VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM
ĐỒNG HÀNH CÙNG DÒNG VĂN HỌC DÂN TỘC


Đó là nhận xét của Thầy Micae Bùi Công Thuấn – UV lý luận phê bình Hội Nhà Văn Việt Nam, thay mặt Ban Văn hóa Giáo Phận Xuân lộc công bố giải và nhận xét các tác phẩm đạt giải Văn Hóa Đất Mới năm 2017.



Nhằm mục đích nghiên cứu các mối liên hệ đa dạng về Đức Tin và Văn Hóa, đối thoại giao lưu Văn Hóa để tìm ra những phương cách Hội nhập Văn Hóa và diễn tả Tin Mừng trong môi trường văn hóa. Đúng vào ngày 11 tháng 11 hằng năm, Ban Văn hóa Giáo phận Xuân Lộc đều tổ chức công bố và khen thưởng các nhà văn nói chung và nhà văn Công giáo nói riêng, về các sáng tác văn thơ.


Được biết đối tượng dự thi Văn Hóa Đất Mới của Giáo phận, đều không phân biệt tôn giáo, trong hay ngoài giáo phận. Chỉ có một điều cần thiết đó là nhiệt tâm với việc xây dựng văn hoá sự sống và tình thương. Nhờ đó mà Văn Hóa Đất Mới đã phát triển không ngừng, không chỉ các nhà văn Công giáo tham gia, mà ngay cả những nhà văn không cùng niềm tin, cũng đồng hành cùng dòng văn học Công giáo.

Tại buổi tổng kết Văn Hóa Đất Mới năm 2017, Thầy Micae Bùi Công Thuấn – UV lý luận phê bình Hội Nhà Văn Việt Nam, thay mặt Ban Văn hóa Giáo Phận Xuân lộc đã nói lên hướng đi của mình, đó là: “Phải làm sao đó hướng văn học Công Giáo phải chảy theo dòng chảy của văn học dân tộc, từ đó tới nguồn tận cùng của Tin Mừng”.

Quả thật khi đi ngược dòng lịch sử, chúng ta đều thấy Công giáo tuy có lúc thăng trầm của thời cuộc, nhưng nhìn chung Công giáo luôn đập chung nhịp tim của dân tộc. Công giáo được xem là cầu nói Đông Tây giữa Việt Nam với các nước phương Tây. Những đóng góp của Công giáo đối với văn hóa Việt Nam, không thể nào chúng ta phủ nhận được. Từ hội nhập văn hóa, các công trình kiến trúc, chữ quốc ngữ hay các vấn đề an sinh xã hội...., đặc biệt là dòng văn học Công giáo.

Nếu dòng văn hóa, văn học dân tộc phát triển, mà vắng bóng của Công Giáo, thì sẽ là một trong những mất mát lớn. Các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, đang cố gắng xác định vị thế của Công giáo trên chiều dài của văn hóa, văn học Việt Nam.

Nhìn vào chiều dài của dòng văn học dân tộc, nếu tính theo Lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, từ thế kỉ XVI đến nay. Thì đã có biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ Công giáo với những tác phẩm kiệt tác, đóng góp cho dòng văn học dân tộc. Chẳng hạn: Alexandre de Rhodes, Gioan Thanh Minh, Raphael Đắc Lộ, Thầy cả Lữ Y Đoan, Phạm Văn Minh, Trần Lục, Nguyễn Trường Tộ, Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Hồ Zếnh, Hàn Mặc Tử, Bàng Bá Lân…

Đối với giới nghiên cứu khoa học ngày nay, thì có PGS. TS Nguyễn Hồng Dương đã xuất bản biết bao nhiêu công trình nghiên cứu về Công giáo, chẳng hạn: “Công Giáo trong văn hóa Việt Nam”, “Những Nẻo “Đường Phúc Âm Hóa Công Giáo Ở Việt Nam”, “Công Giáo Việt Nam Đối Với Phát Triển Bền Vững Đất Nước”....

Các tác phẩm của Văn Hóa Đất Mới (Giáo Phận Xuân Lộc), được xem là một trong những nhân chứng sống động của nền văn học Công Giáo Việt Nam. Đặc biệt các tác phẩm của Song Nguyễn – Đức Cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh (Nguyên Giám mục Giáo phận Xuân Lộc) trong Tủ sách Đời Dâng Hiến đã được giới thiệu đến bạn đọc, cụ thể:

1. Song Nguyễn (2009), Một Đời Dâng Hiến, Nhà xuất bản Tôn Giáo
2. Song Nguyễn (2009), Đất Mới, Nhà xuất bản Tôn Giáo
3. Song Nguyễn (2010), Đồng Hành, Nhà xuất bản Tôn Giáo
4. Song Nguyễn (2011), Định Hướng, Nhà xuất bản Tôn Giáo
5. Song Nguyễn (2011), Chuyến Xe Về Trời, Nhà xuất bản Tôn Giáo
6. Song Nguyễn (2011), Còn Một Niềm Tin, Nhà xuất bản Tôn Giáo
7. Song Nguyễn (2011), Suối Nguồn, Nhà xuất bản Tôn Giáo
8. Song Nguyễn (2012), Người Cha Hiền, Nhà xuất bản Tôn Giáo
9. Song Nguyễn (2012), Người Mẹ Hiền, Nhà xuất bản Tôn Giáo
10. Song Nguyễn (2013), Chỉnh Hướng, Nhà xuất bản Tôn Giáo
11. Song Nguyễn (2013), Đồng Cỏ Xanh, Nhà xuất bản Tôn Giáo

Qua các tác phẩm của Văn Hóa Đất Mới nói chung, Tủ sách Đời Dâng Hiến của Song Nguyễn nói riêng, đã phần nào góp phần vào nền văn hóa, văn học của dân tộc.

Văn hóa Công Giáo Việt Nam vẫn có đó, văn học Công giáo cũng đang hiện diện. Một thực tế cho thấy Văn hóa Công Giáo chưa được chú trọng và nghiên cứu, nếu không muốn nói là xem thường.

Trước tiên về các công trình của giới nghiên cứu ngoài Công giáo không nhiều, nếu có thì cũng chưa toát hết ý nghĩa mà Công giáo mang lại. Tiếp theo đó là các giới nghiên cứu trong Công Giáo, cụ thể Giáo Hội Việt Nam có 26 giáo phận, tuy các giáo phận đều có ban văn hóa. Nhưng vì lí do cá nhân, đa số các giáo phận chủ yếu hoạt động một cách độc lập. Cho đến ngày hôm nay, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chưa có tập san Văn Hóa Công Giáo chính thức, không phải vì không đủ khả năng nghiên cứu, nhưng còn một số vấn đề còn đem ra bàn luận, để đưa tới sự thống nhất. Đã đến lúc khẳng định và trả lại những gì mà Công giáo đã đóng góp cho văn hóa Việt Nam nói chung, dòng văn học dân tộc nói riêng. Xin đừng nhìn Công Giáo với nhã quan phiến diện một chiều.

Tóm lại khi nhắc đến văn học là đề cập phạm vi luân lí. Với chiều dài tồn tại trên mãnh đất hình chữ S này, tuy hình thành một nền văn hóa, văn học riêng, mang màu sắc tôn giáo của mình. Dù vậy, Công Giáo không tách rời khỏi dòng chảy và sự phát triển chung của nền văn hóa-văn học Việt Nam. Bởi thế hai bên cộng hưởng với nhau, bổ sung cho nhau. Nếu dòng văn học Công Giáo Việt Nam muốn đạt tới nền văn học viên mãn đó là Tin Mừng, thì phải đồng hành cùng nền Văn học dân tộc. Còn nền văn học dân tộc muốn tiến tới nền văn học sự thật thật sự, thì phải có nền văn học Công giáo.

Tôi xin mượn Thư chung năm 1980 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, số 09 để kết luận bài viết của mình: “Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Công đồng dạy rằng “Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới” (MV 40,2). Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa.

Sự gắn bó hoà mình này đưa tới những nhiệm vụ cụ thể mà chúng ta có thể tóm lại trong hai điểm chính:

- Tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc.

- Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc”.

Fx. Cao Dương Cảnh

Nguồn: http://gpcantho.com/ViewDetailNews.aspx?IdView=11620

Anh chị em thân mến,
Từ ngày 9 đến 13 tháng 10 năm 2017, Hội đồng Giám mục Việt Nam họp Hội nghị thường niên, kỳ II, tại Toà Giám mục Thanh Hoá. Chúng tôi gửi đến anh chị em lời chào thân ái, “xin Thiên Chúa là Cha chúng ta và Chúa Giêsu Kitô ban cho anh chị em ân sủng và bình an” (Pl 1, 2).



1- Từ những chia sẻ của các giáo phận cũng như các Uỷ ban trực thuộc Hội đồng Giám mục, chúng tôi vui mừng trước những hoa trái mục vụ theo định hướng đã đề ra cho năm 2017, là “chuẩn bị cho các bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân”. Việc học giáo lý hôn nhân được chú trọng hơn tại các giáo xứ; nhiều sáng kiến được áp dụng để giúp các bạn trẻ khám phá vẻ đẹp, sự cao quý và tầm quan trọng của hôn nhân Kitô giáo; mục vụ hôn nhân cũng là đề tài của các cuộc thường huấn linh mục ở cấp giáo phận cũng như giáo tỉnh. Chúng tôi cám ơn những cố gắng của anh em linh mục, các tu sĩ, giáo lý viên và các bạn trẻ trong lãnh vực này. Hy vọng những nỗ lực đó sẽ được tiếp tục, hầu giúp các bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân cách vững vàng hơn.
2- Trong năm 2018, chúng tôi đề nghị anh chị em tiếp tục quan tâm đến Mục vụ gia đình, với điểm nhấn làđồng hành với các gia đình trẻ.
Mặc dù có nhiều thách đố và khó khăn trong đời sống gia đình, vẫn có những chứng từ tốt đẹp nơi nhiềucặp vợ chồng trẻ Công giáo. Họ chấp nhận những hy sinh lớn lao, vượt qua mọi khó khăn thử thách để sống trung thành với giao ước hôn nhân. Nhiều cặp vợ chồng đã can đảm giữ mầm sống trong mọi hoàn cảnh. Có những đôi bạn chấp nhận tình trạng son sẻ suốt đời, vượt qua cám dỗ muốn sử dụng những phương pháp trợ giúp Giáo Hội không cho phép, đồng thời đón nhận và thực thi tình phụ mẫu thiêng liêng qua việc đảm nhận những hoạt động tông đồ, bác ái xã hội với lòng nhiệt thành hân hoan. Nhiều bậc cha mẹ dù nghèo về kinh tế, vẫn cố gắng chu toàn bổn phận chăm lo cho con cái được giáo dục toàn diện về thể dục, trí dục, cũng như đức dục và tâm linh.
Tuy vậy, phải nhìn nhận rằng do ảnh hưởng trào lưu hưởng thụ, sống ảo, sống gấp và quan niệm lệch lạc về hôn nhân, một số không nhỏ những tiêu cực vẫn tồn tại và có nguy cơ phát triển, ngay trong cộng đồng Công giáo như: phá thai, sống thử, kết hợp đồng tính, ly dị, lựa chọn giới tính. Những hiện tượng này đang làm mất đi những giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam, đi ngược lại với ý muốn của Đấng Tạo hoá, để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ mới.
3- Dựa trên tình hình thực tế đã nêu trên, chúng tôi mời gọi các gia đình trẻ hãy trân trọng giữ gìn và phát huy giá trị của hôn nhân Công giáo. Chúng tôi cũng mời gọi các mục tử và mọi thành phần Dân Chúa đồng hành và giúp đỡ các gia đình xây dựng hạnh phúc.
Trong Tông huấn Niềm vui của tình yêu, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói đến những nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia đình đổ vỡ. Đó là kỳ vọng quá cao về đời sống hôn nhân, sự thu hút ban đầu qua đi, cùng với những khó khăn mới mà đôi bạn chưa được chuẩn bị để đối diện. Ngoài ra, còn phải nói đến tác động của bối cảnh văn hoá xã hội ngày nay, đề cao tự do cá nhân hơn hạnh phúc gia đình, đo lường tình yêu dựa vào những tiêu chuẩn vật chất và hưởng thụ hơn là những giá trị tinh thần. Vì vậy, trước những khó khăn trong đời sống hôn nhân, nhiều đôi bạn trẻ coi ly dị, phá thai là giải pháp tối ưu thay vì cố gắng vượt qua để bảo vệ hạnh phúc gia đình.
Chính vì thế, đồng hành với các gia đình trẻ là yếu tố quan trọng trong Mục vụ gia đình. Mục vụ hôn nhân không chỉ dừng lại ở khoá chuẩn bị nhưng phải đồng hành với các đôi vợ chồng trẻ trong những năm tiếp theo, bằng cách giúp họ hiểu rằng: (1) Hôn nhân là một hành trình dài, trong đó mỗi người phải gạt đi những ảo tưởng để đón nhận bạn đời của mình như họ là, cùng nhau nên hoàn thiện hơn mỗi ngày; (2) Hành trình này đòi hỏi sự kiên nhẫn, hiểu biết, hy sinh và quảng đại; (3) Hành trình đó giúp đôi bạn đào sâu và làm phong phú hơn quyết định của họ khi bước vào đời sống hôn nhân (Niềm vui của tình yêu, số 223).
4- Các linh mục và các cộng đoàn giáo xứ đóng vai trò quan trọng trong việc đồng hành này, cụ thể qua những việc sau:
– Cổ võ việc cầu nguyện chung trong gia đình, năng tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận các bí tích;
– Tổ chức những buổi tĩnh tâm cho các đôi vợ chồng trẻ;
– Tổ chức thánh lễ nhân dịp kỷ niệm hôn phối, để tạ ơn Chúa và cầu nguyện cho đời sống gia đình;
– Tổ chức những buổi nói chuyện về đề tài cụ thể như: sinh sản và giáo dục con cái, những vấn đề thường gặp sau khi kết hôn, cách giải quyết xung đột trong gia đình;
– Chia sẻ kinh nghiệm của các đôi vợ chồng đi trước, đặc biệt gương sáng và kinh nghiệm của cha mẹ đôi bên có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với các gia đình trẻ;
– Sinh hoạt nhóm nhỏ theo mô hình “cộng đoàn Giáo Hội cơ bản”, ở đó các gia đình trẻ có thể chia sẻ và nâng đỡ nhau cách cụ thể.
Chúng tôi ước mong các đoàn thể tông đồ quan tâm nhiều hơn đến các gia đình trẻ, có những hoạt động thích hợp để quy tụ và đồng hành với họ trong những năm đầu đời của sống hôn nhân, những năm ngập tràn hạnh phúc nhưng cũng không ít thử thách.
5- Nhân dịp này, chúng tôi muốn hướng anh chị em tới một gia đình lớn hơn là Giáo Hội Công giáo Việt Nam, trải dài trong suốt bề dày lịch sử truyền bá đức tin. Năm 2018, chúng ta sẽ kỷ niệm 30 năm Toà Thánh nâng 117 vị Tử đạo lên hàng hiển thánh. Đây là một dấu son trong lịch sử và là niềm tự hào của Giáo Hội Việt Nam. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo Hội những chứng nhân anh dũng, dám sống mầu nhiệm hạt lúa được gieo vào lòng đất, chấp nhận chết đi để mang lại nhiều hoa trái (x. Ga 12,23-25). Thật vậy, trong lễ phong thánh tại Rôma, ngày 19-6-1988, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhắn nhủ: “Hỡi các Kitô hữu Việt Nam, chúng tôi có thể nói rằng máu Các Thánh Tử Đạo là cho anh chị em, là nguồn ân sủng để tăng trưởng đức tin. Nơi anh chị em, đức tin của cha ông chúng ta tiếp tục được thông truyền cho những thế hệ mới. Đức tin này là nền tảng giúp cho anh chị em, vừa trung thành với quê hương Việt Nam, vừa tiếp tục là những môn đệ đích thực của Đức Kitô”.
Kỷ niệm biến cố phong Thánh Tử Đạo là dịp để chúng ta ôn lại đời sống chứng nhân của các ngài, noi gương các ngài, sống tinh thần Phúc Âm trong mọi hoàn cảnh, cộng tác phần mình xây dựng một Giáo Hội vững mạnh và một xã hội công bằng và nhân ái. Để kỷ niệm biến cố quan trọng này, chúng tôi sẽ bàn thảo và đưa ra những đề nghị, nhằm hướng tới một chương trình bao gồm cử hành, học hỏi và sống đức tin. Cử hành để tạ ơn Chúa, tôn vinh các bậc Tiền Nhân và xin các ngài bầu cử cho Giáo Hội và Quê Hương; học hỏi để hiểu biết cuộc đời và ý nghĩa sự hy sinh cao cả của các ngài; sống đức tin theo gương các Thánh Tử Đạo là những người trước khi chết vì Đạo thì đã sống cho Đạo, đạo làm người và Đạo làm con cái Chúa.
6- Anh chị em thân mến, chúng tôi kết thúc Hội nghị này vào đúng ngày 13 tháng 10 năm 2017, kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. Sứ điệp Fatima vẫn mang tính thời sự và cần thiết cho Giáo Hội ngày nay. Ước gì mỗi người, mỗi gia đình Công giáo Việt Nam biết đón nhận và sống sứ điệp ấy cách cụ thể: Sám hối, canh tân đời sống theo tinh thần Phúc Âm; Lần chuỗi Mân Côi để theo gương Mẹ, bước đi trên đường theo Chúa; Tôn sùng Trái tim Mẹ để tâm hồn chúng ta nên giống Đức Mẹ, chan chứa tình yêu và lòng thương xót. Nhờ Mẹ và với Mẹ, chúng ta hãy đem tinh thần Phúc Âm vào đời sống gia đình cũng như xã hội, góp phần xây dựng nền văn minh tình thương và sự sống trên quê hương đất nước chúng ta.
Nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ Fatima và các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin Chúa chúc lành cho anh chị em.
Làm tại Toà Giám mục Thanh Hoá, ngày 13 tháng 10 năm 2017
+ Giuse Nguyễn Chí Linh
Tổng Giám mục Huế
Giám quản Giáo phận Thanh Hoá
Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam
+ Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Giám mục Giáo phận Mỹ Tho
Tổng Thư ký



Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli (thứ hai từ phải sang) chuẩn bị chủ tế Thánh lễ khai mạc
Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc hôm 13-8 tại Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang.

Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli bảo các “Caesar Việt Nam” hãy trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa

Vị đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam vừa kêu gọi chính quyền Việt Nam hãy tôn trọng quyền tự do tôn giáo trước đám đông khách hành hương tại La Vang.

Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, đại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam, đã chủ tế Thánh lễ khai mạc Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc lần thứ 31 tại Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang ở tỉnh Quảng Trị.


Trong bài giảng của mình, Đức Tổng giám mục Girelli nói về tình hình tự do tôn giáo ở quốc gia này.

“Trong một số tỉnh Việt Nam, các nhà chức trách đang quan ngại và trách cứ những người Công giáo và các sinh hoạt của người Công giáo”, ngài nói trong Thánh lễ có Đức Tổng giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh của Tổng giáo phận Huế, chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam, Đức Hồng y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn của Tổng giáo phận Hà Nội, 13 giám mục khác và 200 linh mục cùng đồng tế.

Đức cha Girelli khuyên khách hành hương nên noi theo lẽ khôn ngoan của Thánh Phêrô là “Chúng tôi phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm” và câu nói của Chúa Giêsu “Của Cesar trả về Cesar, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa”.

“Tôi muốn ngỏ lời với các Cesar Việt Nam: Hãy trả về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa” – ngài nói và cộng đoàn đáp lại bằng những tràng pháo ta vang dội.

Đức Tổng giám mục Girelli nói rằng nhiều người trên thế giới ước mong rằng quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam phải được tôn trọng hơn, phải được thực thi đầy đủ hơn, và Hội Thánh Công giáo phải được nhìn nhận như một nguồn thiện ích hơn là một vấn nạn cho đất nước.

Ngài mời gọi cộng đoàn hãy dành thời gian để cầu nguyện trong những ngày diễn ra đại hội để họ có thể cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của họ.

“Chỉ khi dõi bước theo Chúa Giêsu và ở lại trong Người, chúng ta mới thực sự hạnh phúc” – ngài nói.

Đức Tổng giám mục Girelli trú ở Singapore thường có các chuyến thăm mục vụ đến các giáo phận ở Việt Nam, mỗi chuyến chỉ kéo dài một tháng. Tất cả các hoạt động của ngài phải được chính phủ Việt Nam thông qua.

Hồi tháng Hai, nhà chức trách đã không cho ngài đến tham dự Thánh lễ Tạ ơn ở tỉnh Hà Tĩnh mừng Chân phước John Baptist Malo (1899-1954), một thừa sai thuộc Hội truyền giáo hải ngoại Paris.

Ước tính có khoảng 100.000 khách hành hương kể cả những người thuộc các tôn giáo khác đến từ khắp cả nước và hải ngoại đã tham dự đại hội ba ngày mừng lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ngày 15-8.

Trong những ngày đại hội, khách hành hương tham dự các thánh lễ, xưng tội, lần chuỗi, cầu nguyện Lòng Thương xót Chúa và diễn nguyện.

Đại hội Thánh mẫu lần đầu được tổ chức tại thánh địa này năm 1901.

Sau khi chính quyền trả lại 13 hecta đất quanh thánh địa năm 2008, Giáo hội đang xây dựng các công trình mới trong đó có một vương cung thánh đường có sức chứa 5.000 chỗ ngồi.

Đức Mẹ được tin là đã hiện ra tại La Vang năm 1798 để an ủi những người Công giáo bị bách hại. Năm 1961, các giám mục Việt Nam đã tuyên bố thánh địa là trung tâm hành hương toàn quốc.

(UCAN 17.08.2017) conggiao.info





Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt

“Chính quyền nghĩa là quyền chính đáng công khai hay là công quyền của người dân, phải có tính cách quang minh chính đại. Bây giờ người ta dùng côn đồ, dùng lực lượng đen tối là những lực lượng ở ngoài pháp luật. Nếu hai lực lượng giống như là ánh sáng và bóng tối nhưng chính người ta lại hợp tác với nhau thì khó coi rồi, mà nó còn lẫn lộn vào nhau thì thật là đáng buồn. Suy thoái đạo đức thật là thê thảm.” Đó là nhận định của Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt qua sự kiện nhà cầm quyền huy động côn đồ, các cán bộ của xã, thị xã và tỉnh cũng như an ninh thường phục, công an, các bà trong Hội Phụ Nữ đến đập phá, tháo dỡ Thánh Giá là biểu tượng thiêng liêng của niềm tin Công Giáo và đánh đập các Đan sỹ Đan viện Thiên An, chỉ vì nhà đương quyền đặt lợi ích chính trị, vật chất, kinh tế, lên trên tất cả các giá trị tâm linh, tinh thần.

ĐTGM Giuse viếng Tượng Chúa ở Thiên An.

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt cũng nhấn mạnh: “Không tôn trọng quyền tư hữu [đất đai] là nguyên nhân sâu xa nhất gây ra những bất ổn xã hội hiện tại ... Không công nhận quyền tư hữu [đất đai] là ổ tham nhũng, hối lộ, bất công và vì thế xảy ra đàn áp, rối loạn cho đất nước”.

Vị Tổng Giám Mục Giuse hơn 60 tuổi không quản ngại đường xá xa xôi đã vượt hơn 640km từ Đan viện Châu Sơn – Ninh Bình đến thăm các Đan sỹ Đan viện Thiên An (ĐVTA), vào ngày 10.06.2017.

Sau chuyến viếng thăm này, ngài đã đồng ý cho Pv. Huyền Trang - Tin Mừng cho Người Nghèo (GNsP) một cuộc phỏng vấn về thực trạng xã hội Việt Nam dưới lăng kính sự kiện nhà cầm quyền chà đạp niềm tin Tôn giáo và hành hung các Đan sỹ ĐVTA.

Xin mời quý vị dõi theo cuộc phỏng vấn của Huyền Trang:

GNsP: Kính thưa Đức TGM Giuse, chúng con được biết vào ngày 10.07, phái đoàn của ngài đã vượt hơn 640km đến thăm và dâng lễ tại ĐVTA. Xin Đức TGM có thể kể cho chúng con nghe về chuyến viếng thăm này?

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt: Trước hết chúng tôi được nghe tin ĐVTA bị tai nạn, chúng tôi luôn ray rứt và muốn đến thăm các anh em. Nhân dịp vừa rồi gần với dịp lễ Thánh Biển Đức là Bổn Mạng của ĐVTA và Đan viện Châu Sơn, chúng tôi đã thu xếp được một số thời gian, quyết tâm đến thăm viếng, chia sẻ, động viên những người anh em của mình.

GNsP: Kính thưa Đức TGM Giuse, nhiều người cho rằng, hình ảnh các Đan sỹ bị đánh đập, đàn áp, biểu tượng Thánh thiêng của niềm tin Công Giáo bị xúc phạm là “bóng dáng của bách đạo thời Văn Thân, triều Nguyễn năm xưa”. Xin ngài cho chúng con nhận xét về ý kiến này?

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt: Khi đi thăm ĐVTA và cho đến khi trở về, cảm giác trong tôi đọng lại là đau và xót. Đau buồn trước hết là Thánh Giá bị đập vỡ. Thánh Giá là biểu tượng cao nhất của Tôn giáo – Đạo chúng ta, là biểu tượng của tình yêu thương, của sự hiền lành khiêm nhường và Lòng thương xót của Thiên Chúa. Với biểu tượng thánh thiêng đẹp như vậy lại bị xúc phạm thì nói lên một điều thật là đáng buồn.

Các Đan sỹ là những người không có một tấc sắt trong tay. Qua những video đã được ghi lại, các thầy rất hiền lành, không có chủ ý đánh ai, không manh động, chỉ bảo vệ Thánh Giá là niềm tin của mình, đó là Thiên Chúa tràn đầy tình yêu thương, Lòng thương xót dâng đầy. Vì thế các Thầy muốn bảo vệ. Thế nhưng tất cả những người đã xúc phạm đến những người hiền lành nhất, đến tình cảm cao quý nhất, thì thật đáng buồn cho xã hội hôm nay.

Tình trạng xót xa vì các giá trị bị đảo lộn, khái niệm bị đảo ngược. Chúng ta thấy những người quan tâm đến thế giới, đến con người, đến đất nước, không khỏi xót xa khi thấy tất cả những điều cao quý nhất của nhân loại, của con người, của đất nước bị xúc phạm như thế.

ĐTGM Giuse viếng Tượng Chúa ở Thiên An.

GNsP: Kính thưa Đức TGM Giuse, ngay sau sự kiện các Đan sỹ ĐVTA bị đàn áp, đánh đập… trên một tờ báo của Hội Thừa sai Paris, Pháp, Đức TGM Giuse Nguyễn Chí Linh đã kể lại sự kiện ĐVTA, ngài còn nêu ra các hiện trạng nhức nhối đã, đang xảy ra tại Giáo Hội VN như: quyền tự do tôn giáo ở VN bị kềm kẹp, thảm họa Formosa, nhiều Kitô Hữu có tiếng nói khác nhà cầm quyền cs bị bắt bỏ tù và trục xuất ra khỏi quê hương… Ngài nhận định ra sao về nội dung bài phỏng vấn đó?

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt: Đức TGM Giuse Linh đã nói tổng quát những băn khoăn, trăn trở của tất cả mọi người không chỉ giới Tôn Giáo, đặc biệt Công Giáo mà còn tất cả của những tâm hồn thành tâm thiện chí đối với những giá trị như tôi vừa nói, bị xúc phạm, bị đảo lộn, bị đảo ngược. Tất cả những ai quan tâm đến thế giới, đến con người, đến Giáo Hội đều phải quan tâm đến những điều này.

Khi đề cập đến những vấn đề của Thiên An có những điều sâu xa hơn và thực sự những người quan tâm lấy làm lo ngại, chẳng hạn như những giá trị bị đảo lộn. Chúng ta vẫn thường có bậc thang giá trị tinh thần cao hơn vật chất. Khi nào vật chất cao hơn tinh thần đó là dấu hiệu suy thoái của xã hội rất đáng ngại. Trong những trường hợp người ta khinh thường những tập tục Tôn giáo, khinh thường những con người hiến thân, điều này nói lên tình trạng đặt vật chất cao hơn tinh thần. Hay xưa nay, người ta vẫn còn đề cao Tôn giáo, kính trọng Tôn giáo, những người tu hành, cũng như những cơ sở Tôn giáo. Khi người ta đề cao tiền bạc, kinh doanh, lợi nhuận. Nếu hai bên không xâm phạm đến nhau thì đã suy thoái rồi. Còn đằng này khi trực diện người ta đặt kinh doanh lợi nhuận để tàn phá Tôn giáo, để làm kinh tế thì phải nói là mức suy thoái nó thê thảm.

Chúng ta phải nói đến khái niệm bị đảo ngược, chẳng hạn như khái niệm về Quốc gia. Quốc gia không phải là cái gì trừu tượng. Ngày xưa chúng ta biểu tượng Quốc gia bằng những từ như đất nước, non sông, là những gì gần gũi thân thương. Quốc gia không phải là một biểu tượng trừu tượng thế nhưng nó là đất, là nước, là sông, là núi. Quê hương gắn liền với Quốc gia sông núi là vẻ đẹp tự nhiên, làm nên vẻ đẹp của Dân tộc. Nếu vì kinh tế mà tàn phá thiên nhiên thì chúng ta tàn phá đất nước. Khi người ta vì kinh tế lợi nhuận mà người ta bán đất, bán rừng thì đó là bán nước rồi. Đó là một hình tượng đất nước cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng mà chúng ta vẫn thường dùng xưa nay.

Đâu là những ý niệm về khái niệm chính quyền. Chính quyền nghĩa là quyền chính đáng công khai hay là công quyền của người dân, phải có tính cách quang minh chính đại. Bây giờ người ta dùng côn đồ, dùng lực lượng đen tối là những lực lượng ở ngoài pháp luật. Nếu hai lực lượng giống như là ánh sáng và bóng tối nhưng chính người ta lại hợp tác với nhau thì khó coi rồi, mà nó còn lẫn lộn vào nhau thì thật là đáng buồn. Suy thoái đạo đức thật là thê thảm.

Do đó, chúng ta cần nhìn vấn đề của Thiên An ở góc độ sâu xa hơn nhiều như vậy, chúng ta mới thấy đáng sợ và đáng báo động cho tương lai của đất nước, cho tương lai Giáo Hội của chúng ta.

Đan viện Thiên An

GNsP: Kính thưa Đức TGM Giuse, sau một chuỗi các sự kiện gần đây xảy ra tại Giáo phận Vinh, Đan viện Thiên An, mà đích thân Đức TGM đã đến thăm, chứng kiến và khích lệ ngài có lời nhắn nhủ gì đến các Cha, các Đan sỹ cũng như bà con Giáo dân?

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt: Trong bài phỏng vấn của Đức TGM Giuse Linh, ngài cũng nói nguyên nhân sâu xa đó chính là không công nhận quyền tư hữu [đất đai], đó chính là cái đã xảy ra những xáo trộn tại đất nước chúng ta. Bởi vì, người ta thống kê tất cả những vụ xáo trộn tại đất nước đến 77% là đất đai. Không công nhận quyền tư hữu [đất đai] là ổ tham nhũng, hối lộ, bất công và vì thế xảy ra đàn áp, rối loạn cho đất nước. Nếu chúng ta ý thức được vấn đề thì những người tâm huyết, những người thực sự có lòng yêu nước phải giải quyết các vấn đề đó, dù có đụng chạm, đến đâu, đến ai. Vì tương lai và vì những điều tốt đẹp cho dân tộc, cho đất nước thì thấy những điều sai sót phải giải quyết. Không tôn trọng quyền tư hữu [đất đai] là nguyên nhân sâu xa nhất gây ra những bất ổn đất đai hiện tại.

Cho nên chúng tôi hy vọng tất cả mọi người cùng góp ý nhất là những người có quyền trong Quốc hội làm sao phải thay đổi, sửa đổi Luật về đất đai để tôn trọng quyền tư hữu [đất đai] của con người. Có như thế mới có thể khắc phục những rối loạn đang xảy ra cho đất nước chúng ta. Qua những vấn đề đất đai là mồi cho tham nhũng, hối lộ, đàn áp, bất công. Bởi vì, nếu muốn xây dựng xã hội, cần xây trên nền tảng vững vàng, dựa trên định luật chung của con người, nên quyền tư hữu [đất đai] là quyền không thể nào chối bỏ được. Còn nếu chúng ta chỉ xây dựng xã hội trên vật chất, trên ý thức hệ, dùng tất cả mọi thủ đoạn để bảo vệ những sai trái của mình thì xã hội đó không tốt và chắc chắn nó sẽ không vững bền được. Vì thế, tôi mong muốn làm sao tất cả mọi người cùng hiểu biết vấn đề và cùng giải quyết vấn đề thực sự nó như thế.

Tôi rất ấn tượng hình ảnh các Đan sỹ ôm lấy cây Thánh giá, bảo vệ Thánh giá bất chấp tất cả những bạo lực ở xung quanh. Đó là một biểu tượng đẹp của các giá trị. Lời cuối tôi cũng mong sao cho đất nước, xã hội của chúng ta tôn trọng những giá trị cao đẹp của Tâm linh, Tôn giáo và Dân tộc vì khi xã hội được xây dựng trên những giá trị cao đẹp mới có thể bền vững. Còn chúng ta không xây dựng trên những giá trị cao đẹp thay vào đó là những giá trị quá tầm thường thì sẽ mau chóng tàn lụi. Cho nên chúng ta phải luôn luôn xây dựng xã hội trên những giá trị cao quý như là Tôn giáo, Sự thật, Công lý. Mấu chốt của tất cả mọi rắc rối trong xã hội VN hôm nay là quyền tư hữu [đất đai] không có. Thế thì mọi người cùng nhận thức vấn đề và cùng quyết tâm sửa sai cũng như làm lại một nền tảng vững chắc là điều mà tôi mong muốn. Như thế đất nước chúng ta sẽ vững vàng và những giá trị Tôn giáo được đề cao, những giá trị tâm linh tinh thần mới có thể phát huy thì con người mới có thể sống cao quý được.

GNsP: Chúng con xin chân thành cám ơn và kính chúc sức khỏe ngài.

(Huyền Trang - GnsP)




Linh mục Alexandre De Rhodes

Khi đọc những dòng chữ Việt ngữ này, là bạn đang chiêm ngưỡng tác phẩm của các linh mục thừa sai Dòng Tên gồm các cha Gaspar De Amaral, cha Antonio Barbosa, cha Francisco De Pina và cha Alexandre De Rhodes, tất cả họ đều là tác giả của quốc ngữ mà người Việt ta đang sử dụng hàng ngày.

Với linh mục Gaspar De Amaral, cha đã soạn cuốn từ điển Việt – Bồ. Với linh mục Antonio Barbosa, cha soạn cuốn từ điển Bồ – Việt. Với linh mục Francisco De Pina, được cho là cha đã dựa vào cách phát âm tiếng Bồ để chuyển tự ghi chép tiếng Việt khi ông vào Đàng Trong (Từ sông Gianh trở vào Nam). Nhưng các cha đều mất khá sớm, tuy vậy, cùng với một số linh mục khác trong giai đoạn tiên khởi này, các cha đã giúp đặt nền móng đầu tiên cho quốc ngữ Việt Nam.

Với linh mục Alexandre De Rhodes, thì cha đã dựa vào hai công trình từ điển nêu trên và bổ sung thêm phần La tinh để hình thành nên cuốn từ điển Việt – Bồ – La. Thực tế, chính việc bổ sung phần La tinh của cha Alexandre De Rhodes đã trở thành đóng góp quan trọng bậc nhất giúp hình thành nên chữ viết theo lối La tinh mà sau đó nhanh chóng trở thành quốc ngữ Việt Nam.
Đánh giá về vai trò của linh mục Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh nên quốc ngữ Việt Nam, tờ Nguyệt San MISSI do các linh mục Dòng tên người Pháp quản lý đã từng viết nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông, đại lược như sau: “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre De Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”.
Quả vậy, khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách in quyển từ điển và các sách đầu tiên bằng chữ quốc ngữ tại nhà in Vatican – Roma, thì cha Alexandre De Rhodes đã giải phóng cho nước Việt Nam về chữ quốc ngữ.

Bởi lẽ trước đó, tương tự như Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên), thì người Việt Nam sử dụng lối chữ viết tượng hình, biểu ý của người Tàu hoặc chữ nôm do tự sáng chế và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Cao Ly mới chế biến ra chữ viết riêng của họ, nhưng vẫn không theo cách viết La tinh nên bị hạn chế nhiều. Còn người Nhật Bản thì sau nhiều lần thử nghiệm chế biến lối chữ viết khác, nhưng cuối cùng đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình, biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, chính người Tàu dưới chế độ cộng sản của Mao Trạch Đông cũng đã từng tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre De Rhodes, đã tiến bộ trước người Tàu đến hơn ba thế kỷ rưỡi (1651 – 1017 – tính từ năm in cuốn từ điển Việt – Bồ – La đến thời điểm hiện nay.

Từ điển Việt-Bồ-La
Từ điển Việt-Bồ-La

Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Alexandre De Rhodes khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, chính cha Alexandre De Rhodes là người hệ thống hóa, hoàn tất công trình làm ra chữ quốc ngữ thành công vào năm 1651, tức là năm mà cuốn tự điển Việt – Bồ – La chào đời tại nhà in Vatican – Roma.

Thế nên, chính tại nhà in Vatican ở Roma là nơi mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình, và chính năm 1651 cũng là năm khai sinh chính thức của chữ quốc ngữ Việt Nam.

Theo đó, chữ viết theo lối La tinh ban đầu được các nhà truyền giáo đặt nền móng cho việc sử dụng trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đến khi được người dân Việt Nam chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, thì mặc nhiên nó đã tự mình được nâng cấp thành chữ quốc ngữ.

Ghi nhận công nghiệp của cha Alexandre De Rhodes đối với xứ sở, năm 1941, một tấm bia kỷ niệm nhân ngày sinh nhật thứ 350 của cha đã được dựng ở gần bên bờ Hồ Gươm trước cửa đền bà Kiệu – Hà Nội. Đến năm 1957, khi Hà Nội thuộc sự quản lý của chính quyền Cộng Sản thì bia đã bị gỡ bỏ.
Chính quyền Sài Gòn cũ đặt tên ông cho một con đường tọa lạc trước mặt Dinh Độc Lập, nay là Dinh Thống Nhất, đối xứng với phía bên kia là đường Hàn Thuyên, tên danh sĩ được ghi nhận có công phát triển và phổ biến lối chữ Nôm. Sau năm 1975, chính quyền cộng sản đổi tên đường thành Thái Văn Lung và bây giờ thì đã trả lại tên cũ là Alexandre De Rhodes cho con đường này.

Về tiểu sử: Nguyên, cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) sinh ngày 15/03/1591 (hay 1593?) tại vùng Avignon, miền nam nước Pháp. Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tị nạn ở vùng Avignon là đất của Giáo Hoàng. Ông gia nhập Dòng Tên tại Roma năm 1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển mạnh mẽ.

Đầu năm 1625, cha Alexandre De Rhodes đến Việt Nam bắt đầu từ Hội An. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha. Nhưng cuộc đời truyền giáo của cha ở đây rất gian nan, trong vòng 20 năm, cha bị trục xuất đến sáu lần. Đến năm 1645, cha bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Cha mất ngày 5/11/1660 ở Iran, thọ 69 tuổi.

Hiện nay, ở Việt Nam đã từng xuất hiện ý kiến phủ nhận công lao đóng góp của cha Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh chữ quốc ngữ, một trong số họ nêu quan điểm: “Alexandre De Rhodes làm sách bằng chữ quốc ngữ là để phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo, chứ tuyệt đối không vì bất cứ một lợi ích nhỏ nhoi nào của người Đại Việt cả. Người Việt Nam đã tận dụng chữ quốc ngữ, mà một số cố đạo đã đặt ra, với sự góp sức của một số con chiên người Đại Việt, để làm lợi khí cho việc giảng đạo, thành lợi khí của chính mình để phát triển văn hóa dân tộc, để chuyển tải một cách đầy hiệu lực những tư tưởng yêu nước và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện ‘gậy ông đập lưng ông’ mà thôi”. [1]

Riêng đối với công chúng, thì:
– Lối chữ viết đã trở thành quốc ngữ của xứ sở với chín mươi triệu đồng bào cả trong và ngoài nước cùng sử dụng;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện những dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ thuở hồng hoang đến nay;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện lời ru “Ầu ơ …” ân cần của mẹ từ ngày sinh ra ta làm kiếp người;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện sự yêu thương giữa những thành viên trong gia đình, giữa những đôi tình nhân, giữa những người tri kỷ …
– Lối chữ viết được dùng thể hiện ca từ những nhạc phẩm bất tử như Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng, Trưng Nữ Vương, Lòng mẹ, Tình ca …
– Lối chữ viết mà dân ta có thể tự hào là riêng biệt trong khi rất nhiều quốc gia khác, kể cả nhiều cường quốc vẫn còn phải vay mượn (Úc, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Nhật Bản, Đại Hàn …);

Thì người khai sinh của lối chữ viết ấy chắc chắn phải là ÂN NHÂN của xứ sở mình, bất kể đến quốc tịch của họ, bất kể đến tôn giáo của họ và bất kể đến động cơ của họ khi khai sinh lối chữ ấy!

Và với chế độ:
– Lối chữ viết được Ông Hồ Chí Minh dùng để viết lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh chế độ;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện Hiến pháp quy định sự độc tôn chính trị của Đảng Cộng Sản;
– Lối chữ viết được dùng trong tất cả mọi sinh hoạt chính trị, hành chính, xã hội, kinh tế, giáo dục, văn hóa …
– Lối chữ viết mà hơn 700 tờ báo của chế độ đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 24.000 vị tiến sĩ khoa bảng quốc gia đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 400 trường Đại học, cao đẳng các loại và hàng vạn trường học các cấp đang dùng;
Nhưng lại không mấy ai trong số họ nhắc đến ngày sinh nhật của cha Alexandre De Rhodes, người có công khai sinh lối chữ viết mà nghiễm nhiên đã là quốc ngữ của xứ sở, như là một trong những ân nhân của dân tộc này thì thật là đáng thất vọng!

Tôi tin rằng, xứ sở này nợ ông ấy lời tri ân!




Hội đồng Giám mục Việt Nam đã gửi đến Quốc Hội Việt Nam khoá XIV một số nhận định và suy nghĩ về “Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016”… Xin gửi đến tất cả anh chị em, để tất cả chúng ta cùng suy nghĩ và cầu nguyện cho dân tộc Việt Nam thân yêu…

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
NHẬN ĐỊNH VỀ LUẬT TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO 2016


Kính gửi: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam, Khoá XIV,
                Quý Đại biểu Quốc Hội Việt Nam, Khoá XIV


Kính thưa Quý Vị,
Ngày 18 tháng 11 năm 2016, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIV, kỳ họp thứ 02, đã thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo. Điều 66 của Bộ Luật quy định: “Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018”. Là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bộ luật này, chúng tôi, Hội đồng Giám mục, nhân danh cộng đồng tín hữu Công giáo Việt Nam, muốn nêu lên một số nhận định và suy nghĩ.

1. Bộ Luật này có một số điểm mới và tích cực, chẳng hạn quan tâm đến nhu cầu tôn giáo của những người bị tạm giam hoặc ở trường giáo dưỡng (Điều 6); nhu cầu tôn giáo của người nước ngoài (Điều 8, 47); người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo tại Việt Nam (Điều 49). Bộ Luật này cũng nhìn nhận các tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận (Điều 30).

2. Tuy nhiên, Bộ Luật này lại có nhiều điều khiến chúng tôi quan ngại. Cụ thể về việc các tổ chức tôn giáo tham gia hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và y tế. Theo Dự thảo 5 ngày 17-08-2016, các tổ chức tôn giáo “được thành lập cơ sở giáo dục theo hệ thống giáo dục quốc dân” (Điều 53), và “được thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội” (Điều 54). Nhưng trong Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, vấn đề này được gói gọn trong điều 55 với những từ ngữ tổng quát và mơ hồ: “Được tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội và từ thiện, nhân đạo, theo quy định của pháp luật có liên quan”. Tham gia thế nào? Tham gia tới mức nào? Tham gia có đồng nghĩa với việc thành lập cơ sở không? Như vậy, nếu so sánh với các bản Dự thảo 4 và Dự thảo 5, thì Luật Tin ngưỡng, Tôn giáo có những bước lùi.

3. Ngoài ra, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo tiếp tục củng cố cơ chế xin-cho. Bộ Luật này không dùng từ “xin phép” và “cho phép”, thay vào đó là các từ “đăng ký, thông báo, đề nghị”. Việc thay đổi từ ngữ như trên tạo cảm giác có sự cởi mở hơn, nhưng vì các tổ chức tôn giáo vẫn phải thông báo với chính quyền và chính quyền có thể chấp thuận hoặc không chấp thuận, nêu rốt cuộc vẫn là cơ chế xin-cho. Cơ chế này cho thấy tự do tín ngưỡng tôn giáo không thật sự được coi là quyền của con người nhưng chỉ là ân huệ cần phải xin và được ban phát. Chính cơ chế đó hợp pháp hoá sự can thiệp của chính quyền vào sinh hoạt nội bộ và kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động tôn giáo.

4. Cùng với những nhận định trên, chúng tôi muốn nêu lên một vài suy nghĩ. Ẩn sâu bên trong những bất cập đã trình bày là cách nhìn của chính quyền về tôn giáo và các tổ chức tôn giáo. Chính quyền nhìn các tôn giáo thuần tuý trên bình diện chính trị, xem các tổ chức tôn giáo như những lực lượng đối kháng.
Do cách nhìn như thế, trong Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, có những điệp khúc được lặp đi lặp lại nhiều lần, như “theo quy định của Pháp luật”; “chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo”, hoặc những khái niệm mơ hồ trừu tượng như “xâm phạm quốc phòng, an ninh”; “xâm phạm chủ quyền quốc gia”; “xâm phạm trật tự an toàn xã hội, môi trường”. Những điệp khúc và những từ ngữ mơ hồ trên rất dễ bị lạm dụng để quy kết trách nhiệm và lên án các tổ chức tôn giáo khi chính quyền không hài lòng.

Cũng vậy, chính quyền tiêu tốn biết bao tiền của và nhân lực để theo dõi, dò xét, kiểm soát mọi hoạt động tôn giáo, đồng thời tìm cách sử dụng các tổ chức tôn giáo như công cụ của chế độ. Trong khi đó, những hoạt động của các tôn giáo trong lĩnh vực từ thiện, y tế và giáo dục không được đánh giá đúng mức, thậm chí bị ngăn cản.

Ngoài ra, tại một số cơ sở đào tạo cán bộ và sinh viên, Đạo Công giáo được trình bày với những thành kiến thù nghịch, tạo nên nhận định sai lầm và hình ảnh biến dạng về Giáo Hội Công giáo nơi thế hệ trẻ.
Cách nhìn và cách hành xử như vậy có nguy cơ làm mất bản sắc đích thực của các tôn giáo, gây chia rẽ trong nội bộ các tôn giáo cũng như giữa các tín đồ và người ngoài tôn giáo, vốn là những hành vi bị Luật này nghiêm cấm (Điều 5). Thiết nghĩ Quốc Hội cần có một tầm nhìn tích cực hơn về các tôn giáo và các tổ chức tôn giáo.


5. Chính quyền kêu gọi các tôn giáo đồng hành với dân tộc, chúng tôi hoàn toàn đồng ý, nhưng thiết tưởng nên phân biệt rõ dân tộc và chế độ. Lịch sử dân tộc Việt Nam nói riêng và lịch sử thế giới nói chung cho thấy rằng các chế độ chính trị thay đổi theo thời gian, còn dân tộc thì trường tồn. Do đó, phải đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết. Chúng tôi nghĩ rằng, đồng hành với dân tộc là đồng hành với những con người cụ thể đã và đang làm nên dân tộc này, nhất là những người cùng khổ và bị quên lãng. Đồng hành với dân tộc là đồng hành với những giá trị làm nên di sản tinh thần và văn hoá của dân tộc Việt Nam: chống ngoại xâm, giữ gìn bờ cõi, chống cường quyền, tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách…

Theo ý nghĩa đó, chúng tôi cho rằng các tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng, luôn đồng hành với dân tộc, vì các tôn giáo khơi dậy những giá trị tinh thần cao quý trong lòng người, dạy các tín đồ của mình tôn trọng công bằng và lẽ phải, sống từ bi bác ái, tôn trọng mọi người vì chính phẩm giá của họ, và như thế, góp phần phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, cộng tác tích cực vào việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.


Kính thưa Quý Vị,
Một tầm nhìn đúng đắn về tôn giáo sẽ là tiền đề cho sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo đích thực của người dân. Hy vọng những góp ý chân thành và thẳng thắn của chúng tôi, xuất phát từ trách nhiệm với lịch sử và lòng yêu mến quê hương, sẽ được Quốc Hội lắng nghe. Đối với những văn bản hướng dẫn áp dụng thi hành Luật đang được soạn thảo, chúng tôi mong sẽ có những hướng đi mới, tạo điều kiện cho các tôn giáo cộng tác tích cực hơn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, vì một Việt Nam phồn vinh, dân chủ và hạnh phúc.

Trân trọng kính chào.
Làm tại Xuân Lộc, ngày 01 tháng 06 năm 2017





Hãy bước vào thế giới kỹ thuật số với tâm thế hy vọng và trở thành người loan báo Tin Mừng.
Hãy bước vào thế giới kỹ thuật số với tâm thế hy vọng và trở thành người loan báo Tin Mừng.

Truyền thông với tâm thế hy vọng
Suy nghĩ về Sứ điệp Truyền thông 2017 “Đừng sợ, Ta ở với ngươi”

*
Bài nói chuyện của Đức giám mục Phêrô Nguyễn văn Khảm
trong Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 51 (28-05-2017)
do các giáo phận Sài Gòn, Mỹ Tho và Phú Cường
cử hành tại Trung tâm Mục vụ TGP Sài Gòn ngày 27-05-2017




Đức giám mục Phêrô Nguyễn văn Khảm
Đức giám mục Phêrô Nguyễn văn Khảm
Đã nhiều lần tôi có cơ hội đến đây trình bày Sứ điệp truyền thông hằng năm của các Đức Giáo hoàng. Năm nay cũng thế. Nếu có điều gì khác hơn, chắc là vì tôi mới đi dự Đại hội của Quốc vụ viện Truyền thông, từ ngày 3-5 tháng 5 năm 2017, tại Rôma. Vì thế xin chia sẻ một vài cảm nghĩ từ Đại hội cũng như từ Sứ điệp truyền thông năm 2017 của Đức Giáo hoàng Phanxicô.
1. Trước hết là cảm nhận về Hội Thánh toàn cầu. Các thành viên của Quốc vụ viện tham dự Đại hội được mời ở ngay trong Nhà Santa Marta, cũng là nơi ở của Đức Giáo hoàng Phanxicô. Vì ở chung nhà nên hằng ngày nhìn thấy Đức Giáo hoàng, người cha chung của Hội Thánh toàn cầu, với áo dòng trắng đơn sơ, xuống nhà cơm và dùng cơm chung với mọi người. Rất gần gũi.
Thêm vào đó, nơi họp Đại hội không phải là trụ sở của Quốc vụ viện Truyền thông (trên đường Hòa giải) nhưng là một phòng họp lớn trong Dinh giáo hoàng, nơi Đức Giáo hoàng tiếp kiến các nguyên thủ quốc gia và những phái đoàn lớn trên thế giới, cũng như tiếp các giám mục trong dịp ad limina. Hội họp trong dinh thự đó giúp người tham dự ý thức rằng mình đang làm việc của Hội Thánh toàn cầu chứ không phải của riêng quốc gia nào. Tính toàn cầu đó còn thể hiện qua sự đa dạng của các tham dự viên: 20 thành viên chính thức của Quốc vụ viện thuộc 18 quốc tịch khác nhau, ở nhiều châu lục khác nhau: châu Âu, châu Mỹ, châu Á, châu Phi.
Ngoài ra, sau những giờ làm việc, khi ra quảng trường Thánh Phêrô, tôi nhìn thấy và gặp các đoàn hành hương từ khắp nơi trên thế giới và nói đủ thứ ngôn ngữ, tuôn về Rôma, thủ phủ của Hội Thánh Công giáo. Tất cả đều tạo cho tôi cảm nhận rõ ràng về Hội Thánh toàn cầu.

2. Hội Thánh toàn cầu quan tâm đến truyền thông. Mục đích của việc thiết lập Quốc vụ viện Truyền thông đã được chính Đức Giáo hoàng Phanxicô xác định trong Tự sắc thành lập cũng như trong diễn văn ngỏ lời với Đại hội, là “nghiên cứu những tiêu chuẩn và phương thức mới để thông truyền Tin Mừng lòng thương xót đến mọi dân tộc, trong các nền văn hóa khác nhau, qua những phương tiện truyền thông mà bối cảnh văn hóa kỹ thuật số cung cấp cho con người ngày nay” (ĐGH Phanxicô, Diễn văn tại Đại hội của Quốc vụ viện Truyền thông, ngày 4-5-2017).
Để đạt mục đích đó, vấn đề không chỉ là sáp nhập những cơ quan trước đây lại với nhau (Báo Osservatore romano, Nhà in Vatican, Nhà xuất bản Vatican, Radio Vatican, TV Vatican, Hội đồng giáo hoàng về Truyền thông, Phòng báo chí Tòa Thánh, Dịch vụ internet, Dịch vụ hình ảnh), nhưng là kiến tạo một cơ chế hoàn toàn mới, đáp ứng nhu cầu truyền thông trong thế giới thay đổi rất nhanh về khoa học kỹ thuật, hình thành nền văn hóa kỹ thuật số. Hội Thánh cần phải hiện diện trong thế giới kỹ thuật số để thi hành sứ mệnh Chúa Giêsu đã trao phó là “loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15).

3. Trong thế giới kỹ thuật số, mọi Kitô hữu đều được mời gọi tham gia sứ mệnh loan báo Tin Mừng, trở thành một tác viên truyền thông. Một trong những nét độc đáo của văn hóa kỹ thuật số là mỗi người đều trở thành chủ thể truyền thông thay vì chỉ là đối tượng. Trong thời đại báo in, chỉ có một số rất ít các nhà báo, phóng viên…viết bài, còn trong thế giới kỹ thuật số, ai cũng viết được. Có những bloggers thu hút người xem hơn cả một tờ báo in. Nếu không viết cả bài báo thì những comments cũng là cách phản hồi, vừa nhanh gọn vừa có thể gây hiệu ứng cao.

“Hãy mang trong anh em những tâm tư của Chúa Giêsu” (Phil 2,5).
“Hãy mang trong anh em những tâm tư của Chúa Giêsu” (Phil 2,5).
Vì mỗi người đều là chủ thể truyền thông nên câu hỏi đặt ra là: chúng ta nói gì, viết gì trên mạng toàn cầu? Nói gì và viết gì lại tùy thuộc cách chúng ta nhìn thực tại. Thật vậy, vấn đề không chỉ là những sự kiện và thực tại đang diễn ra nhưng còn là cách chúng ta nhìn thực tại, là cặp kính chúng ta dùng để nhìn thực tại, như Đức Giáo hoàng Phanxicô nói trong Sứ điệp Truyền thông 2017. Cũng một sự vật nhưng người ta có thể nhìn thấy khác nhau về màu sắc cũng như hình dáng, tùy vào cặp kính mang trên mắt. Tương tự như thế, cũng một sự kiện, một biến cố, mỗi người có thể nhìn cách khác là tùy vào cặp kính nội tâm của mình. Và từ cách nhìn khác nhau sẽ dẫn đến phản ứng và thái độ khác nhau.

Cặp kính tốt nhất là Tin Mừng, không chỉ là Tin Mừng về Chúa Giêsu nhưng là chính Chúa Giêsu. Do đó, mang cặp kính Tin Mừng là mang tâm thế của Chúa Giêsu: “Hãy mang trong anh em những tâm tư của Chúa Giêsu” (Phil 2,5).

4. Tâm thế của Chúa Giêsu là tâm thế hy vọng mà Sứ điệp diễn tả là sợi chỉ xuyên suốt lịch sử cứu độ và nắm men làm dậy cả khối bột. Để cụ thể hóa điều này, tôi nhớ đến dụ ngôn Người gieo giống (Mt 13,3-9). Chính cộng đoàn của Matthêu đã giải thích ý nghĩa của dụ ngôn (Mt 13,18-23): nghe Lời Chúa mà không hiểu là gieo bên vệ đường; nghe mà không đâm rễ sâu là gieo nơi sỏi đá; nghe mà không sinh hoa kết quả là gieo vào bụi gai; còn nghe mà hiểu và sinh hoa kết quả là gieo vào đất tốt. Cách giải thích này được gọi là giải thích theo tỷ ngôn, còn theo một số nhà chú giải Kinh Thánh thì điểm nhấn của dụ ngôn là ở chỗ khác, đó là niềm hy vọng mãnh liệt của người gieo. Người gieo giống ra đi gieo hạt giống Nước Trời. Nhìn từ bên ngoài, xem ra công việc thất bại vì quá nhiều hạt giống rơi trên sỏi đá, trong bụi gai, bên vệ đường. Dù vậy chăng nữa, vẫn có những hạt rơi vào đất tốt và sinh hoa kết quả phong phú. Cho nên hãy cứ kiên nhẫn mà gieo hạt giống Nước Trời. Rõ ràng là tâm thế tràn đầy hy vọng.

Hãy nhìn vào cuộc đời Chúa Giêsu. Cả một đời bôn ba rao giảng khắp nơi, làm bao nhiêu phép lạ, được quần chúng tôn vinh…Thế rồi, vào thời điểm cuối cùng, từ đỉnh cao thập giá nhìn xuống, Người thấy gì? Những cánh tay giơ cao đòi đóng đinh, những cái miệng hô to lên án; ngay cả những môn đệ thân thiết cũng bỏ chạy, dưới chân thập giá chỉ còn lại bà mẹ già và người học trò yêu. Nhưng chính trong giây phút tưởng như tuyệt vọng đó, Chúa Giêsu kêu lên “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” và “Lạy Cha, con phó thác sự sống con trong tay Cha”. Đó là tiếng kêu của hy vọng, cậy trông, phó thác. Chỉ có niềm hy vọng mãnh liệt vào sự chiến thắng tối hậu của tình yêu mới làm cho người ta dám tha thứ cho những kẻ giết chết mình. Chỉ có niềm hy vọng mãnh liệt vào Thiên Chúa mới ban tặng sức mạnh để dám phó thác trọn vẹn nơi Thiên Chúa trong những giây phút kinh hoàng nhất. Chính vì thế, thập giá Đức Kitô trở thành nguồn hy vọng. Và thay cho đám đông hò la lên án hôm ấy trên đồi Canvê, muôn ngàn thế hệ đã, đang và sẽ hát lên: “Vinh quang của ta là thập giá Đức Kitô, nơi Ngài, ơn cứu độ của ta, sức sống của ta, phục sinh của ta”.

5. Tâm thế hy vọng giúp khám phá những điều tích cực hơn là chỉ nhìn vào điều tiêu cực, giúp mở cánh cửa đi về phía tương lai hơn là nhốt kín tha nhân trong ngục tù quá khứ. Hãy đọc lại câu chuyện Người nữ ngoại tình (Ga 8,1-11). Các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Chúa Giêsu một phụ nữ bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình, và nhân danh lề luật, người ta đòi ném đá người phụ nữ đó. Bằng việc tuyên án đó, người ta khóa chặt cuộc đời của chị trong quá khứ, và cả cuộc đời chị bị đóng dấu bằng tội ngoại tình! Còn Chúa Giêsu thì sao? Người nói với chị phụ nữ: “Con về đi và đừng phạm tội nữa”. Không chỉ là giúp chị thoát chết nhưng là mở cho chị cả một cánh cửa đi tới tương lai. Và Chúa Giêsu mở cánh cửa đó cho chị vì Người nhìn thấy điều tích cực nơi chị chứ không chỉ là điều tiêu cực”: tuy chị có tội nhưng đó không phải là tất cả, chị có khả năng sống cuộc sống tốt lành như bao người và có thể hơn nữa.

Ngày nay, ngồi trước bàn phím, cũng có nhiều ông bà thuộc hàng kinh sư và Pharisêu như thế! Cứ lên mạng là biết, cứ vào facebook là thấy. Có “hot news” nào là đủ thứ comments. Không cần tìm hiểu sự thật ra sao, cứ “chửi” đã! Càng cay chua càng đã! Họ thích lên án hơn là tha thứ, thích nhốt người khác trong quá khứ hơn là mở cho người khác cánh cửa đi tới tương lai.

Có điều rất lạ, khi kể chuyện về người nữ ngoại tình, thánh Gioan ghi nhận rằng khi nghe Chúa Giêsu nói “Ai trong các ông sạch tội thì lấy đá mà ném trước đi”, họ bỏ đi hết, “bắt đầu từ những người lớn tuổi” (Ga 8,8). Cái lạ là Đấng chí thánh, Đấng không hề phạm tội, thì không lên án nhưng chỉ tha thứ, còn kẻ tội lỗi lại thích lên án. Ngày nay cũng thế thôi. Hình như có thứ tâm lý bù trừ ở đây. Bản thân tội lỗi đầm đìa nhưng thích xoi mói và lên án người khác để tỏ ra rằng mình tốt lành. Còn người đạo đức thật sự lại rộng lòng cảm thông và tha thứ. Đức Giáo hoàng Phanxicô chia sẻ rằng mỗi khi đến thăm các tù nhân, ngài hay tự hỏi: nếu tôi ở trong hoàn cảnh của họ, tôi có tốt hơn họ không hay còn tệ hơn thế? Lại chẳng đáng cho chúng ta cân nhắc khi ngồi trước bàn phím sao?

Kết luận: Tâm thế hy vọng giúp ta khám phá những điều tích cực hơn là tiêu cực, quảng đại với tha nhân hơn là chật hẹp, nhờ đó trở thành người loan báo Tin Mừng hơn là tin dữ, tin vui hơn là tin buồn, qua bài viết, comments, hình ảnh đưa lên trên internet. Hãy bước vào thế giới kỹ thuật số với tâm thế hy vọng và trở thành người loan báo Tin Mừng.


Tôn giáo rất cần thiết trong xã hội như thế. Nếu sống đạo, dù theo Công giáo, Tin lành hay Phật giáo đều sống theo đạo lý, đề cao công bằng bác ái, từ bi, tôn trọng sự sống, văn minh, tình thương yêu. Người biết sợ Chúa, sợ Trời đất, thì mới không dám làm điều ác; chứ không sợ, không tin gì cả, thì chẳng có gì níu giữ cả…


Nổi tiếng vì nhận nhiều giải cao trong các cuộc thi “Những cuốn sách vàng” do TP. Hồ Chí Minh tổ chức, vị Chánh xứ Giáo xứ Tân Sa Châu (87 Lê Văn Sỹ, P.2, Q. Tân Bình), cha Nguyễn Hữu Triết, có hẳn một “bộ sản phẩm cổ” liên quan đến Truyện Kiều và Nguyễn Du. Số đèn cổ ông sưu tầm đã lên tới 1.400 chiếc. Giáng sinh vừa qua, linh mục xuất hiện trong cuộc phỏng vấn độc đáo trên đài truyền hình trung ương.

Ngồi trò chuyện dưới ánh sáng của cây đèn cổ đời nhà Mạc thế kỷ XVI, vị linh mục tâm sự nhiều về một thú chơi, “thực ra là một hình thức biết ơn tiền nhân và giữ gìn văn hóa thôi”. Ông là người cởi mở, say mê chia sẻ từ chuyện đồ cổ cho tới những chuyện “sống đạo” trong xã hội ngày nay.

Được thụ phong linh mục lúc 27 tuổi, có hơn 20 năm là phó xứ Gia Định và gần 20 năm chánh xứ ở Giáo xứ Tân Sa Châu, hẳn cha nhận thấy đời sống đạo có nhiều thay đổi theo thời cuộc. Vậy theo cha, điều gì thay đổi rõ rệt nhất?

Toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị đã tạo ra nhiều xáo trộn, phân tán, nên hiếm khi nào còn xứ đạo toàn tòng như ngày xưa nữa. Đời sống tập trung có mặt tích cực là người ta nhìn theo nhau, theo một tấm gương nào đó, rồi lễ lạt đông đảo, công việc chung sẽ trôi chảy,… Nhưng mặt tiêu cực của việc sống quần tụ là tâm lý ỷ vào bầy đàn, theo niềm tin bầy đàn, không đào sâu niềm tin cá nhân. Giống như nếu được cha mẹ bảo bọc kỹ quá, thì cuộc sống cứ êm xuôi đều đều như vậy, đến khi gặp phải hoàn cảnh tứ tán thì rất đáng lo, người nào vững vàng mới vượt qua được. Bây giờ xã hội thay đổi, hiện tượng di dân, đô thị hóa, thay đổi công ăn việc làm, nơi cư trú, người ta đi khắp nơi kiếm sống, cả ra nước ngoài…

Vâng, chỗ nào cũng thấy, đến cả tai nạn tàu ở tận Bắc cực, hay nạn nhân cướp biển Somali, cũng có người Việt Nam…

Chính sự phân tán trong đời sống, đi khắp nơi như vậy, giáo hữu cũng dễ phân tán trong việc giữ đạo.

Nhưng tính truyền thống rất mạnh, nhất là trong tôn giáo, phải không thưa cha?

Đúng là truyền thống sẽ không mất đi, nhưng không được chuẩn bị tốt cũng sẽ sút giảm. Mỗi người phải sống với niềm tin của mình trong xã hội, một hiện tượng bình thường cho mọi tôn giáo. Ngày xưa cả đời cụ tổ cho đến con cháu đều ở cùng một làng, trong một lũy tre. Vấn đề ly dị tôi chưa bao giờ nghe, nay thì nhiều lắm, trong giáo dân cũng đã có, vì ảnh hưởng chung của xã hội.

Vậy theo cha, đó có phải là vấn đề bức xúc nhất trong đời sống đạo của hôm nay không?

Bức xúc nhất là làm sao để có được đức tin trưởng thành, yêu cầu lớn nhất để có thể đối phó với thực tế. Có đức tin trưởng thành thì vứt ở đâu cũng sống được. Thiếu nó, Giáo hội sẽ gặp nguy hiểm.

Bây giờ trong rao giảng của các vị linh mục, phải thay đổi thế nào để phù hợp với đời sống thực tế, thưa cha?

Giáo lý được liên hệ với những điều mới mẻ. Xưa làm gì có thụ tinh nhân tạo, đồng tính, chuyển giới! Chúng tôi phải chuẩn bị Giáo lý hôn nhân Công giáo cho giới trẻ, huấn luyện mục đích hôn nhân gồm hai điều, vợ chồng yêu thương giúp đỡ nhau, cộng tác với Chúa trong chuyện sinh nở và giáo dục con cái. Chúng tôi phải mở lớp Giáo lý hôn nhân rồi mới làm lễ hôn phối cho các cặp vợ chồng trẻ. Có hai đặc tính của hôn nhân Công giáo, đó là một vợ một chồng và bất khả phân ly, không ly dị.

Công giáo sẽ xử lý ra sao khi thực tế đang phá vỡ dữ dội những luật này, ngay chuyện phá thai thì Việt Nam cũng đứng vào hàng đầu thế giới?

Phải bằng biện pháp giáo dục thôi, chúng tôi không có những chế tài theo kiểu luật pháp. Với Hội thánh thì chỉ rút phép thông công, không được xưng tội, rước lễ. Còn thì chỉ thông qua giáo dục, kêu gọi mọi người sống có lương tâm, trách nhiệm. Ngay các vấn đề bên ngoài xã hội, luật pháp đã có những quy định, chế tài, xử phạt hẳn hoi nếu vi phạm, cũng vẫn phải dùng nhiều biện pháp giáo dục.

Khi xã hội có những biểu hiện lệch lạc, sẽ có những cơ chế khác bù đắp vào, đó là truyền thống văn hóa, mối liên kết giữa các gia đình, làng xã, sự từ bi, tấm lòng tương trợ, hoạt động tôn giáo…, gọi chung là vốn xã hội. Cha thấy sống đạo liệu có phát huy được nhiều điểm tích cực không?

Tôn giáo rất cần thiết trong xã hội như thế. Nếu sống đạo, dù theo Công giáo, Tin lành hay Phật giáo đều sống theo đạo lý, đề cao công bằng bác ái, từ bi, tôn trọng sự sống, văn minh, tình thương yêu. Người biết sợ Chúa, sợ Trời đất, thì mới không dám làm điều ác; chứ không sợ, không tin gì cả, thì chẳng có gì níu giữ cả…

Nhưng nếu chỉ vì sợ mới làm thì đâu có tốt và bền vững?

Chỉ có sợ thì trình độ đạo đức không cao, nhưng cần thiết. Luật pháp cũng vậy, phải có chế tài. Hãy nhìn sang nước bạn, Singapore ít có tội phạm ma túy vì luật pháp rất nghiêm, chỉ tàng trữ vài trăm gram heroin là treo cổ. Tổng thống Mỹ, thủ tướng Úc đứng ra xin giảm hình phạt cho công dân nước mình cũng không được. Giữ thành phố xanh sạch, vất mẩu thuốc lá bị phạt 500 đô. Ở Paris thủ đô nước Pháp, trên cột đèn vẽ hình con chó, nhắc việc cấm chó phóng uế, nếu vi phạm, phạt 450 euro. “Già đòn non nhẽ” mà. Nếu ở nước ta, ai đua xe bị bắt sẽ bị tịch thu xe, nếu có bố mẹ là công chức thì buộc phải từ chức, chắc chắn nạn đua xe phải bớt. Người theo đạo nào thì trước tiên phải là công dân tốt, sống tự giác, tuân thủ pháp luật. Được vậy, xã hội sẽ bớt nhà tù, không cần nhiều công an. Tôi có dịp ở Đan Mạch ba tháng, suốt thời gian đó cũng đi nhiều nơi, vậy mà chưa thấy được một viên cảnh sát.

Chắc cha đi nghiên cứu ở nước ngoài nhiều?

Không, tôi đi thăm anh tôi. Công việc của một cha xứ không hề ít. Ngoài tế tự, lễ giảng, giải quyết các nhu cầu tôn giáo, hôn nhân, rửa tội, giải quyết xin di chuyển…, còn có công việc mục vụ, điều hành các lễ nghi, tổ chức hoạt động bác ái như “bữa cơm nhân ái” 170 suất ăn trưa cho người nghèo, cơ nhỡ…

Cha có thể kể một kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời linh mục của mình?

Hơn 40 năm, nhiều kỷ niệm lắm. Nhưng có lẽ tôi hài lòng nhất khi nhớ về sự giản dị của đời phục vụ. Năm 1972, ngày đi nhận chức phó xứ Gia Định. Một xe đạp lọc cọc chở chiếc vali, đi từ chợ Cầu – Gò Vấp về Gia Định, không người tiễn đưa, không ai ra đón, như cô dâu tự về nhà chồng. Người đầu tiên tôi gặp là ông thầy tên Tế phụ trách văn phòng của Trường Thánh mẫu có tới 1.300 học sinh. Ông thầy Tế hỏi: “Ông đi đâu đây?”. Tôi đáp: “Tôi là cha phó đến nhận nhiệm vụ”. “Vậy à, cha Sở có gửi chìa khóa đây”. Rồi chưa kịp chào, cha Sở đã mời ra ngay nhà thờ làm công tác mục vụ, ban phép hòa giải cho người tới xưng tội. Vào việc liền, âm thầm, đơn giản, hợp với bản chất nông dân của tôi, thuở bé chăn trâu bò ngoài đồng quen với đời sống đơn giản. Tiệc tùng tôi sợ lắm.

Cha nổi tiếng nhờ việc sưu tầm sách cổ với hai giải nhất trong cuộc thi “Những cuốn sách vàng”, có năm nhận tới sáu giải. Từ bản Truyện Kiều khắc ván in từ thế kỷ XIX độc đáo, dường như nay đã “quần tụ” thành một bộ sản phẩm. Cha có gì mới chia sẻ với mọi người?

Đúng là ngày càng đồ sộ. Bên cạnh gần hai mươi bản Truyện Kiều chữ nôm rất quý, cổ xưa, tôi đã sưu tầm thêm được 200 bản Truyện Kiều in tiếng Việt và tiếng Pháp, Anh, Đức, Rumani, Hàn Quốc. Có cả bản chữ nổi cho người khiếm thị. Rồi khoảng 700 đầu sách nghiên cứu Truyện Kiều và Nguyễn Du, hơn 700 tờ báo và tạp chí viết về Truyện Kiều và Nguyễn Du. Có 50 bức tranh vẽ Kiều. Ngoài ra, còn có nhiều sản phẩm như chén, thống, tượng sứ, guốc sơn mài có hình vẽ Kiều, rất nhiều cuốn băng ngâm Truyện Kiều, toàn những tác phẩm “thứ dữ”, tạo nên một bộ tác phẩm vẫn đang được làm giàu, sưu tập thêm.

Cha Triết và một cổ vật
Cha Triết và một cổ vật
Còn việc sưu tầm đèn cổ của Cha đã nổi tiếng khắp nơi, Cha có thể cho biết bây giờ con số đèn đã lên tới bao nhiêu cái rồi và đôi nét đặc sắc về chúng?

Kể cả đèn cổ và đèn xưa (theo quy định đèn xưa là chưa tới 100 năm), tôi đã có được 1.400 cái, làm từ rất nhiều chất liệu: đồng, bạc, gang, thủy tinh, antimoan, nhôm, sắt, sứ, gốm, đất nung, hoặc có bầu đèn làm bằng gỗ. Về niên đại thì cái cổ nhất là cái đèn Sa Huỳnh đã 2.500 năm. Đèn có xuất xứ từ 14 quốc gia, màu sắc phong phú tuyệt đẹp. Cái đất nung thô màu gạch, thủy tinh nhiều màu, gốm sứ đủ hình vẽ đa dạng. Dáng dấp đủ hình đủ kiểu, tuyệt vời lắm.

Trong số đó, cây đèn cổ nhất cha có được là nhờ vào đâu?

Cây đèn Sa Huỳnh ấy có dáng vẻ rất đơn giản, giống cái lọ, cho mỡ động vật vào thắp sáng, tim đèn làm bằng vỏ cây. Tôi có được nó nhờ mua cả cái mộ chum Sa Huỳnh, bên trong có cả các hũ, lọ, chậu hoa, được chôn dưới đất hàng ngàn năm. Mộ chum thì tôi quen lắm, người ta giới thiệu là tôi biết liền.

Nhiều người thắc mắc rằng, bảo quản đèn cổ có cần điều kiện gì đặc biệt không, thưa cha?

Chỉ cần giữ gìn đừng để xô lệch, đổ vỡ thôi, không làm gì đặc biệt.

Và vì sao thú sưu tập lại là cây đèn chứ không phải thứ gì khác?

Trước hết là nhờ vào văn học. Nào là Tắt đèn, Ngọn đèn dầu lạc, truyện thời danh Lục Vân Tiên “Trước đèn đọc truyện Tây Minh”. Truyện Kiều nhắc nhiều tới đèn, sách hay, đọc dưới đèn, cảo thơm lần giở trước đèn… Tôi đi tu, đọc Thánh kinh từ bé cũng thấy nhắc nhiều tới đèn, nó biểu tượng cho đời sống thánh thiện, minh bạch. Chúa cũng nói, các con là ánh sáng thế gian… Ca dao tục ngữ cũng vậy, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng; thông minh gọi là sáng dạ… Từ văn học, đời sống, cho đến Thánh kinh, tục ngữ ca dao… Tôi thấy cây đèn có nhiều ý nghĩa quá, sách đi đôi với đèn, nó còn là ánh sáng trí tuệ.

Một dạo nghe nói cây đèn sứ Trung Hoa, cây đèn Pháp chóa thủy tinh chân cẩm thạch giá tới gần 100 triệu đồng, cha mê lắm nhưng đắt quá nên chưa mua được, bây giờ số phận chúng ra sao rồi?

Tôi đã cố gắng mua được rồi. Cây đèn sứ Trung Hoa nằm trong bộ sưu tập đèn cuối đời Thanh, rất hiếm, đúc nguyên. Cây đèn chóa da cọp cao gần một mét, đắt lắm, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, của những gia đình người Pháp giàu có.

Cái thú thưởng thức đèn cổ, ngồi dưới ánh sáng của chúng hẳn là có gì đó đặc biệt…

Thú sưu tầm là giữ gìn văn hóa, các kỷ vật của người xưa, một hình thức biết ơn tiền nhân. Cây đèn đã qua bao nhiêu người dùng. Ngày xưa chỉ có đèn dầu là nhất, có lúc đốt bằng mỡ trăn, mỡ chuột. Nước ta bốn ngàn năm văn hiến rồi mà. Mình sưu tầm, như góp phần tiếp tục giữ ngọn lửa. Còn thưởng thức thì trước tiên nhìn đèn cũng như nhìn thấy lịch sử hàng trăm, hàng ngàn năm. Đời người ngắn ngủi, so với thời gian đối diện với chứng tích của cây đèn cổ thì mình còn kém rất xa. Tôi nhớ lời một anh bạn chơi với nhau đã bốn mươi năm, thường cùng nhau ra đường Lê Công Kiều ngắm tìm đồ cổ. Anh ấy dẫn lời một người Anh nói về thú chơi đồ cổ. Rằng người chơi đồ cổ là người yêu đời nhất, cũng là người chán đời nhất, là người yêu nước nhất và đầu tư được vốn liếng lớn nhất. Có khi thu lợi bất ngờ.

Yêu đời nhất thì có thể suy đoán được, còn vì sao lại là chán đời nhất? Có phải do chỉ đắm chìm vào quá khứ mà quên sống thực tại không?

Không phải. Yêu đời nhất là thế này: dù anh có làm lớn đến đâu, giàu có đến đâu, cái gì cũng có, nhưng chắc chắn không thể có cái đèn Sa Huỳnh 2.500 năm của tôi. Niềm tự hào học theo kiểu cụ Tản Đà, “ta cũng hơn ai cái cảnh nghèo”, đó là “không ai bằng mình”. Đại gia mang tiền tới, chưa chắc tôi đã bán cho. Còn chán đời nhất là do so sánh, “mày hãy còn đây, mày sống lâu, như cái đèn Đông Sơn đã 2.000 năm, còn thân tao sắp phải chia ly mày rồi”, đó là đau đớn nhất. Yêu nước nhất, là gìn giữ không để chảy máu cổ vật. Không phải “la oai oái” như bây giờ ai sang Thổ Nhĩ Kỳ mà rinh cái bình củ tỏi gốm Chu Đậu về được không? Cái bình mà nhờ nó, chúng ta đã tìm ra được cả nguồn gốc nghề gốm Chu Đậu của ông cha. Nếu mình giữ cho văn hóa còn thì đất nước còn, văn hóa mất thì mình mất. Tôi nghĩ mỗi công dân đều có bổn phận đó.

Thế còn “nhà đầu tư” và những bất ngờ giá cả?

Đầu tư tiền bạc thì phải có, nhưng với tôi, không có ý nghĩa làm giàu. Một người bạn kể câu chuyện hay xảy ra trong giới sưu tầm cổ vật mà anh chứng kiến vào một buổi chiều trên đường Đồng Khởi. Có một người ở miền Tây lên bán cái lọ đất nung. Chủ hàng không muốn mua, trả tới trả lui mới mua được 50 ngàn đồng. Chỉ lát sau, một khách Trung Quốc vào ngắm nghía, soi chụp kỹ lắm, chủ nhà biết là “dân máu mua” nên hét giá thật cao, cuối cùng bán được 13 cây vàng! Những chuyện ấy là may rủi thôi. Nói về đầu tư gặp may thì ai cũng đã nghe câu chuyện anh cày ruộng ở Mỹ tìm được đồng tiền vàng từ năm 1932 loại không phát hành, các nhà khảo cổ đánh giá tới 7 triệu rưỡi đô. Rồi chuyện con tem 2 xu có hình bà Victoria, thế giới chỉ có một cái. Đó là những chuyện ly kỳ về chơi đồ cổ. Riêng tôi, tôi không gặp chuyện gì bất ngờ liên quan đến tiền bạc.

Nhưng chuyện kỷ niệm đáng nhớ lúc đi sưu tầm thì cha có nhiều chứ?

Nhiều, nhưng tôi lại thích những kỷ niệm đơn giản mà hồi hộp. Khoảng năm 2003 ra Hà Nội, đi chơi Nghi Tàm với anh bạn, bất ngờ gặp một lúc ba cây đèn quý, một của Đông Sơn, một của Bát Tràng và một cây đèn thủy tinh. Túi không đủ tiền, may mà có anh bạn cho mượn, nhưng cái cảm giác choáng váng khi thấy chúng và sự “hú hồn” suýt không mua được bữa ấy thật khó quên.

Như tất cả những người sưu tầm cổ vật luôn nghĩ tới tương lai cho những cổ vật suốt đời mình sưu tập, cha đã nghĩ tới chưa?

Tôi sẽ hiến cho Giáo hội quản lý để cho mọi người thưởng thức. Nhiều hiện vật của tôi đã biếu, ở Huế, La Vang, ai cũng có thể vào xem. Hiện nay, bộ Truyện Kiều đồ sộ đã đưa ra rồi. Ở dòng Thiên An, có cả thủ thư, vì Đức cha ở đó có ý định làm thư viện về Cố cả Léopold Michel Cadière (linh mục năm 1892 lúc 23 tuổi, sang Việt Nam làm mục vụ tại giáo phận Huế. Là người sáng lập Hội Đô thành hiếu cổ quy tụ 40 nhà nghiên cứu Pháp – Việt. Ông để lại 245 sách, khảo luận nghiên cứu Việt Nam). Ở TP. Hồ Chí Minh, cách đây mấy năm tôi có hiến vào Nhà truyền thống Giáo phận Thành phố ở đường Tôn Đức Thắng, đã trưng bày nhiều tượng, ảnh, đồ cổ về văn hóa dân tộc, tôn giáo. Có cả bộ đèn mang tên “Ánh sáng muôn dân” 960 cái, khách du lịch Đông – Tây đều thích. Đèn từ thời Đông Sơn đến thế kỷ XX, cái non nhất là cái có trước 1975. Đáng tiếc là nhân sự người quản lý chưa được ổn định.

Cha còn viết rất nhiều, tới hàng chục cuốn sách nhỏ mang tên Những suy nghĩ vẩn vơ về rất nhiều vấn đề thời cuộc sâu sắc, gắn bó với đời sống hằng ngày. Cha có định xuất bản như các tác phẩm đồ sộ của Đức cha Bùi Tuần được nhiều người hoan nghênh?

Đức cha Bùi Tuần là bậc lớn, cây bút lớn. Những suy nghĩ của tôi, muốn như những lời tâm sự chuyện đạo lẫn chuyện đời, in rất nhỏ, là loại chia sẻ với mọi người, biếu tặng đọc chơi chứ không in ra để bán.

Cha viết nhiều “suy nghĩ vẩn vơ” về thời cuộc, vậy vấn đề xã hội nào khiến cha bức xúc nhất?

Đó là vấn đề công bằng. Còn nhiều cảnh bất công quá. Chúng ta phải cố gắng làm sao giảm bớt bất công, bởi nếu sống trong bất công thì cũng không sao có hạnh phúc được.

Cha vào Nam năm 1954, lúc mới chín tuổi, xa mãi quê hay có khi nào về lại thăm gia đình?

Gia đình tôi đã sống ở nhiều nơi kể từ khi vào Nam, cặp cảng Sài Gòn. Đó là Bình Xuyên, Bến Cát, Sóc Trăng, Hố Nai, Trảng Bom, Tam Hiệp. Tôi có trở lại thăm quê ở Hải Dương, như mọi nơi trên đất nước, quê hương tôi cũng khác xưa nhiều lắm.

Là người bận rộn, nhưng thường dân chơi đồ cổ hay có “hội” trao đổi ý kiến, sở thích, đánh giá, cha có tham gia hội nào không?

Có chứ. Hội Cổ vật TP. Hồ Chí Minh đông tới cả trăm thành viên, họp hằng tháng. Câu lạc bộ sách Xưa và nay cũng thường họp ở đây. Ở cái bàn trà này, một tuần cũng có tới năm tối, anh em tới uống trà, nói chuyện, bình luận, giao lưu, chuyện của những dân “ghiền đồ cổ” mà, vui lắm.

Xin cảm ơn cha.

Nguyễn Thị Ngọc Hải phỏng vấn Lm. Nguyễn Hữu Triết

Nguồn: TuanVietnam



* Chúng tôi xin được thay đại từ ông bằng cha như xưng hô của người Công giáo chúng tôi đối với Linh mục. Trong bài phỏng vấn nhân dịp Lễ Giáng Sinh vừa qua, phóng viên Đài truyền hình Việt Nam cũng xưng hô với Lm. Nguyễn Hữu Triết là cha.





Một buổi tối cuối tháng tư, đi làm về đã rất muộn, con nhận được một cuộc điện thoại từ Cha Trăng Thập Tự. Trong đầu lúc đó chỉ nghĩ: Chắc có chuyện gì quan trọng nên cha mới gọi giờ này…
Con nghe máy, lập tức - từ đầu dây bên kia - xuất hiện một nụ cười.
Cha hỏi thăm và báo tin Tập san Mục Đồng mới ra mắt độc giả - “Bữa giờ con có theo dõi thông tin các email cha gửi không?”
Con nhỏ nhẹ xin lỗi vì chưa xem hết các thư. Cha lại cười: Ngày 9/5 tới, Cha và chú Xuân xuống Sài Gòn tổ chức buổi gặp mặt các vị đã giúp cộng tác với nhau để ra mắt Tập san. Con có thể cùng đến tham gia được chứ?
Buổi gặp mặt diễn ra thân mật và nhẹ nhàng dưới sự chủ trì của Cha Trăng. 14 con người ngồi vòng tròn nói chuyện, chia sẻ công việc cộng tác tông đồ, góp ý cho Tập san, thông qua hướng đi thời gian tới. Tập san Mục đồng ra đời là một Hồng ân kỳ diệu của Thiên Chúa! - Cha Trăng nói – Những con người cùng cộng tác để làm nên Tập san chưa hề gặp mặt nhau, chưa hề biết nhau. Chỉ trao đổi với nhau qua điện thoại, người Quy Nhơn, kẻ Sài Gòn. Những người cùng ở Sài Gòn cũng chẳng biết mặt nhau, đến hôm gặp mặt một chú mới thốt lên: “Em nghe giọng anh trong điện thoại, em cứ nghĩ là anh còn trẻ…”

Ở buổi gặp mặt, có chú Nguyễn Thịnh và chú Đặng Ngọc Doãn, hai chú là tác giả của chương trình tặng sách truyện tranh có nội dung Kinh Thánh cho thiếu nhi khắp các giáo xứ, giaó điểm trên khắp đất nước Việt Nam. Hai chú đã lặn lội đi dọc chiều dài đất nước, đến với tất cả mọi nơi cần để tặng những thùng sách truyện cho thiếu nhi, vì hai chú xác tín rằng: Có một cánh đồng truyền giáo rất bao la,ít phức tạp,nhiều hiệu quả… đó là truyền giáo cho thiếu nhi và qua thiếu nhi. Truyện tranh (Thánh) cho thiếu nhi là một phương thức rất hay, nhất là đối với các thiếu nhi ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà phương tiện giải trí sách truyện còn rất thiếu.
Các chú lặng thầm làm công việc tông đồ theo lối này, ắt hẳn đó không phải là những suy nghĩ viễn vông, nhưng qua một vài câu chuyện cụ thể, thiếu nhi ngoại giáo truyền giáo cho cha mẹ của chúng. Giống như những em thiếu nhi học trường các Dì; chúng được nghe kể chuyện Thánh, được dạy đọc kinh, làm dấu,… Khi về nhà các em nói ba mẹ phải làm theo, dần dần cha mẹ thấy đạo Chúa có gì đó hay hay, rồi họ tìm hiểu, học giáo lý và họ tìm thấy Chúa.
Làm việc tông đồ đòi hỏi rất nhiều hy sinh, hai chú vẫn luôn âm thầm bỏ đi cái tôi của mình, chỉ theo đuổi một mục đích cuối cùng: Chúa Giêsu được nhiều người biết đến.
Có quá nhiều người Việt Nam chưa biết Chúa. Đành rằng người ta biết là có Đạo Công giáo đấy, có Ông Giêsu đấy – nhưng mà người ta không biết Ông Giêsu dạy cái gì…
Ai nói cho người ta hay?
Hai chú gửi đến các Cha ở các giáo xứ, các Dì ở các cộng đồng truyền giáo những cuốn truyện tranh Thánh nhỏ bé với ước mong chúng được phân phát rộng rãi cho các em thiếu nhi với tính cách cho mượn có thời hạn; đọc xong sẽ đổi lại cuốn khác;nếu lỡ các em làm mất thì (không sao) cho mượn cuốn khác. Các chú rất sợ những cuốn sách mình gửi đi sẽ bị đưa vào tủ sách hay thư viện rồi đóng cửa lại, vì như thế sẽ rất hạn chế về thời gian và không gian đối với các em. Nhất là đánh mất khả năng truyền giáo của các em cho nhiều người khác (cha,mẹ, anh , chị, em và bạn bè của chúng).
Này bạn,
cảm ơn bạn đọc đến những dòng này. Chắc hẳn ở Giáo xứ của bạn cũng sẽ có những thùng sách truyện thiếu nhi mà bạn đọc thấy ở trên, bằng cách nào đó, xin bạn hãy giúp cho những cuốn sách ấy đến được tay các em nhỏ như tâm nguyện của những người tặng sách, bạn nhé!
Hay giả như bạn có những cuốn sách thích hợp, xin hãy phân phát nó cho những người muốn đọc. Hoặc như có ai đó hỏi bạn về Chúa, về Ông Giêsu – xin bạn dành chút thời gian cho họ - xin bạn đừng từ chối.
Cha Trăng và các chú, ai nấy đều đã trong ngoài bảy mươi. Ở độ tuổi đó, người ta xứng đáng để được nghỉ ngơi. Nhưng… từng ngày, từng ngày, Cha, các chú vẫn đang âm thầm làm việc cho sứ vụ mở mang nước Chúa, đem Chúa đến gần con người hơn.
Và còn... những - người - trẻ - chúng ta …

Thanh Tâm
xem bài đã đăng trên nhóm VTCG













Được tạo bởi Blogger.