Giải “Viết Văn Đường Trường” do Ban mục vụ Văn hóa & Giáo dục Giáo phận Qui Nhơn khởi xướng và tổ chức, với mục tiêu tìm kiếm và đào tạo tài năng văn xuôi trẻ cho Giáo hội Công giáo Việt Nam, tạo điều kiện để họ có thể đóng góp những tác phẩm giá trị cho nền văn học Công giáo.
Trải qua 5 năm, số lượng bài và người dự thi đã tăng dần lên hằng năm, tới cuộc thi lần V này đã có 175 tác phẩm (năm ngoái là 143) với 99 tác giả (năm ngoái là 81) đến từ khắp nơi trong cả 3 Giáo tỉnh:
- Giáo tỉnh Hà Nội có: Bắc Ninh (4), Bùi Chu (3), Hà Nội (7), Hải Phòng (2), Hưng Hóa (8), Phát Diệm (2), Thanh Hóa (4), Vinh (14). Tổng cộng: 44 tác giả.
- Giáo tỉnh Huế có: Ban Mê Thuột (2), Đà Nẵng (3), Huế (3),  Kontum (5), Nha Trang (10), Qui Nhơn (13). Tổng cộng: 36 tác giả.
- Giáo tỉnh Sài Gòn có: Cần Thơ (1), Đà Lạt (2), Long Xuyên (1), Sài Gòn (7), Vĩnh Long (2) và Xuân Lộc (6). Tổng cộng: 19 tác giả.
Như vậy, các tác giả đến từ Giáo tỉnh Hà Nội ngày một đông, năm nay đã chiếm gần một nửa tổng số. Hy vọng khi nhận ra được nguồn lực đầy triển vọng này, quý vị hữu trách sẽ sớm đầu tư chăm sóc và đào tạo một cách có hệ thống, để lớp tài năng trẻ này được nhân rộng và nâng cao, hầu có thể đóng góp nhiều cho Giáo hội và Đất nước.
Giải Viết Văn Đường Trường là giải thưởng góp phần chào mừng kỷ niệm 400 năm loan báo Tin mừng trên vùng đất Giáo phận Qui Nhơn, giải thưởng kéo dài 6 năm mà nay là năm thứ năm. Cách riêng năm nay, trong bầu khí Năm thánh kỷ niệm 400 năm loan báo Tin mừng trên quê hương Giáo phận Qui Nhơn, cuộc họp mặt được kết hợp với thánh lễ cử hành Ngày năm thánh dành cho các Văn nghệ sĩ, tại Chủng viện Làng Sông, chiều 21-9-2017.
Có khoảng 50 Tác giả từ 13 giáo phận về tham dự với sự hiện diện của Đức Cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Giáo phận Đà Nẵng, Chủ tịch Ủy ban Văn hóa trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam;  Đức Cha Matthêô Nguyễn Văn Khôi, Giám mục Giáo Phận Qui Nhơn; quý Cha trưởng ban văn hóa thuộc các giáo phận Kontum, Ban Mê Thuột và Nha Trang.

Năm nay có 26 tác giả được tuyên dương. Giải Nhất: Tác giả Maria Nguyễn Thị Khánh Liên, giáo phận Nha Trang, với truyện Dòng sông chảy về đâu, Giải Nhì: Tác giả Anna Dương Thị Thái Chân, giáo phận Qui Nhơn, với truyện Khi bình minh đến, ba Giải ba: Tác giả PhêrôNguyễn Văn Học, Tổng giáo phận Hà Nội,với truyện Giữ lấy vị muối trong tâm hồn; tác giả Giuse Nguyễn Ngọc Bích, giáo phận Hưng Hóa, với truyện Mùa nắng mới trên vùng cao; tác giả Rita Maria Nguyễn Thị Kiều Minh, Tổng  giáo phận Hà Nội, với truyện Một cuộc trở về.Về 21 tác giả đạt giải triển vọng cùng với tác phẩm đạt giải, mời xem bảng kết quả cuộc thi đính kèm dưới đây.

Đức Cha Giuse, chủ tịch UBVH trao giải nhất cho tác giả Maria Khánh Liên

Chủ đề cuộc thi năm nay là kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima và 500 năm cuộc cải cách của Martin Luther, nhằm xây dựng và nêu cao lòng yêu mến Đức Maria với việc thực hành các mệnh lệnh Fatima, đồng thời thúc đẩy tinh thần yêu thương hiệp nhất giữa anh em tín hữu Công Giáo và Tin Lành tại Việt Nam. Tuyển tập cuộc thi mang tên Những Đứa Con Của Mẹ gồm 26 truyện ngắn chan chứa tinh thần đức tin Kitô giáo, đầy tính hiện thực của cuộc sống và giá trị Tin mừng, tình hiệp thông và những ước mơ đại kết.
Đức Cha Matthêu trao giải nhì cho tác giả Anna Dương Thị Thái Chân

Đề tài hiệp nhất Kitô giáo quả là mới mẻ và hóc búa. Một số bạn trẻ cho biết vừa khi hiểu ra vấn đề và có được ý tưởng để xây dựng truyện thì đã hết hạn nộp bài. Một số bạn trẻ Tin lành cũng lấy làm tiếc vì biết tin quá muộn. Để đáp ứng thiện chí của các tác giả ở những trường hợp ấy, Ban Tổ chức cho biết sau cuộc thi sẽ vẫn tiếp tục đón nhận những truyện mang nội dung Đại kết để thực hiện thêm một tuyển tập về chuyên đề này.

Cuộc thi lần thứ 6, năm 2018, sẽ là cuộc thi tổng kết Giải Viết Văn Đường Trường. Ngoài 6 giải thưởng chính thức và 15 giải triển vọng, cuộc thi lần thứ 6 sẽ có phần tổng kết các bài dự thi và các bài đạt giải 5 năm qua: về Tài năng (Tác giả có nhiều bài đạt giải cao), về Nhiệt tình (Tác giả gởi nhiều bài dự thi và đạt giải liên tục nhiều năm), về Triển vọng (Tác giả trẻ tuổi nhất đạt giải nhiều lần nhất), về Phong trào (Những sáng kiến nhằm phát huy văn thơ Công giáo Việt Nam).


Cuối lễ trao giải, Đức Cha Chủ tịch Ủy ban Văn Hóa trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam, có đã  ngỏ lời riêng với các Tác giả. Ngài ghi nhận thành quả tốt đẹp của Ban Văn hóa Giáo phận Qui Nhơn và nhấn mạnh rằng việc tìm kiếm và đào tạo các tài năng trẻ về văng chương nghệ thuật là điều cấp thiết, cần được quan tâm để giá trị Tin Mừng được thấm sâu vào sinh hoạt thường ngày.

Tâm An

Kết quả
Giải VIẾT VĂN ĐƯỜNG TRƯỜNG LẦN V (2017)

STT
TÊN BÀI
TÁC GIẢ
GIÁO PHẬN/ DÒNG
GỈAI
01
Maria Nguyễn Thị Khánh Liên
Gp. Nha Trang
Giải Nhất
02
Anna Dương Thị Thái Chân
Gp. Qui Nhơn
Giải Nhì
03
Phêrô Nguyễn Văn Học

Tgp. Hà Nội

Giải Ba
04
Giuse Nguyễn Ngọc Bích
Gp. Hưng Hóa
Giải Ba
05
Rita Maria Nguyễn Thị Kiều Minh
Tgp. Hà Nội
Giải Ba
06
Maria Nguyễn Thị Phượng
Tgp. Sài Gòn
Giải Triển vọng
07
Giuse Cao Viết Tuấn
Gp. Xuân Lộc
Giải Triển vọng
08
Maria Nguyễn Thị Thu Thảo
Gp. Vinh
Giải Triển vọng
09
Vinh Sơn Chung Thanh Huy
Tgp. Sài Gòn
Giải Triển vọng
10
Giuse Phạm Văn Ninh
Gp. Hải Phòng
Giải Triển vọng
11
Giuse Lê Văn Quân
Tgp. Hà Nội
Giải Triển vọng
12
Anna Nguyễn Thị Quỳnh Anh
Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức
Giải Triển vọng
13
Giuse Nguyễn Đức Tuyển
Gp. Bắc Ninh
Giải Triển vọng
14
Anna Hoàng Thị Tú Trinh
Dòng nữ Đa Minh Bà Rịa
Giải Triển vọng
15
Giuse Lê Ngọc Thành Vinh
Tgp. Hà Nội
Giải Triển vọng
16
Phaolô Nguyễn Văn Thiển
Gp. Bắc Ninh
Giải Triển vọng
17
Antôn Trần Văn Dũng
Gp. Vinh
Giải Triển vọng
18
Phêrô Phạm Minh Châu
Gp. Nha Trang
Giải Triển vọng
19
Têrêxa Đinh Thị Thu Hằng
Tgp. Sài Gòn
Giải Triển vọng
20
Maria Nguyễn Thị Tâm
Gp. Vinh
Giải Triển vọng
21
Maria Đặng Kim Thoa
Gp. Hải Phòng
Giải Triển vọng
22
Têrêxa Nguyễn Thị Trông
Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức
Giải Triển vọng
23
Phanxicô Xaviê Trần Duy Thành
Gp. Phát Diệm
Giải Triển vọng
24
Maria Phạm Thị Yến
Gp. Thanh Hóa
Giải Triển vọng
25
Maria Giuse Nguyễn Ngọc Nữ
Đan viện Xitô Vĩnh Phước
Giải Triển vọng
26
Giuse Nguyễn Huy Hoàng
Tgp. Sài Gòn
Giải Triển vọng


Mã số: 17-175
Chín giờ đêm, gác chuông nhà thờ đổ. Tàn thu. Trở rét! Cái xóm chó bêu mèo mửa vắng lặng, thinh thít buồn hẳn đi. Lệ thường có thể đâu? Lệ thường ,chừng độ này là canh giờ hoạt náo của bọn đầu trâu thất học tụ ở cái “bar mini” của mụ Hóa. Quán nhậu của mụ náo nhiệt chẳng khác nào vũ trường đô thị…
Đêm thưa khách, mụ uể oải trở mình trên chiếc võng nâu lỗ chỗ vá, hai chân bắt tréo, lóc lưỡi than khẽ: “Hát với hò, hay ho gì mà xã phường mời hoài. Ối giời ơi”. Mụ vẫn hay than với cái giọng lơ lớ bắc nam tư, than vì ế ẩm. Mụ biết bọn thanh niên “nặng nghĩa với mụ” thì chả hứng xem tuồng, thế mà vẫn đi, cốt chỉ để gạ tình hạng gái rẻ tiền thôi. Chán chường…
Mụ ngóc dậy,ngóc đầu lên khỏi cái cổ ngấn toàn mỡ,hếch mặt, sang sảng hỏi:
- Chú mày, bộ không đi ngắm gái à ? Nghe đâu gái trên huyện về với đoàn lần này bắt mắt lắm í - Mụ nhả chữ cách ngọt ngào hỏi hắn.
Hắn là cái thằng chân mày rậm hệt con sâu rộm, mắt sâu hoắm, sắc như dao. Hai con sẹo quệt dài, nỏng lên ngay đuôi mắt. Hắn bước vào, đặt mình trên chiếc ghế đẩu, thản người không nói không rằng.
- Hỏi bằng thừa - Mụ nguýt mắt. Bật dậy, tiếp : - Nhất, nhì hay xoàng đây?
- Xoàng đi - Vừa châm thuốc, hắn rít một hơi dài, phà một làn khói xám đục loạn trào.
Mụ ngạc nhiên rồi dịu giọng:
- Lạ nhỉ? Thói bất cần đâu rồi chú em? Thiếu tiền à? Yên tâm, chị với chú, lo chi cái chuyện í…
Mụ vẫn chứng nào tật nấy, miệng lưỡi ngoa ngoắt. Đã bảo không, mụ cứ nài, nài thì chỉ tốn hơi hao tiếng, mụ cứ nài để ấm túi mụ. Biết là tham thực, chỉ cực thân, mụ vẫn làm. Không có gì làm mụ vui, trừ tiền, vui rồi không vui, bởi có bao giờ mụ thấy thừa thãi. Làm ăn nhỏ lẻ, nợ nần khó đòi, thế mới cần một thằng trâu bò như thằng Mỡ. Cái thằng màu mã táo tợn, nhưng lòng nhẹ dạ như đàn bà...Thương! Mụ gọi con nuôi. Được việc! Nó là hộ tá đắc lực cho mấy vụ bâu vào nhả không ra. Vốn dĩ mụ dễ dãi với hắn, bởi quen lâu thấu hiểu. Cái tay trộm khét ấy chưa để mụ phải thiệt lúc nào cả. Đằng nào cũng có thứ ngon lành để “đáp lễ”. Hơn nữa, thằng Mỡ với hắn là chỗ thân tình. Mụ cóc sợ quỵt… Mụ giật nảy người khi nghe hắn đáp:
- Tôi cần tỉnh táo !
- Tỉnh sao? Ồ… thì đêm nào chú chả phải tỉnh! – Mụ đảo mắt,dí mặt lại gần hắn, the thé:
- Bộ hôm nay lại có phi vụ gì á?
- Phải, liên quan không?
- Có chi đâu, thì thăm hỏi thôi. Làm gì cay cú vậy chú em!… Ơ, sắp tới có đợt quyên góp từ thiện của cha phát động nữa, nghe đâu cả bên Úc, thân nhân gửi về ủng hộ quá trời luôn í. Ôi, lại phải… Mụ ngưng như lỡ lời, chớp chớp mắt, cười hẩy như đã nói xằng nói nhảm…
Nhưng hắn thấu cái bản chất của mụ. Và hắn đồng tình. Với ai, chứ với thứ linh mục như gã, một cắt cũng không thí.  Mồ mả tô vôi! Nào thì “gửi ngân hàng nước trời, lời gấp triệu gấp tỉ” hay “cứ làm đi, Chúa sẽ trả công bội hậu cho” . Sáo rỗng! Điên rồ! Chưa bao giờ hắn nghĩ lại có thứ linh mục phạm Thánh như thế. Lợi dụng mà khoét của bà con giáo hữu bằng những lời lẽ đường mật chết người. Thời xưa thì có quan ô nhục, ngày nay lại có linh mục bu dân. Chủ chăn còn thế ,cớ gì phải làm chiên ngoan. Hắn nốc một hơi, hai mắt ngầu đỏ. Cứ hễ nghĩ tới thằng cha đó, cái thằng mà người ta kính cẩn cúi chào thì hắn  lại thế. “Choảng”, cái ly vụn nát. Thực sự là… không nhịn nổi nữa. Bảy năm qua hắn ôm hận trong lòng về cái chết em gái hắn.Là do gã!
- Thôi mà chú, chuyện lâu rồi cứ để nó qua đi. Chị mày hi vọng chú đừng trách mình nữa. Quên đi mà sống tử tế, chú có làm gì thì con bé cũng không thể sống lại mà. - Mụ như hiểu được hắn nghĩ gì. Mỗi lần nhắc đến ông linh mục là hắn cứ phản ứng như thế!
- Không thể là không thể nào. Mẹ! Tao giết thằng nào, con nào nói không thể. Cái này đâm nát óc nó - Máu nhầy nhụa , hắn cầm mảnh thủy tinh vỡ lơ quơ lung tung. Hắn trở nên vô cảm! Kẻ lương thiện trong một xã hội bất công thì cũng trở thành tên sát nhân. Há há. Cười man dại rồi hắn cười ngặt nghẽo trong sự co rút, lẩy bẩy run của mụ. Mụ cũng cười, nhưng cười tái hãi. Hắn cứ thế như người điên. Nhưng hắn không điên. Hắn tỉnh! Người tỉnh cười như điên thì phản xạ đầu tiên là nước mắt chực trào. Giờ thì khóc, hắn gào lên thốn tim mụ. Mụ khiếp quá, mồm méo xệch, ngất đi. Mảnh vỡ cứa ngang cổ tay, hắn thiếp dần trong tiếng lá xào xạc, ve vãn trên mái tôn rỉ sét.
- Anh Hai, tối nay hông đi nữa nha. Chẳng ai giúp em chơi rubic hết. Chán lắm!
- Ơ, cái con nhỏ kì nè! Đợt từ thiện Giáng sinh này bên nước ngoài gửi về nhiều đồ lắm! Bọn anh phải giúp cha chuyển đồ về kho. Trong khả năng, mình giúp được gì thì cứ giúp. Trời lạnh rồi mà nhiều người không đủ chăn, mềm, quần áo ấm. Tội họ! Hai đi, lát về. Giáng sinh này hai hứa dẫn út đi chơi nghen!
Bé Hậu chu mỏ, khoanh tay ngó lơ hờn dỗi. Nhân bước lại, nhéo má Hậu, thỏ thẻ vào tai:
- Được rồi bà cụ non của tui. Cho Hai xin lỗi, Hai hứa mà. Nhất định lần này nữa thôi. Ngoắt tay nè.
- Thiệt chứ?
- Thiệt, thiệt. Không dám trái lệnh bà hoàng đâu ạ.
- Tạm tha cho Hai lần này đó nha. Hứ!
- Xin đa tạ...hehe. Ơ mà sao út thích chơi rubic vậy, nhỏ biết gì mà chơi - Nhân ghẹo
- Đừng khinh người nha. Nhỏ mà có võ đó. Nói chớ… út thích nó vì đây là món quà cha tặng út trong Mùa Phục Sinh, lại có ý nghĩa rất hay, mà bí mật, không nói cho Hai đâu.
- Gì dậy trời? Nói nghe coi.
- Hông. Hè hè…
- Ờ, ờ, hông hông nè. - Nhân thục lét , Hậu cười sặc sụa đầu hàng:
- Thôi được rồi. Để út nói…thì…
Điện thoại reo, Nhân vội nói: - Ấy chết, mải giỡn với út. Bạn Hai gọi rồi. Thôi Hai đi đây. Có gì xíu Hai về rồi nói. Nhớ khóa cửa kĩ vào. Coi bị bắt cóc đó, biết chưa?
- Biết rồi, nói miết à. Người ta lớn rồi nha, nha, nha!
- Này, chú, dậy đi. Không được. Này – Mụ hoảng hốt, đôi bàn tay lẩy bẩy run,lay mạnh hắn.
Hắn trợn trắng bật dậy
- Không được, tao không thể chết thế này được, không để vụ này oan ức mãi. Tao phải báo thù! - Hắn vùng dậy giữa vũng máu đặc sệt, cầm một con dao. Hắn bước ra… trong màn đêm lờ mờ trăng non.
Mụ rút điện thoại, hụt hơi nói…
21 giờ 58 phút…Trăng non lờ mờ
- Lạ mày, sao cha chưa tới. – Nhân hỏi
- À, tao chỉ biết lúc nãy cha có gọi nói cha bận chút chuyện. Lát đến.
- Ồ!
Ngược về phía nhà thờ theo hướng Bắc là con đường heo hút, lạnh tanh, nhang khói người ta cúng thần cúng thánh xông lên, lượn vòng, pha loãng lòe nhòe mắt. Nghe đâu, con đường này thường thế! Bởi những đêm trăng chưa tỏ, ở cái dinh cổ ảm đạm, khuất sau lũy tre, cạnh bờ ao dày lát; ai cũng nghe tiếng khóc thảm thiết hoặc giọng cười ớn rơn người của một thiếu nữ chết oan cách đây nhiều năm về trước… Chẳng ai dám ngó khi đi qua chỗ này lúc quá chín giờ hơn. Tối 13, trăng cũng non cũng lờ mờ nhưng mà đủ nhận ra đó là một người đàn ông trẻ trạc ba mươi đang vội vã. Bỗng chốc, anh thoạt dừng lại: tiếng rên khe khẽ phát ở đâu đó.
Càng lại gần, anh phát hiện âm thanh lạ đó không phát từ cái dinh kia mà là ngay cánh cửa sổ, ẩn sau bụi chuối tắm trăng, dọc lối mòn, cách đó vài thước. Anh rùng mình, bộ đó không phải nhà thằng Nhân sao? Quái. Nhà tối om. Chắc bé Hậu ngủ rồi, anh tiến lại gần hơn nữa, rồi hơn nữa… Im bặt, không một tiếng động. “ Soạt”! Anh giật bắn người: “meo meo” . Hóa ra một đôi mèo hoang đang hứng tình ra ám hiệu. Anh thở phào, nhưng… trông kĩ thì… dưới nền cát bây giờ là hai cái bóng đen: cái của anh là cái lùn lùn, tròn mình hơn, còn cái kia thì dài thòng, cứ nhún nhún liên tục. Một bàn tay buốt chạm nhẹ lên vai anh. Luồng khí dốc lạnh phà sau gáy. Quay lại hay bỏ chạy? Ai bảo linh mục không sợ ma? Ma chết oan thường ...  Anh hít một hơi thật sâu lộng phổi, lấy hết dũng khí và…
- Trời, sao cha còn ở đây? Ngoại con sắp tắt thở rồi. Mong cha lâu quá, nên con mới vội đến đón cha. Xin cha đi với con ! – Một cậu thanh niên trạc đôi mươi mặt trắng bệt gấp gáp thở nói.
- Ôi cậu làm tôi điếng. Ờ thì, cha cũng đang đi đây nhưng có điều kì lạ nên mới…
- Thôi, không còn thời gian nữa. Đi thôi cha ơi.
- Ờ rồi, Ok. Mình đi… Anh vừa đi vừa ngoái nhìn lại hai, ba lần nữa.
Hắn không biết cái đêm đó gã đi đâu, nhưng hắn biết gã đã có mặt tại nhà hắn theo lời chứng của mấy tay quen mùi mụ Hóa. Gã lén lút đi theo người nhà của bà chủ cửa hàng sắt giàu có. Bà theo chồng bỏ đạo mấy chục năm. Hẳn có vụ gì tính chung chia đây nên gấp thế? Đồng tiển xỏ mũi dắt gã đi, bỏ mặc sự sống chết của em hắn? Theo khám nghiệm, em hắn chỉ bị phong hàn, phát hiện sớm sẽ không đến nỗi. Nực cười! Để thỏa mãn tham vọng của gã mà em gái hắn phải chết à? Con dao sắc lăm lăm, thỉnh thoảng lại lóa lên phản chiếu cả sự cuồng điên chất ngập đôi mắt ấy. Hắn phỉ cha, phỉ cả bọn Kitô. Bọn nó mới thực sự là quỷ dữ. Hắn nhớ cái hôm nhà thằng già Bảy Lang mất con gà cồ đá. “Mẹ! Thằng cha nó, nghèo quá túng. Cha mẹ chết, cóc để thứ gì cho bọn nó. Đến cái lai quần cũng cắt bán ăn, cùng rồi, dòm ngó mà sinh tật trộm cướp. Tao nguyền cả dòng họ”.  Hễ mất gì, cái mỏ cẩu của con vợ nó cứ hoạt động tích cực, chốc chốc quay về hướng nhà hắn sủa om sòm cho đã cơn ức. Thế đó! Hắn như ngậm bồ hòn nuốt nước mắt vào trong, chứ chẳng biện gì, mà biện cũng chẳng ai nghe… Lớn lên chút, em hắn biết thế nào là tự trọng, tự ái thì bọn con nít láng giềng được cha mẹ nó giáo dưỡng: cứ gặp em gái hắn lại trêu đến phát khóc cho vừa. Chúng dở mấy câu biếm “Xóm có Nhân, có Hậu/ Nhà xác xơ bờ giậu/ Tậu đồ cúng dinh bà/ Thương hại bà khóc la”. Ấy đó, bọn chúng là cái bọn kinh kệ bô bô, chịu ơn xong rồi bô bô xỉa ruột người khác. Hắn không thể cứ hiền lành để người khác cưỡi lên đầu,lên cổ mãi.
A, kìa! Hắn miên man nghĩ mà chẳng biết mình đứng giữa sân nhà thờ từ lúc nào, máu đong khô quện lại? Lao thẳng về phía nhà xứ, hắn đạp tung cánh cửa khép hời. Thời điểm này thích hợp nhất,có thể cái bọn tôi trung của gã đi xem tuồng cả. Mình gã ở nhà thì tốt quá rồi. Là hắn nghĩ thế! Hắn tìm mọi ngóc ngách trong nhà, “Mày trốn rồi à, ra đây cho tao cái thằng trịch thượng. Tao tìm được là tao giết mày. Bao năm rồi, tao nhịn, nhưng giờ thì không. Tao phải kết thúc mọi chuyện”. Im bặt! Không được, gã tinh ranh quá, chắc gã sợ ở một mình! Hắn trấn tĩnh, suy tính. À, phải rồi, phải có giấy tờ bằng chứng gì đó để chứng minh gã là cái loại trục lợi hoặc chí ít cũng có tiền trong nhà. Phải rồi, tao phải tống mày vô tù, nếu không, tao cũng lấy sạch tiền mày. Hắn lục tung mọi thứ , chẳng có gì giá trị ngoại trừ một tập giấy:
“Viện Pháp y Quốc Gia. 26/2/2009. Mã số tử thi: 0039721387. Kết quả giám định ADN: Tử thi là nữ, độ tuổi khoảng 9 – 10, thời gian xác định tử vong cách đây khoảng 13 - 15 tuần. Theo lời người cần giám định, nạn nhân tử vong vì chứng phong hàn, tuy nhiên, hoàn toàn không hợp lý. Cổ chân nạn nhân bị sợi dây mềm buộc chặt (dấu vết bầm tím) nhưng không hề ảnh hưởng xương bên trong. Trước đó mẫu hoocmôn được gửi đến ngày 19/12/2008 đã được kiểm định và bảo lưu. Tuy thời gian tử vong khá lâu, nhưng vẫn còn tồn đọng một ít lượng hoocmôn adrenaline và noradrenaline trong tuyến thượng thận chứng tỏ nạn nhân có thể sợ hãi hoặc tức giận trước khi tử vong . Hoocmôn này tăng mạnh khi con người gặp phản ứng sốc gây hiện tượng co mạch. Nạn nhân có thể bị ép phải giao cấu với nam giới vì mẫu tinh dịch được tìm thấy trên chân nạn nhân . Nồng độ testosteron khá ít có thể xác định hung thủ là nam giới: yếu sinh lý hoặc lớn tuổi. Phát hiện trên răng có dính máu, máu này hoàn toàn không phải của nạn nhân, có thể trong lúc kháng cự nạn nhân đã cắn vào kẻ hãm hại. Móng tay nạn nhân có dính một lớp biểu bì, hoàn toàn khớp với mẫu ADN tinh trùng và máu. Kết luận: nạn nhân vì khủng hoảng tinh thần mà tử vong.” Hắn ngờ ngợ, tiếp tục lật tiếp từng trang giấy:
“3/5/2009. Mẫu ADN máu trên răng của nạn nhân 0039721387 trùng khớp đến 98,96% mẫu AND trên tóc và móng tay cần giám định”
“7/6/2009 Đơn Khởi kiện. Nguyên cáo: Đinh Dương Hoàng…  Bị Cáo : Phùng Huy Bá …  19/11/2008 Bị cáo có hành vi lạm dụng tình dục trẻ em ... Nạn nhân : Võ Linh Hậu sinh ngày 2/7/1998 … gửi kèm bằng chứng”
Sốc! Và hắn tiếp tục sốc…
“8/3/2010 Đơn  kiện … 5/12/2010 … 8/4/2012… “
Hắn quỵ gục xuống, ngoi ngóp thở. Cảm xúc đột biến liên hồi. Thực sự là … cái quái gì đây?Càn rở! Tại sao? Tại sao sự thật tàn khốc đến thế này ? Em gái hắn… Lão ta… Tại sao? Hàng ngàn câu tự vấn diễn ra trong đầu hắn. Háháhá… Hắn lại cười: man dại, rồi cuồng điên. Hắn lững thững giữa mớ hỗn độn trong đầu rồi hắn chợt nhớ: Phải, hắn đã từng cảm thấy mộ bé Hậu có gì đó không ổn,nhưng lúc đó có một số hài cốt quanh đó được di tán cho nên có thể đó chỉ là dấu vết khai quật của những mồ bên cạnh thôi. Giờ thì… hắn biết ông linh mục khai quật trái phép, nhưng không trách ông và càng không có quyền giận ông. Vì ông chính là người luôn âm thầm đòi lại công lý cho em hắn. Là bác sĩ cho nên có thể ông đã phát hiện điều gì khả nghi khi thấy thi thể…Hắn đã lầm, lầm to! Kẻ thù thực sự của hắn chính là lão – một tên điên mà hắn từng chạnh lòng thương xót… Bằng chứng quá rõ ràng, nhưng không thể thắng kiện. Ừ thì là lão Bá, có công Cách Mạng đấy! Thất thủ thì cặp đất ăn à? Có quyền, có tiền thì vô tội. Hay! Hay lắm! Người hắn nóng rân, con sẹo quệt dài dưới con mắt đằng đằng sát khí càng khiến hắn đáng sợ hơn bao giờ hết. Hắn đâm sầm ra mỏm đất rốc gió cuối xóm để gặp em hắn lần cuối...
Giữa không gian u tịch, sương trắng là là phủ trên những ngôi mộ cũ ảm đạm, hơi lạnh phả ra từ những nấm mộ mới, càng khiến cho mọi thứ tan chậm trong buốt giá. Hắn bỗng khựng lại,người đàn ông mặc áo màu đen đang cầm nhành huệ trắng trên tay, đứng trầm ngâm trước mộ em gái hắn.
“Xin lỗi cha, con sai rồi!” Hắn lẩm bẩm như thế… từ xa… Hắn thấm hiểu: vì sợ hắn biết sự thật, sợ hắn nóng nảy, lại sinh chuyện nông nỗi nên mặc nhiên ông cứ lặng thinh mỗi khi hắn nhục mạ.
Mũi hắn ửng đỏ, răng nghiến ken két. Tay vẫn lăm lăm con dao ấy. Hắn xồng xộc quay đi: “Tao thách mày đấy, thằng già. Xem mày giả điên khùng thì có thoát khỏi cái này không?”
Hắn đi vài thước thì…
… bị đánh úp từ phía sau, ngã gục. Mắt mờ dần. Hắn mơ hồ, nhưng cái chóp tóc hệt như con gà cồ mới phát dục ấy thì hắn rất quen. Thằng Mỡ... Thằng Mỡ Gà!
Hắn lịm đi…
Tuần thứ II, Phục Sinh năm ấy… loáng thoáng hắn nghe thấy…
- Con nhìn xem. Khối rubic này có màu rực rỡ và có màu trầm tối, đúng hông? Thử tưởng tượng con nhé. Tội lỗi ví như ô màu tối làm nổi bật lên lòng thương xót Chúa chính là những ô màu rực rỡ này. Cũng có thể hiểu thế này: Mỗi người trên thế giới này, giống như một mặt,dù họ đại diện màu gì đi nữa thì khi tất cả liên kết lại, mới hợp thành một khối hoàn chỉnh! Trong Chúa, mọi người là anh em của nhau!
Cô bé chăm chú lắng nghe vẻ hiếu kì:
- Thiên Chúa vĩ đại quá, cha hén? Một ngày nào đó con cũng muốn được như cha, được làm linh mục và nói hay y như cha vậy.
- Ơ, sao là linh mục. Phải là ma sơ mới đúng. Haha… - Vị linh mục trẻ bật cười khi nghe những lời nói ngây ngô ấy.
- Sao cũng được mà. Nhưng muốn như cha, con phải làm gì?
- Con hãy dâng hiến tất cả mọi thứ và để Chúa lo…
Hắn lại mơ hồ … “Vậy cha tha tội cho con nhân danh Cha và con và Thánh Thần”. “Cám ơn Cha, liệu con có được rỗi không cha”. “Hãy cậy trông vào Lòng Thương Xót Chúa con nhé!” . Gượng dậy sau cú đánh khiến hắn khốn đốn. Bất ngờ, hắn tá hỏa. Ôi không, máu… máu… thằng Mỡ… con dao… Hắn lắp bắp. Con dao thọc sâu vào bụng , máu lênh láng đổ vào các hốc đất nhỏ ven đường. Nó gắng cười với hắn,mắt mờ lệ, rồi gục đầu trên tay vị linh mục, tắt thở…Hắn điếng!
- Cuộc đời lắm chữ ngờ… Giống như khối rubic, nhìn trực diện chúng ta chỉ thấy một mặt thôi. Và dù cố xoay mọi góc, mọi hướng, chúng ta không bao giờ thấy hết những mặt còn lại…- Ông ngậm ngùi , đặt đầu nó xuống đất.
Ông quỳ mọp xuống ,đau đớn:
- Chúa ơi! Con là một tội đồ! Con là thủ phạm giết người rồi! Làm sao con xứng đáng với chức vụ mà Chúa trao phó cho con. Nếu con có thể tha thứ cho ba nó, nếu con có thể thì…
Hai cú tay hắn nắm chặt, sững đờ ra, cứng mồm:
- Ba, ba nào của nó. Nó chẳng phải mồ côi sao?
Hơn hai chục năm trước, vì tiền thang thuốc cho mẹ già. Mụ Hóa xin ở đợ cho lão Bá –giàu có tiếng trong vùng. Hay đâu lão chỉ chọn những đứa tầm mười mấy tuổi.  Lão thì đã ngoài bốn mươi, song vẫn đơn thân đó!
Chứng ấu dâm có thể là một bệnh lý bẩm sinh hoặc do sang chấn mạnh về cảm xúc từ nhỏ. Vấn đề tình dục của người này hoàn toàn lệch lạc, đối tượng họ hướng đến là những thiếu nữ dưới hoặc ở độ tuổi vị thành niên, thậm chí là các bé gái… Lão mắc chứng ấu dâm. Và mụ là con mồi ngon của lão…  Thời điểm đó mụ khiếp hãi mà chẳng dám oán. Oán thì mẹ mụ chết! Thế đấy, nghèo nó sinh tội chịu nhục. Không khó để hiểu mụ trở nên thực dụng. Mụ quyết phải no đủ để lo cho cái kết tinh không mong muốn ấy – thằng Mỡ Gà. Mụ không muốn nó phải chịu miệng đời nguyền rủa. Khi biết mình mang thai thì mẹ mụ mất, mụ trốn đi thật xa. Năm bảy năm sau lại vác mặt về, dẫn theo đứa con nít ú nần, gọi là con nuôi. Đấy, thằng Mỡ lớn lên như thế!
Khi nó biết lão Bá hãm hại bé Hậu - đứa trẻ mà nó yêu thương như em mình! Cũng là lúc nó biết một sự thật tàn khốc hơn. Mụ cho nó hay, cốt không để cha con tương tàn. Mụ buồn trách: “Dù gì cũng là bố mày, mày nỡ như thế sao? Tao biết ông ta là tên bệnh hoạn, nhưng có ai muốn thế đâu. Cuộc đời lão cũng lắm cái cực. Bố lão cờ bạc đàn đúm, rồi đôi co khiến mẹ lão chết. Suốt ngày, lão phải làm việc. Đêm về mình mẩy lại nát nhừ ra chỉ vì tật chè chén, đánh đập của cha lão. Lão khốn đốn! Lão bỏ đạo, chạy theo vật chất để đua lên cái chức Trưởng Huyện… Giờ lão phát điên rồi. Không có tình thì cũng có nghĩa. Mày có thể làm vậy sao?”. Thế đấy! Nó bỏ ngoài tai những lời thanh minh ấy, nó định báo thù! Song khi đứng trước mặt một thằng già ngờ nghệch, điên khùng, mình mẩy hôi thối mùi phân. Nó không nỡ, bỏ về, lòng ngổn ngang. Và… nó vẫn cứ theo hắn, nhưng giấu nhẹm đi sự thật. Nó bứt rứt… Đêm nay, mụ gọi bảo nó âm thầm trông chừng hắn. Mụ ích kỉ nhưng lại sợ hắn sai lại càng sai. Mụ thực dụng. Đúng, nhưng không hẳn. Thực dụng nhưng không thất đức...
Thế đấy! Nó vốn là đứa hiền lành… Và nó nghĩ chỉ khi nó chết đi, mới có thể đền hết tội cho hắn, cho bé Hậu để hi vọng hắn có thể sống tử tế… như lúc trước mọi chuyện chưa hề xảy ra.
- Xin cha hãy ban phép lành cho con, vì con là kẻ có tội.
Trăng vẫn sáng! Càng khuya, trăng càng lên cao và tỏ tường. Lạ thay, mây kéo đến ùn ùn, trút cơn mưa lớn. Cả người và vật ướt tầm tã. Cơn mưa Lòng Thương Xót…















































































Mã số: 17-174
Bình minh lên…
Đó là khi ánh mặt trời rạng rỡ bắt đầu đặt những bước chân đầu tiên xuống thềm trái đất. Từng dải nắng vàng óng lan dần…trải lên muôn loài cái ấm áp long lanh.
Tôi hồi hộp dắt chiếc “cân đẩu vân” ra khỏi nhà. Tất nhiên đó không là một đám mây mà tôi có thể tót lên bay vù vù như Tôn Ngộ Không. Đó là chiếc xe máy màu trắng, giống màu của những đám mây, nên tôi gọi nó là “cân đẩu vân”.
Tôi có cuộc hẹn với một Mục sư, tuy tôi là một người Công giáo. Hai điều này nghe không có gì liên quan đến nhau, ngoại trừ cả hai đều thờ Chúa. Tôi biết vị Mục sư này khi tham gia cuộc thi Viết Cho Niềm Tin, của một Hội Thánh Tin Lành bên Mĩ. Chúng tôi đều là nhóm đạt giải.
Năm ngoái Mục sư từ Úc về Việt Nam. Tôi, một kẻ không chịu được nóng, càng không chịu được lạnh, đã phải đóng quần áo dày cộm, phóng xe đi dưới cái rét thấu xương, trong làn mưa lạnh buốt. Người ta đã từ tận nước Úc xa xôi về đây gặp mọi người, chẳng lẽ mình chỉ có vài km đường mà lại không đến? Mưa một tí, rét một tí mà cũng ngại thì còn làm gì được cho đời? Nghĩ thế nên tôi bắt mình phải đi.
Mới ra khỏi nhà thì tay tôi run run vì rét, lái xe một lúc thì cơ thể quen dần, và hết run, tuy chưa hết rét.

Lần gặp đó, có khoảng gần mười người tất cả. Tôi không nhớ rõ. Cái tuổi ba mươi tư của tôi có bộ nhớ khá “hom hem”, phản ánh tình trạng: “Gái ba mươi tuổi đã toan về già.” Mà đúng thế thật, chỉ một năm sau là tôi chẳng nhớ gì về buổi gặp đó. Trừ một gương mặt và một cái tên: Thanh Liêm!
Có hai Mục sư trong buổi thông công đó, nhưng tôi không ấn tượng gì về anh Mục sư trẻ, chỉ hơn tôi vài tuổi. Mà tôi lại ấn tượng với Mục sư Liêm, nhiều hơn tôi chừng hai mươi tuổi. Có điều gì đó rất đặc biệt nơi Mục sư Liêm, mà tôi đã “giật mình” ngay khi vừa đối diện. Cái “giật mình” đó lại càng trở nên khó quên hơn khi tôi bị ngã xe cách lãng xẹt trên đường về. Và từ hôm đó trở đi, cứ mỗi lần nghĩ đến buổi gặp gỡ, là tôi nghĩ đến cú ngã xe. Cứ nghĩ đến cú ngã xe, là tôi lại nghĩ đến Mục sư Thanh Liêm. Chứ sao nữa! Vì nếu không có Mục sư, tôi còn lâu mới đến!
Sau đó, tôi cất Mục sư Liêm vào đâu đó sâu trong bộ nhớ “đã toan về già” của mình. Để thời gian trôi qua, và giữa chúng tôi cũng không hề có thêm sự liên lạc nào. Tất nhiên tôi và nhóm tác giả đều có kết bạn Face book với nhau. Nhưng chúng tôi rất ít tương tác. Nhất là tôi và Mục sư Liêm, càng chẳng có cuộc trò chuyện nào. Vì Mục sư từng nói với nhóm là rất bận, nên tôi cũng không muốn làm phiền.
Trong năm đó, tôi gặp một sự cố khá nghiêm trọng với cái Face mà tôi vẫn sử dụng. Tôi phải khóa Face đó lại, và dùng Face cũ. Tôi lại gửi lời mời kết bạn cho Mục sư Liêm và mấy Mục sư của chương trình Viết Cho Niềm Tin, cùng nhóm tác giả. Chờ một thời gian thì mọi người cũng lần lượt xác nhận bạn bè với tôi. Nhưng Mục sư Liêm thì không thấy đáp lời. Tôi nghĩ có lẽ Mục sư bận quá… Và tôi cũng nhanh chóng quên chuyện này, cho đến một ngày nọ, mà cái “ngày nọ” ấy là ngày tháng nào thì tôi cũng không nhớ, Face Book thông báo: Thanh Liêm đã chấp nhận lời mời kết bạn của bạn. Chà! Tại sao bây giờ mới chấp nhận nhỉ? Cứ tưởng Mục sư Liêm không dùng Face!
Rồi tôi lại thấy Mục sư rất chịu khó đọc bài trên Face, nhờ những cái “Like”. Tôi đã nghĩ có thể Mục sư “like” trước rồi đọc sau, hoặc bận quá cứ “like tạm” để đấy mà không có thời gian để đọc. Vì những bài được “like” đó đều khá nhiều chữ. Và tôi nhầm. Mục sư Liêm đã vào bình luận bài đăng trên Face của tôi. Nghĩa là có đọc.
Những chi tiết rất nhỏ đó thôi, cũng khiến tôi suy nghĩ. Vì các Mục sư khác đều rất nhanh chóng nhận lời kết bạn với tôi trên Face, nhưng không bao giờ tỏ thái độ gì. Nếu tôi nhắn tin nói chuyện, thì họ trả lời. Nhưng xa xôi như mỗi người thuộc về một vũ trụ khác. Những bài của tôi, chẳng biết họ có để ý hay không, mà không có dấu hiệu gì. Còn Mục sư Liêm, tuy là người cuối cùng xác nhận kết bạn với tôi, nhưng lại là người đầu tiên nói chuyện với tôi, “để mắt” tới cái Face của tôi như một người bạn thật sự. Thật đặc biệt.
Vì thế, tôi đã rất vui khi Mục sư Liêm nói trên Face của tôi rằng sẽ về Việt Nam vào dịp giáp tết cổ truyền năm 2017 này, và muốn gặp tôi cùng các anh em Tin Lành. Gặp Mục sư Liêm thì tôi rất sẵn sàng, vì qua lần hội ngộ năm ngoái, tôi đã cảm nhận một chút về cách ứng xử của Mục sư. Nhưng còn có cả các anh em Tin Lành nữa! Tôi rất ngại. Vì mọi cuộc gặp với Tin Lành, tôi đều phải rất…nói nhiều. Vì họ hỏi nhiều. Mà toàn những câu hỏi mang ý phản đối. Mỗi lần gặp người Tin Lành về, dù là gặp Mục sư hay tín đồ, tôi đều thấy muốn “ngậm miệng” một thời gian cho cái miệng được nghỉ ngơi hồi sức. Vì đã phải nói quá nhiều trong một thời gian quá ngắn. Tuy Công giáo và Tin lành đều có chung quyển Kinh Thánh, khác cách dịch. Chung nền tảng giáo lý và tín lý. Nhưng những tín điều về Đức Mẹ, về các Thánh, và cách cử hành phụng vụ…thì đều khác nhau. Và tôi nhận thấy hai bên có nhiều hiểu lầm. Mà tôi, một kẻ nhỏ nhoi cao chỉ đến mét rưỡi, làm sao có thể là sứ giả hòa bình cho “cuộc chiến kinh điển” nhất lịch sử tôn giáo này…?
Họ đều sẽ hỏi: “Kinh Thánh không có đoạn nào nói Bà Maria đồng trinh trọn đời, vì có đoạn chép ”Các môn đệ đến nói với Chúa Giêsu: Thầy ơi, có mẹ và các anh em của Thầy đến gặp Thầy…” ( Mt 12, 46 – 50 ). Nghĩa là sau khi sinh Chúa Giêsu, bà Maria và ông Giuse còn sinh thêm những người con của hai người nữa. Kinh Thánh chép Đức Maria giữ mình đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu, chứ không nói là Đức Maria đồng trinh trọn đời…”
Tôi thì vặn lại thế này: “Chính xác thì đoạn nào, câu nào nói sau khi sinh Chúa Giêsu, bà Maria và ông Giuse sinh thêm những người con? Nếu thật sự Chúa Giêsu có các anh em kiểu đó, thì phải có ghi trong gia phả Chúa Giêsu chứ?
Và tôi sẽ “giảng” một bài về sự chọn lựa của Thiên Chúa Cha để chuẩn bị cho Chúa Giêsu một người mẹ đặc biệt, một người cha đặc biệt và một gia đình đặc biệt. Đại loại là, đến những con người như chúng ta còn muốn chọn lựa điều tốt đẹp nhất cho con mình, huống chi đây là Thiên Chúa! Chẳng lẽ Người không muốn có những điều phi thường nơi gia đình, nơi người phụ nữ sẽ sinh ra con Thiên Chúa, nơi người đàn ông sẽ là trụ cột cho gia đình trần thế của Chúa Giêsu?... Chúa Giêsu sống ba mươi ba năm trần gian, mà chỉ ra đi rao giảng có ba năm cuối, mà Người ở trong gia đình những ba mươi năm đấy nhé! Sống trong nhà với Thiên Chúa Cực Thánh, lẽ nào Maria và Giu se lại như những người đàn ông đàn bà bình thường hay sao? Coi thường Maria và Giu se, phải chăng các bạn đang nghi ngờ Chúa Giêsu có chắc chắn là Đấng Cứu Thế, là Thiên Chúa thật hay không?
Rồi nào là vấn đề ảnh tượng, họ bảo: Kinh Thánh nói rất rõ ràng, rằng Thiên Chúa ghét làm hình tượng…
Gọi các Linh mục là cha: không đúng.
Gọi Đức Giao Hoàng là Đức Thánh Cha: phạm thượng, từ đó chỉ có thể nói về Thiên Chúa…
Và họ không tin bàn tay Linh mục lại có thể hóa bánh và rượu thành thịt và máu Chúa Giêsu. Họ không tin một con người là linh mục có thể tha tội cho người khác, chỉ Chúa mới có quyền tha tội. Họ không tin Thánh Thủy, bàn tay Linh Mục không thể biến nước thường thành nước thánh…và hàng một nghìn lẻ một điều họ không thể tin được là công giáo lại tin.
Tôi “giảng” bằng cách liên hệ từ Cựu Ước đến Tân Ước. Môsê có phải là Chúa không, hay là một con người? Thế mà ông ấy cứ giơ tay lên thì quân Israel thắng trận, khi ông mỏi tay mà hạ xuống, Israel thua. Ông Aharon và ông Khua đã phải đỡ tay ông Môsê để ông có thể giơ tay được mãi, nhờ vậy mà quân Israel cứ thắng (Xh 17, 8 – 13). Cây gậy của ông Môsê cũng đã làm nên bao phép lạ trước Pharaol, và khiến biển rẽ làm hai…Chẳng lẽ đối với Chúa, cậy gậy vô tri vô giác lại cao trọng hơn bàn tay những con người? Mà thân thể con người là “đền thờ của Thánh Linh” đấy chứ?... Chúa không thể dùng bàn tay của “đền thờ Đức Thánh Linh”, bàn tay Linh mục để làm trung gian cho quyền năng và tình thương của Thiên Chúa sao? Ừ thì Linh mục là người, không có quyền tha tội cho người khác với tư cách một con người. Nhưng Linh mục ngồi trong tòa giải tội đó với vai trò trung gian, giống cái gậy của Môsê! Linh mục nói: “…Vậy nhờ tác vụ của Hội Thánh, tôi tha tội cho bạn nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Nghĩa là chính Chúa Thánh Linh hiện diện tại đó, để tha tội qua người Linh mục!
Tôi cũng nhắc đến việc Phaolô đặt tay chữa lành và ban Thánh Thần cho người ta (Cv 19, 4 - 6). Vậy Phaolô không phải là người hay sao? Ông lấy đâu ra quyền năng đó? Tại sao Thiên Chúa không tự mình ngự xuống trên những ai đón nhận Người qua lời chứng của Phao lô, mà ông cứ phải đặt tay thì họ mới nhận được Thánh Thần, được chữa lành hay được đuổi quỷ? …Tại sao Chúa không sai các Thiên sứ xuống đánh trận với Israel để họ dễ dành chiến thắng, mà ông Mô sê lại cứ phải giơ tay lên?
Và rất nhiều trích dẫn Kinh Thánh tôi nêu ra để đối luận với họ. Họ cho rằng tôi bị nhồi nhét quá kỹ, mà không nghĩ đó là sự xác tín cá nhân của tôi. Là công trình bao tháng năm tôi đào bới Kinh Thánh trong nỗi cô độc. Tôi thật sự không thích việc biến Kinh Thánh thành vũ khí chiến đấu với nhau. Công Giáo và Tinh Lành như hai anh em trong một gia đình của Người Cha Thiên Chúa, nhưng cứ như hai cực cùng dấu của một thanh nam châm, cứ chống lại nhau, đẩy nhau ra xa, hoặc tìm cách khuất phục nhau. Mệt!
Thật lòng mà nói, tôi rất ngưỡng mộ Tin Lành vì họ giỏi Kinh Thánh, họ vững vàng và dạn dĩ trong việc thể hiện đức tin. Họ có tầm nhìn rất “chiến lược” trong việc mở rộng chương trình “Môn đồ hóa” cho các tín đồ. Họ luôn chăm sóc đời sống đức tin của nhau rất chu đáo, và phong cách sống của người Tin Lành rất tử tế.
Ở đây, tôi không muốn nhắc đến các Hệ phái “ đi lạc”, mà chỉ nhìn chung cách tổng quát về các Hệ phái “chính đạo”. Tuy ngay cả những người Tin Lành theo “lạc giáo” ( như các Hệ Phái Chứng nhân Giêhôva, Đức Chúa Trời Mẹ, Phúc Âm Đời Đời, Mặc Môn, Tia Sét Phương Đông…) họ cũng ứng xử khá lịch thiệp.
Tóm lại là tôi thấy thật oan uổng cho đời sống đức tin của Công Giáo và Tin Lành nếu chúng ta cứ loại bỏ lẫn nhau. Cả hai đều có những ưu và nhược điểm cần hỗ trợ bổ sung cho nhau, để cùng nhau bước vững vàng trong ơn nghĩa Chúa.
Nghĩ miên man về chiến tranh ngầm của hai anh em Công Giáo – Tin Lành, tôi đã định không đi giao lưu.
Thế mà chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào, mà tôi lại nhắn vào inbox của Mục sư, tôi cũng không nhớ là mình đã hỏi cái gì, nhưng Mục sư trả lời luôn là đang ở Việt Nam rồi, và cho tôi biết ngài dự định xuống Hải Phòng. Mục sư đã thể hiện rõ sự tôn trọng tôi, khi nói với tôi trước. Để nếu tôi có trở ngại gì vào ngày đó, thì Mục sư có thể thu xếp ngày khác phù hợp với tôi, rồi báo cho các anh em Tin Lành sau, để có thể gặp được đầy đủ những người mà Mục sư muốn gặp. Tôi chuẩn bị cho lời từ chối của mình bằng một câu nói là sẽ thu xếp. Ý tôi là có thể tôi sẽ không đến.
Và đến hôm ấy, cũng không hiểu trời xui đất khiến thế nào, mà tôi cũng lại là người nhắn tin hỏi thăm Mục sư trước. Có thể trong lúc đó, tôi bỗng dưng muốn nói chuyện với ai đó… và nghĩ là nói chuyện với Mục sư Liêm cho nó lành…?! Và câu trả lời của Mục sư là đang ở Hải Phòng rồi. Người hỏi tôi có đến được không? Tôi nói là để tôi thu xếp, mà thật ra chẳng có việc gì phải thu xếp cả. Chỉ là tôi ngại “đấu khẩu” nên không muốn đi. Thế nhưng tôi nghĩ: Người ta từ ngàn dặm xa xôi về đây, trời thì không nắng không mưa, lại ấm áp chứ đâu có rét! Tôi nhắn lại là tôi sẽ đến.
Mục sư Liêm nhắn cho tôi địa chỉ nhà thờ, nơi Mục sư đang ở đó với Mục sư Hiền và mấy anh em Tin Lành nữa. Tôi dắt xe máy ra khỏi nhà. Thôi được rồi, gặp thêm lần nữa xem sao! Điều gì nơi ông Mục sư này khiến tôi muốn tìm hiểu đến vậy? Đấu khẩu một chút cũng không sao. Cả năm qua tôi cũng đã cho cái miệng của mình nghỉ ngơi khá nhiều rồi.
Tôi đi mà không biết rõ nơi tôi cần đến. Địa chỉ không có số cụ thể. Tôi thì không có số điện thoại của Mục sư Liêm. Thật ra năm ngoái thì tôi có số của cả hai Mục sư, nhưng cả năm không liên lạc gì, tôi không chắc là số đó vẫn gọi được. Mà tôi cũng sơ xuất, lẽ ra khi Mục sư Liêm hỏi số điện thoại của tôi, thì tôi cũng nên hỏi số của Mục sư chứ, thật là…!
Ghi nhớ địa chỉ, tôi vừa đi vừa xác định phương hướng trong đầu. Đi theo tên phố, rồi theo tên xóm, tên đường…và tôi bất ngờ dừng xe ngay trước cổng nhà thờ. Tuyệt, tạ ơn Chúa! Mục sư Hiền ra cổng đón tôi, tất nhiên là có cả Mục sư Liêm nữa.
Mục sư Liêm dang cánh tay định chào đón tôi bằng một cái ôm thân thiện, kiểu Úc. Nhưng tôi chưa đi Úc bao giờ, suốt đời tôi chưa từng bước chân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nên tôi bối rối chỉ bắt lấy bàn tay ấm áp của Mục sư, mà lờ đi cái ôm kiểu Úc ấy. Cái bắt tay của một đứa chuyên chào hỏi bằng… lời như tôi là khá xa xỉ.
Vào phòng khách nhà thờ, căn phòng khá rộng, đủ cho năm mươi kẻ như tôi lê la. Tôi cười thật tươi để che dấu vẻ ngại ngùng. Vì dường như mọi người đều biết có tôi sẽ đến. Nên không ai hỏi tôi là ai, sao là người Công Giáo ở Việt Nam mà lại quen một Mục sư ở tận bên Úc? Tôi vui vẻ nói chuyện, mà thấy khá mất tự nhiên, và lạnh. Không hiểu sao tôi lại thấy lạnh, khi trời thì rất ấm. Có thể do tôi thấy trời ấm nên mặc ít áo rét. Đường thì xa, nên tôi ngấm lạnh.
Còn cái sự mất tự nhiên kia, khác với phong độ của tôi khi gặp người Tin Lành. Tôi thoáng có cảm giác mọi người đang nghĩ tôi …”phải lòng” Mục sư Liêm. Kệ họ. Muốn nghĩ sao thì nghĩ. Hơi đâu bận tâm đến ý nghĩ của người khác làm gì. Và đúng là tôi chẳng còn bận tâm chuyện đó, khi một chú trong nhóm bắt đầu “khởi kiện”:
“Bên Công Giáo thờ Maria là sai Kinh Thánh…Bà Maria cũng chỉ là tạo vật…”
Tôi trả lời: “Dạ, không phải là thờ đâu ạ, mà là tôn sùng…” Thật ra vấn đề này nhiều người Công Giáo cũng không nắm rõ, nên khiến người Tin Lành hiểu lầm.
Tôi chưa kịp nói tiếp, thì chú khẳng định thêm: “Đúng là thờ mà…”
Tôi chưa kịp mở miệng để kích hoạt “tài khoản giáo lý” của tôi, thì Mục sư Liêm đã cắt ngay lời chú ấy. Thế là chú hiểu ý, tuân phục mệnh lệnh ngầm. “Chiến tranh” vừa mới nhen nhóm đã được dập tắt. Rồi Mục sư Liêm kể chuyện. Hình như ông kể câu chuyện của nhà văn Công Giáo có tên Chesterton của nước Anh, tôi không nhớ nhưng thấy rất vui và ý nghĩa... Tôi lại một lần nữa bị ấn tượng với cách cư xử rất hay của vị Mục sư ấy. Vì trong những lần giao lưu kiểu này, tất cả sẽ đều tham gia thuyết phục tôi, nhất là hàng Mục sư. Vậy mà ở đây, tôi lại được chính vị Mục sư ấy nghiêm sắc mặt che trở. Thế nên mọi người vui vẻ đổi chủ đề.
Tôi vốn đã rất ấn tượng với cách ứng xử của Mục sư Liêm. Khi xuống Hải Phòng, người đã hỏi, “Thoa có đến được không?” Ông gọi tôi bằng cái tên rất gần chứ không nói là :”Mời bạn đến”, hay “Mong bạn cố gắng thu xếp… tôi đã từ xa xôi về đây, để gặp mọi người, mong bạn cùng có mặt để buổi thông công được đầy đủ những gương mặt thân quen…” Đó là cách mà người ta sẽ nài nỉ được ai đó. Và tôi không phải là người thích sự nài nỉ đó. Tôi thích được tự do trong những quyết định của mình. Câu hỏi: “Thoa có đến được không…?” của Mục sư đã rất thành công trong việc mời được tôi. Vì nó cho tôi cảm giác được tự do, với sự chân thành muốn gặp tôi được thể hiện từ trước.
Tôi thấy nể ông Mục sư này. Mỗi lần gặp, ông đều để lại trong tôi những ấn tượng rất nhỏ, mà tiếng vang thì rất lớn. Mục sư không nói nhiều, không thao thao bất tuyệt những Kinh Thánh và Lời Chúa. Mà tham gia vào câu chuyện của mọi người cách rất nhịp nhàng, vui vẻ. Tôi cũng không phải “giảng” gì cả, mà vui vẻ lắng nghe, nói ít thôi, để còn quan sát và cảm nhận…
Mục sư mời tôi và mọi người, là khoảng gần mười người, đi ăn trưa. Tôi được mời đích danh, và Mục sư Liêm nói thẳng là cuộc gặp này chủ yếu để mời tôi đi ăn, chúc mừng tôi đã đạt giải nhì với một tác phẩm truyện dài trong cuộc thi của Giáo phận Xuân Lộc. Tôi thấy mình thật thiếu sót khi không thể đem theo tác phẩm đó đến đây, tặng nó cho Mục sư. Và cho đến bây giờ, khi tôi đang thức đến gần 3 giờ sáng để gõ câu truyện này, thì tôi vẫn còn không biết bản thảo 250 trang đó, nó đã được in ra sách chưa…?
Sau bữa trưa, là café trò chuyện. Vài người tỏ rõ sự nhiệt thành muốn Mục sư đến thăm nhà. Tôi lại “bơ” đi. Không mời và cũng không nói gì về việc đến nhà tôi. Vì nhà tôi là nơi tôi dành riêng cho con trai tôi chơi đùa, nên không có bàn ghế và những thứ để có thể tiếp đón người lớn. Đồ chơi thì la liệt khắp nhà như những cái bẫy, bước đi không để ý là dẫm vào đau điếng người. Nên tôi lại một lần nữa là người thiếu sót.
Tôi nghĩ có thể sẽ không bao giờ gặp lại. Mà cuộc đời thì mấy ai biết được ngày mai. Năm trước, khi lần đầu gặp nhóm, tôi cũng không nghĩ sẽ gặp lại Mục sư vào năm sau. Và sau cuộc gặp năm nay, ai biết sẽ có thêm những lần hội ngộ hay chẳng bao giờ nữa? Nhưng dù có gặp nữa hay không, trong lòng tôi luôn ghi nhớ sự trân trọng mà Mục sư Liêm đã dành cho tôi. Sự trân trọng đó đem lại cho tôi nhiều bài học nhỏ mà vô cùng sâu sắc trong cách cư xử giữa người với người, giữa người Công Giáo và người Tin Lành.
Nếu biết trân trọng nhau, Công Giáo và Tin Lành đã không căng thẳng đến thế.
Tôi biết tôi đã viết ra đây một câu truyện thật tẻ nhạt, với vài chi tiết nhỏ. Nó hoàn toàn là câu chuyện thật, (chỉ khác cái tên của Mục sư) vừa mới diễn ra và vẫn đang tiếp diễn. Nó cũng là góc nhìn nhỏ hẹp của tôi về một vùng tâm linh rất rộng lớn mang tên Công Giáo và Tin Lành.
Lúc này, tôi đang ngồi một mình trong nhà, giữa màn đêm tĩnh mịch, với một vài ngôi sao lấp lánh trên nền trời thăm thẳm đen.
Tôi mơ màng nghĩ đến một sự hòa hợp, vào ngày mai… khi ánh bình minh lại rạng rỡ chiếu tỏa khắp mặt đất. Và người ta, dù Tin Lành hay Công Giáo, cùng nắm chặt tay nhau tiến về phía Ánh Sáng Chân Lý…















































Được tạo bởi Blogger.