làm luật không minh bạch rồi đổ lỗi là người ta thiếu ý thức thì thật tồi tệ và không lương thiện. Cái ngạch cửa rất rõ ràng và minh bạch, mang đậm nét văn hóa tinh tế và hiệu quả như thế, vậy mà ngày nay người ta coi thường và vất bỏ oan uổng.
Một vài suy nghĩ ghi lại nhân chuyến viếng thăm Giáo Phận Quy Nhơn trong giai đoạn chuẩn bị Năm Thánh mừng 400 năm Tin Mừng đến Quy Nhơn.



Được tạo bởi Blogger.