CHUYỆN NGƯỜI LỮ KHÁCH



Đêm nay đêm đẹp nhất đời
đêm đông mà sáng hơn trời ngày xuân
đèn giăng chuông đổ xa gần
mừng Con Chúa xuống gian trần đêm nay
......
Có người Lữ Khách thân gầy
áo quần tơi tả đêm ngày ruổi rong
tìm nơi trú ngụ đêm đông
nhà kia rực sáng ánh hồng tỏa lan

đàn ca xướng hát rộn ràng
Người Lữ Khách bước vội vàng đến bên
nhìn vào ... khe khẽ gọi tên
"Có ai trắc ẩn thân hèn đỡ chân"
người nhà khẽ bước lần khân
hé nhìn, xụ mặt, trân trân nhìn Người
"Này ông xin hãy mau rời
đi ngay đừng để tôi mời ông ra...
đêm nay rộn rã câu ca
mừng Con Chúa đến nhà nhà đều vui
xin ông trở gót đi lui
nhà này không chứa người xui bước vào..."
Người Lữ Khách, chẳng lời nào
vội vàng ra khỏi cúi đầu buồn xo
ngước lên đèn sáng nhà thờ
định tâm Người đến ngủ nhờ đêm nay
ô kìa có kẻ ... xua tay
"Này ông có biết đêm nay đêm gì



nhà thờ bận rộn tứ vi
chỗ đâu ông nghỉ thôi đi cho rồi
đèn sao giăng mắc khắp nơi
đêm nay đón Chúa Ngôi Hai giáng trần
thôi ông tìm chỗ trú thân
nơi này bận rộn muôn phần ông ơi..."
Người lữ khách bước tả tơi
tìm đâu chỗ trọ giữa trời lạnh run
chợt nghe có tiếng sau lưng

"...Ông ơi, ông có lạnh không đêm này
về nhà con nghỉ đêm nay
nhà con một túp lều ngay bên đường
không chăn, không chiếu, không giường
ông vào nghỉ đỡ đêm trường ngả lưng"
Người Lữ Khách quá vui mừng
ôm em bé riết vào lòng cười vui

"Đêm nay đêm đẹp nhất đời
Con ơi, con chính là người ta yêu
đêm nay Hồng Phúc thật nhiều
ngàn sao lấp lánh Thiên Triều vui ca
giữa đời trần thế kiêu sa
tìm đâu được một mái nhà cho Ta
chỉ mình con, những nụ hoa
bé thơ trong trắng cho Ta ấm lòng
đêm nay tuyết lạnh mùa đông
ta vui sưởi ấm lửa hồng bên con"
…………………………..

Giáng Sinh này sẽ vui hơn
Thực thi bác ái Chúa Con hài lòng....


Dzuy sơn Tuyền

(Tác giả gửi bài về BBT)

DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA


Con dọn đường cho Chúa đến
Hay Chúa dọn đường cho con đi
Chúa vẫn hoài nhớ nhung, thương mến
Còn con, chẳng chút bận tâm chi

Chúa gõ cửa, và chờ con mở cửa
Con vô tư để Chúa cứ đứng ngoài
Chúa đến thăm con, không tần ngần, lần lửa
Con tìm đến Chúa, như chuyện cầu may



Chúa khát khao con, được thuộc về Chúa
Con khát khao mình là của trần gian
Chúa muốn là nơi cho con nương tựa
Con chọn thú vui đời làm chỗ dựa bình an


Mùa vọng nào cũng vang câu điệp khúc
Hãy dọn đường cho Chúa đến viếng thăm
Mà lòng con cứ chìm trong bể đục
Đam mê đời dẫn bước về xa xăm

Xin giúp con lòng nồng nàn yêu mến
Người yêu con đang đến rất khiêm cung
Rất kiên trung chờ người tình lỗi hẹn
Để nói lời thương xót rất thủy chung

Hương Nam

ĐẤM NGỰC

“Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham”.
(x. Mt 3,1-12)

Con vẫn thường vỗ ngực xưng tên
Mình là dòng dõi của những người thánh thiện
Cũng đã từng góp của, góp công, dâng hiến
Từng là thành viên hội đồng nọ, hội đoàn kia

Vẫn hội họp, vẫn công tác trọn bề
Vẫn đến nhà thờ, lễ kinh, thưa bẫm
Vẫn sốt sắng, ngoan ngùy, đằm thắm
Thế là công dân hạng nhất của Nước Trời

Có bao giờ con đấm ngực, Chúa ơi
Vì con đã đánh bóng đời thật tuyệt
Chúa không biết thì người đời sao biết
Con vẫn là con, với bao việc tốt lành

Có bao giờ con đấm ngực thói đành hanh
Cứ cao ngạo mình con dòng cháu giống
Mà quên đi phải thực lòng khiêm nhượng
Nhận tội mình, đánh lạc hướng tha nhân

Tiếng loa nào giục sám hối, canh tân
Chờ Chúa đến hãy dọn đường Chúa đến
Xin cho con biết nhìn mình hổ thẹn
Mau đổi đời thật lòng mến trong tim

Chúa có thể làm cho loài sỏi đá
Trở thành con cái thánh Abraham
Cho con nhớ mình không là gì cả
Nếu lòng không sinh hoa quả tươi xinh

Con vẫn thường vỗ ngực xưng tên
Đấm ngực anh em, ngực mình không đấm
Phút hồi tâm tội lỗi con nhiều lắm…
Quyết chừa thôi, con xin đấm ngực mình….

Hương Nam

XÓA


Con muốn xóa đi những vết xăm
Hằn sâu trên thịt da thâm tím
Dẫu là đau đớn hay ngây lịm
Xin cũng bằng lòng để đẹp xinh

Con muốn xóa đi những bóng hình
Hư danh ảo vọng trong tim kín
Sẽ không thương tiếc dù nhung mịn
Những hạt lung linh óng ánh ngời

Con muốn xóa đi những tội đời
Vết xăm đen đủi vào sâu hoắm
Linh hồn mê muội từ lâu lắm
Xin lại đền vàng của Thánh Linh

Hãy đốt trong con lửa mến tin
Cho lòng kiên quyết nên người mới
Việc làm khẩn cấp là thay đổi
Sám hối không là sám hối suôn

Xin hãy giúp con thắng nỗi buồn
Thắng cơn cám dỗ theo đường cũ
Cho đầy khát vọng nên người mới
Đón Chúa Giáng Sinh khấp khởi mừng

Hương Nam

Bài liên quan:



Ông già Santa vươn vai ngáp một cái thật dài, buổi sáng tháng 12 của Bắc Cực lạnh quá, ông lấy trong túi áo ra cái danh sách rất dài, ông càng kéo nó càng dài ra. Cuối cùng ông phải dăng từ đầu phòng đến cuối phòng hai ba lần mới hết. Ông phải đọc lại từng tên một vì ông không muốn bỏ sót một ai.

Ông bước ra khỏi nhà, đi coi lại cái xe kéo trên tuyết, xếp những gói quà đã được gói cẩn thận và ghi tên, địa chỉ của từng người, cho mấy chú hươu ăn thêm cho thật no bụng. Tất cả sẵn sàng cho một cuộc hành trình dài. Ông hôn lên trán bà Claus một cái, dặn bà ở nhà trông nom mấy thím hươu, để những người đàn ông đi làm bổn phận.


Trên đường đi vào thành phố ông đi qua những khu rừng, những núi tuyết, ông gặp những chú gấu, cô sóc, cô thỏ rừng. Họ giơ tay vẫy chào và cất tiếng hỏi han ông rất vui vẻ. Họ biết ông đang đi thi hành nhiệm vụ của mình, họ phụ ông một tay, khênh đến đủ loại hạt xếp lên xe ông nào hạt thông, hạt hạnh đào, hạt dậu phọng, bồ đào, hạt dẻ v,v. Mấy chú hươu lại phải phân chia vào những túi đồ chơi đã có sẵn. Ai nấy làm việc thật vất vả nhưng họ biết là họ sẽ đem hạnh phúc đến cho các trẻ em.

Khi những chú hươu và Santa đi qua vùng tranh tối tranh sáng, mọi nhà đều đã tắt đèn, trẻ con bắt đầu đi vào giấc ngủ với những giấc mơ của chúng về những món quà giáng sinh, chúng sẽ có sẵn ở bên lò sưởi khi thức dậy. Chúng thì thầm cầu nguyện cho những chú hươu không bị đau chân giữa đường, ông Santa không bị cảm cúm đau bụng và ông nhớ mặc áo ấm, mang theo thuốc cảm. Những đứa trẻ hy vọng cái ống khói nhà mình đừng có quá nhỏ để Santa có thể mang theo nhiều quà mà không bị kẹt ở trong đó. Những em nhà không có lò sưởi thì treo những chiếc vớ dài ở trước cửa. Có đứa thư gửi về bắc cực cho ông đã lâu. Có đứa mới viết thư bỏ vào vớ mấy hôm trước, hay mới hôm nay trước khi đi ngủ.

Mỗi đứa trẻ có một giấc mơ riêng và mong ước giấc mơ đó sẽ đến trong đêm Giáng Sinh này.
Khi Santa vào đến thành phố, ông lấy danh sách ra, đọc lại cho đúng tên và địa chỉ của từng em trước khi chuẩn bị trèo lên nóc nhà. Có những cái mái trơn quá vì tuyết hay vì rêu đóng lâu ngày Santa phải rất cẩn thận, năm ngoái ông ngã một cái, trôi tuột, đè lên ống máng, ông không đau nhưng cũng xây sát, khi ông trở về nhà cứ bị bà Claus cằn nhằn ông mãi về tính không cẩn thận.

Bây giờ mọi nhà đều đã đóng cửa đi ngủ, ông rón rén đến từng địa chỉ, nhà nào không có ống khói lò sưởi thì ông để gói quà ngay trước cửa nhà, hoặc cho vào những chiếc vớ đã treo sẵn trên cánh cửa.
Vừa đi ông vừa đọc từng lá thư :
“Con muốn có một cái cặp sách mới. John.”  Ông lấy ra gói quà có sẵn cái cặp sách.
“Con muốn một cái áo khoác lạnh mầu hồng. Annie.” Bà Claus đã gói với một cái nơ thật đẹp rồi.
“Con muốn có một con chó nhỏ. Lan.” Có ngay, ông quấn con chó mầu trắng vào cái chăn nhỏ mầu xanh, dặn nó không được sủa. Thật ra thì phải bấm nút nó mới sủa cơ.
“Con muốn có cái xe đạp mới. Phương.” Cái này không chui qua ống khói được, ông phải dựng trước của nhà.

Ở một lá thư khác trong chiếc vớ treo trước cửa, ông Santa đọc được:
“Con muốn ba về với con, ba đang ở Iraq. Jennifer.” Ông kêu lên: Chúa ơi!

Mắt Santa nhòa lệ, ông làm sao tìm được món quà quý báu và vô cùng khó khăn cho cô bé này. Làm sao ông mang được người cha về bây giờ. Santa chỉ biết bỏ vào chiếc vớ một con búp bê, ông viết vào bên dưới thư của em.
“Ta sẽ cầu nguyện giúp con. Santa.”
Ông tiếp tục đi, chân thấp chân cao, lòng ông nặng trĩu xuốngvì món quà Jennifer muốn xin. Nhưng ông vẫn cố đi từng nhà, ông di chuyển từ đông sang tây, ông đi cho đến hừng đông. Túi quà trên vai ông đã vơi hết, nhưng sao ông vẫn muốn tiếp tục đi.

Ông biết có những nơi trên trái đất này, có những đứa trẻ không hề biết tên ông, địa chỉ ông để gửi thư. Chúng ở trong những thành phố đổ nát vì bom đạn, có thể chúng đã mất cả mẹ, lẫn cha. Ông ước gì mình có thể vác những xác của cha mẹ các em lên vai mình, dựng trước của nhà họ, hà hơi vào họ, cho họ được sống lại vào bất cứ ngày nào trong năm, không cần phải vào ngày giáng sinh. Chao ôi, những đứa trẻ đáng thương đó sẽ vô cùng sung sướng! Santa đưa ống tay áo lên chùi nước mắt mình. Mấy chú hươu hình như cũng đọc được nỗi buồn của ông, họ cúi đầu im lặng, cho đến khi ông kéo nhẹ sợi dây cương.

Ngày mai khi các em trở dậy nhận những gói quà của mình. Lò sưởi hãy còn ấm bởi những đốm lửa đêm qua, một làn khói mỏng còn bay lơ lửng trên nóc nhà, nhưng ông Santa Claus đã cùng những chú hươu về đến Bắc Cực, đoàn tụ cùng bà Claus và những thím hươu. Họ nghỉ ngơi vài tháng rồi lại bắt đầu làm danh sách chuẩn bị nhận thư các nơi trên trái đất gửi về.

Trong căn nhà nhỏ gần như tuyết phủ quanh năm ở vùng bắc cực đó, năm này sang năm khác vợ chồng ông bà Santa Claus làm việc phát quà cho các trẻ em trên thế giới với niềm vui tràn ngập trong lòng. Họ cố gắng đem những món quà đến cho các em như lòng mơ ước. Điều làm họ buồn nhất là những món quà họ không tự mình lo được, như đem một người cha từ mặt trận trở về thả xuống ống khói hay đem một người mẹ bị mất vì bom đạn trong chiến tranh về đặt lại, ngồi trước cửa nhà để làm quà cho các em trong ngày Giáng Sinh.

Ông bà Santa Claus nhắm mắt lại cầu xin nhân loại giúp họ mang hạnh phúc an bình đến cho tất cả trẻ thơ trên thế giới. Nhân loại trước khi đánh nhau hãy nghĩ đến những đứa trẻ ngây thơ đang mong đợi cha từ chiến trường về, đang mong đợi một người mẹ đã chết vì bom rơi, đạn lạc, không bao giờ về được nữa. Ông Santa buồn bã nói với vợ:
- Tại sao lúc nào mặt đất cũng có chiến tranh? Không xẩy ra ở nước này, thì xẩy ra ở nước khác? Mỗi năm tôi đi một nơi, bao giờ tôi cũng gặp những đứa bé gái thay vì xin búp bế, hay đứa bé trai thay vì xin cái xe đạp ba bánh, nó chỉ buồn bã xin cho cha nó được về nhà vào đêm giáng sinh, cho mẹ nó sống lại sau đổ vỡ của chiến tranh. Tại sao vậy bà?

Bà Claus ngẩn mặt ra, không biết trả lời ông thế nào, ngẫm nghĩ một lúc, bà hỏi lại ông:
_- Sao người ta không hỏi ý kiến những đứa bé trước khi gửi cha nó ra mặt trận nhỉ?

Truyện hay Giáng Sinh
ngoại quốc
(nguyễn thị hải hà dịch và giới thiệu)


Lời Giới Thiệu

Cả ba truyện ngắn, Giáng Sinh của Vladimir Nabokov, Hai Người Chưa Gặp của John McNulty, và Giáng Sinh ở Tokio đều được trích từ “Christmas at The New Yorker: stories, poems, humor, and art” xuất bản năm 2003. Nhiều truyện trong quyển này rất hay và của nhiều tác giả rất nổi tiếng như John Cheever, John Updike, Alice Munro, … .


Tôi dịch truyện Giáng Sinh của Nabokov trước nhất vì tôi yêu cái hình ảnh đầy tuyết êm đềm thơ mộng ở một miền quê của nước Nga. Sau đó tôi bị cuốn hút vào nỗi đau đớn của người cha khi nhớ lại cậu bé con của ông mới còn nô đùa bắt bướm giữa mùa hè mà đã lâm bạo bệnh và qua đời trước ngày Giáng sinh. Trong nỗi đau khổ và cô đơn tận cùng ông nghĩ đến việc đi tìm cái chết thì phép lạ hiện ra. Nabokov đưa tôi từ cái đẹp của băng giá mùa đông qua cái nồng ấm của mùa hè, cái tuyệt vọng của người cha bên cạnh cái thơ ngây yêu đời của đứa con, người cha chợt khám phá bí mật của cậu bé con rồi đến cái bí ẩn của sự sống. Còn gì hơn trong đêm Giáng sinh người ta khám phá ra sự nhiệm mầu của một sự sống vừa mới khởi đầu mà sự sống đó tưởng đã chết trong cái lá khô.

McNulty nói về những thiên thần luôn luôn có mặt chung quanh ta nhưng ta không biết sự hiện diện của họ. Hai thiên thần của nhân vật Eddie đã xuất hiện qua hình ảnh một người đàn bà có mặt trong khi cuộc đời của ông chìm dưới đáy vực thẳm và người kia là người quân nhân đã cứu mạng Eddie. Truyện rất thú vị ở chỗ Eddie kể chuyện một cách trân trọng còn Harry không lắng nghe. Ông chỉ chêm vài câu vớ vẩn như xem câu chuyện của Eddie là chuyện tầm phào. Độc giả cũng thấy được cái rộn rã mừng Giáng sinh ở ngay khu vực giàu sang của Manhattan.

Giáng Sinh ở Tokio của Max Hill là một hình ảnh đầy hy vọng giúp người ta chịu đựng gian nan những lúc định mệnh khắc nghiệt đưa đẩy người ta đến chỗ khốn cùng nhất. Giọng văn của Max Hill đầy lạc quan, bất khuất, và không kém phần khôi hài. Tuy ngắn nhưng rất thật; truyện Giáng Sinh ở Tokio cho thấy cây Giáng sinh là biểu tượng làm ấm lòng người tù.

Giáng sinh có khi lại là một ngày đáng buồn cho những người nghèo khổ thiếu thốn vật chất hay tình cảm. Bạn đọc hẳn còn nhớ truyện Cô Bé Bán Diêm của Hans Christian Andersen, vừa đói vừa lạnh, cô đốt tất cả những que diêm không để sưởi ấm mà để giúp cô nhìn thấy người bà đã qua đời. Nhà văn John Cheever có một truyện ngắn mang tựa đề Giáng Sinh là một mùa bất hạnh cho người nghèo. Nhân vật của ông, Charlie, là người gác thang máy, đã dùng câu nói này đánh thức lòng trắc ẩn của những người sống trong căn chung cư. Chú bé Duane trong truyện ngắn Món Quà Vô Giá của Stephanie Ray Brown không biết nói những lời khôn ngoan ẩn ý để đánh thức lòng trắc ẩn của người chung quanh như Charlie. Hoàn cảnh của chú tuy rất bất hạnh nhưng món quà chú tặng cho cô giáo thật là vô giá.

John E. Schlimm II trong truyện ngắn Âm Thanh và Tinh Thần Giáng Sinh đã khéo léo nhắc nhở chúng ta rằng ngày nào cũng có thể là ngày Giáng Sinh nếu ta biết mở cửa tâm hồn thưởng thức cái đẹp của cuộc đời như âm nhạc, nghệ thuật, thiên nhiên. Mary đã không để cái khuyết tật về âm thanh ngăn cản cô trong việc thưởng thức âm nhạc. Sự rung cảm của Mary với bài hát Giáng sinh đã làm cho mọi người chung quanh xúc động. Tôi tin là độc giả cũng sẽ yêu mến truyện ngắn này.

Món Quà Vô Giá của Stephanie Ray Brown và Âm Thanh và Tinh Thần Giáng Sinh được trích từ A Chicken Soup for The Soul Christmas. Chicken soup cũng giống như cháo gà ở Việt Nam được dùng để chữa những cơn cảm cúm. Có thể nó không có vị thuốc nhưng thường là sự săn sóc, tình cảm của người nấu cháo giúp người bệnh cảm thấy khỏe hơn. Jack Canfield và Victor Hansen đã tuyển chọn những truyện ngắn rất ngắn của tất cả mọi người chung quanh, có khi là nhà văn tốt nghiệp đại học như Schlimm II, có khi là một giáo viên dạy lớp một lớp hai như bà Brown.

Giáng sinh là của tất cả mọi người, và ai cũng có một mẩu chuyện nho nhỏ có khi vui có khi buồn để chia sẻ với mọi người. Độc giả cũng có thể bắt đầu viết một truyện về Giáng sinh để gửi cho vào năm sau nhé.

Nguyễn thị Hải Hà


Giáng Sinh
Tác giả: Vladimir Nabokov


Sau khi đi bộ từ trong làng trở về trang viên băng ngang cánh đồng tuyết sáng lờ mờ, Sleptsov ngồi vào trong góc nhà, trên cái ghế bọc nhung ông không nhớ đã từng dùng đến nó. Tương tự như những chuyện chúng ta thường thấy sau một cơn đại họa. Không phải anh em mà lại là một người quen sơ, ông láng giềng ở nông thôn bạn chẳng mấy khi để ý đến, lúc bình thường bạn chẳng buồn trò chuyện đến, lại chính là người an ủi bạn, rất khéo léo và hoàn toàn dịu dàng, nhặt hộ bạn cái mũ bạn đánh rơi sau khi tang lễ chấm dứt lúc bạn đang bị choáng váng trong nỗi đau khổ, răng bạn đang run lập cập, và mắt bạn đang mờ nước mắt. Người ta cũng có thể nói như thế về đồ vật. Bất cứ căn phòng nào, ngay cả những căn phòng ấm áp thân mật nhất và nhỏ đến vô lý nhất, trong cái chái nhà ít khi được sử dụng của một trang viên đồ sộ ở nông thôn cũng có một góc không ai lui tới. Và đó là cái góc nhà Sleptsov đang ngồi.

Chái nhà này nối liền, bằng một hành lang dài và hẹp bằng gỗ, đang bị cơn tuyết miền Bắc Nga lấp đầy, với phần chính của ngôi nhà, chỉ được dùng vào mùa hè. Không cần thiết phải đánh thức hay sưởi ấm nó; chủ nhân của ngôi trang viên đến từ Petersburg ở chỉ đôi ba ngày và chỉ cần dùng phần nối liền của ngôi nhà, chỗ này đơn giản chỉ cần nhóm cái bếp bằng sứ Hòa Lan.

Chủ nhân của trang viên ngồi trong cái góc nhà không ai qua lại này, trên cái ghế bọc nhung, như thể ông đang ngồi chờ trong phòng mạch của bác sĩ. Căn phòng trôi nổi trong bóng tối, và màu xanh thẫm của hoàng hôn lọc thấm qua chòm lông tơ pha lê của sương giá trên khung kính cửa sổ. Ivan, ông giúp việc bệ vệ và ít nói, mới cạo sạch bộ ria mép nên trông ông rất giống ông bố đã qua đời, trước là quản gia, mang vào một cây đèn dầu hỏa, lau chùi sạch sẽ và sáng rực. Ông đặt đèn lên cái bàn nhỏ và, rất êm ả, ông lấy cái chụp đèn lụa màu hồng rào vây chung quanh đèn. Trong một thoáng ngắn ngủi cái gương nghiêng phản chiếu ánh sáng lên lỗ tai và mái tóc bạc cắt ngắn của ông. Xong, ông thoái lui và cánh cửa kêu kẽo kẹt nho nhỏ.

Sleptsov nhấc bàn tay ra khỏi đầu gối, chậm chạp quan sát. Một giọt nến đã dính và đông cứng lại ở khoảng da mỏng giữa hai ngón tay. Ông xòe các ngón tay và lớp vảy mỏng màu trắng bị vỡ tan.

*

Sáng hôm sau, sau một đêm đầy những giấc mơ vụn vằn vô nghĩa hoàn toàn chẳng liên hệ với nỗi buồn khổ của ông, khi Sleptsov bước ra ngoài hàng hiên lạnh giá, nền nhà thoát ra tiếng kêu răng rắc như tiếng súng nổ vui vẻ dưới chân ông, và ánh phản chiếu của các ô kính cửa sổ nhiều màu sắc kết hợp lại thành những hình thoi đẹp tuyệt trần chiếu lên trên những cái ghế trắng không bọc nệm đặt cạnh cửa sổ. Thoạt tiên lớp cửa bên ngoài hơi khó đẩy, rồi thì nó chịu mở ra với tiếng kêu giòn giã răng rắc, và hơi băng giá choáng ngợp tạt vào mặt ông. Lớp cát màu đo đỏ được rải lên lớp băng che phủ những bậc thềm của hiên trước trông giống như bột quế, và các thỏi băng nhũ thật dày có màu xanh lơ pha lục treo lủng lẳng trên mái nhà. Lớp tuyết dày len lỏi vào tận trong mấy cái cửa sổ của phần nhà nối, xiết chặt dãy hành lang hẹp bằng gỗ gọn gàng này bằng gọng kềm giá lạnh. Cái khối màu trắng ngà, trước là nơi trồng hoa vào mùa hè, đã phồng to lên, hơi cao hơn mực tuyết của hàng hiên trước, và xa xa là ánh sáng lộng lẫy của rừng, nơi ấy tất cả các cành cây màu đen đều được viền ánh bạc, và những ngọn thông xanh dường như co rúm những cái vấu màu xanh lục bên dưới sức nặng đẫy đà sáng rực của chúng.

Mang đôi ủng nỉ và cái áo khoác ngắn bên trong lót bằng lông thú có cổ áo bằng lông cừu, Sleptsov bước chầm chậm dọc theo con đường nhỏ rất thẳng, con đường vỏn vẹn đã được dọn sạch tuyết chạy vào cánh đồng tuyết sáng đến lóa mắt phía đằng xa. Ông ngạc nhiên thấy mình vẫn còn sống, vẫn còn có thể nhận thấy cái sáng rực rỡ của tuyết, và cảm thấy đau buốt ở mấy cái răng cửa vì không khí lạnh. Ông cũng chú ý đến cái bụi cây bị tuyết phủ trông giống như một cái nguồn nước phông-tên, và con chó đã để lại trên bờ tuyết một chuỗi dấu chân màu vàng nghệ hằn sâu vào rìa của bờ tuyết. Xa hơn một chút nữa, những bộ phận chống đỡ cái cầu dành cho khách bộ hành thò ra khỏi tuyết, và Sleptsov dừng lại ở nơi ấy. Cáu kỉnh, giận dữ, ông xô lớp tuyết dày xốp phủ đầy lan can cầu. Ông nhớ thật sống động dáng dấp cây cầu vào mùa hè. Cậu bé con trai ông đi dọc theo những thanh gỗ cầu trơn trợt, lấm tấm điểm hoa dại, khéo léo dùng vợt bắt con bướm đậu trên thành cầu. Thế rồi cậu bé nhìn thấy ông bố. Đã mãi mãi mất rồi tiếng cười đùa trên mặt cậu bé, bên dưới cái vành nón rơm bẻ cụp xuống bị nắng rám đen; mấy món đồ chơi cầm tay và dây xích của cái ví da cột vào dây thắt lưng, đôi chân đáng yêu của cậu bé rám nắng nhẵn nhụi trong cái quần “sọt” vải và đôi săng-đan ướt đẫm như lệ thường đứng ở thế dạng chân rất vui vẻ. Chỉ mới đây thôi, ở Petersburg, sau khi say sưa ba hoa về chuyện ở trường, chuyện cái xe đạp, về mấy con bướm Á châu rất đẹp, cậu bé bỗng qua đời, và hôm qua Sleptsov đã mang cỗ quan tài – rất nặng nề, dường như nó chứa sức nặng của cả cuộc đời – về làng, đưa vào nhà mồ riêng của gia đình ở gần nhà thờ trong làng.

Không gian yên vắng như chỉ có thể yên vắng đến thế này trong một ngày sáng sủa và lạnh giá. Sleptsov nhấc chân lên, bước ra khỏi lối đi, và để lại những vết lõm sâu màu xanh lơ trong tuyết, tạo lối đi giữa những thân cây trắng lạ lùng đến nơi cánh rừng bắt đầu rẽ xuống hướng bờ sông. Phía dưới thật xa, những khối băng tỏa ánh sáng lấp lánh gần một cái lỗ bị cắt thủng trong một màu trắng mịn bao la, và, ở bờ bên kia mấy cột khói màu hồng đứng thẳng bên trên mái nhà phủ đầy tuyết của những căn nhà được xây bằng thân gỗ tròn. Sleptsov cởi cái mũ lông cừu đứng tựa lưng vào thân cây. Ở phía xa thật xa, nông dân đang bổ củi – âm thanh của mỗi nhát búa vang vọng lên không trung – và ở bên ngoài làn sương mỏng màu bạc bao phủ rặng cây, bên trên những túp lều gỗ đang ngồi xổm, ánh mặt trời chiếu sáng vẻ thư thái của cây thánh giá trên nhà thờ.

Ông sẽ đến nơi ấy sau bữa ăn trưa bằng cỗ xe trượt tuyết cũ kỹ có chỗ dựa lưng rất thẳng. Tiếng vó của con ngựa màu đen nện mạnh mẽ trong không gian lạnh băng, các chòm lông trắng của những cành cây thấp là đà trượt phía trên đầu, và dấu bánh xe ở phía trước lấp loáng màu xanh lơ có ánh bạc. Khi ông đến nơi, ông ngồi độ một giờ đồng hồ bên cạnh mộ, đặt đôi bàn tay đeo găng bằng len dầy nặng lên trên những thành cầu bằng sắt, hơi lạnh xuyên qua lớp len làm bỏng rát bàn tay ông. Ông về nhà với một nỗi thất vọng nhẹ nhàng, như thể để con trong nhà mồ càng làm xa cách với ông hơn là chỗ này, nơi để lại vô số dấu chân thoăn thoắt của cậu bé đã được bảo toàn bằng lớp tuyết bao phủ.

Chiều tối, bất chợt bị nỗi buồn mãnh liệt tràn ngập, ông bảo mở cửa gian nhà chính. Khi cánh cửa mở toang với tiếng kêu buồn phiền như tiếng khóc, thoang thoảng có một mùi đặc biệt, tươi mát chứ không mốc meo như mùi của mùa đông, thổi từ tiền sảnh có chấn song sắt, Sleptsov lấy ngọn đèn với tấm phản chiếu bằng thiếc từ tay người gác cửa rồi vào nhà một mình. Nền nhà bằng gỗ kêu răng rắc đầy vẻ rùng rợn dưới bước chân của ông. Từ phòng này sang phòng khác trong ánh sáng vàng vọt, và những vật dụng trong nhà được che phủ bằng những tấm vải trông rất xa lạ; thay vì tiếng rung lanh canh của cái đèn trần là một cái bao im lìm treo trên trần nhà, và cái bóng khổng lồ của Sleptsov, chậm chạp duỗi cánh tay, bồng bềnh trôi trên tường và bên trên những cái hình vuông xám của những bức tranh đã được phủ che.

Ông vào phòng cậu con trai đã dùng làm phòng học lúc mùa hè, để ngọn đèn lên bệ cửa sổ, rồi làm gãy móng tay khi ông cố mở cửa sổ, mặc dù ngoài kia chỉ toàn là bóng đêm. Trên tấm kính màu xanh, ngọn lửa vàng của cái đèn hơi bị khói ám hiện ra, và bộ mặt to lớn, râu ria của ông xuất hiện trong chốc lát.

Ông ngồi xuống ở cái bàn trống trải và nghiêm nghị, chau mày khám xét giấy dán tường màu nhạt viền quanh là những dây chuỗi hoa hồng xanh; một cái tủ hẹp thường được dùng ở các văn phòng với những ngăn kéo từ trên xuống dưới; một cái ghế nệm dài và mấy cái ghế bành được che trùm lại; rồi bất thần, gục đầu lên trên bàn, ông bắt đầu lắc mạnh, mê mải, mãnh liệt, ồn ào, áp đôi môi và sau đó đến gò má đẫm ướt vào cái mặt gỗ lạnh lẽo đóng đầy bụi và nắm chặt mấy góc bàn.

Trong ngăn bàn ông tìm thấy quyển vở, cái bảng, mấy cái kim găm màu đen, và một hộp bánh bích-qui bằng thiếc trong đó có chứa một cái kén rất lạ mắt trị giá ba rubles. Sờ vào, nó mỏng manh như giấy và dường như nó được làm bằng một chiếc lá màu nâu cuộn tròn. Cậu con của ông đã nhớ đến nó lúc cậu bé đang nằm bệnh, hối tiếc là mình đã bỏ nó lại ở nhà nhưng tự an ủi với ý nghĩ là con nhộng bên trong có lẽ đã chết rồi. Sleptsov cũng tìm thấy một cái vợt lưới đã mòn: một cái túi bằng vải mỏng như mút-xơ-lin đặt lên trên một cái vòng có thể xếp lại (và lớp vải này vẫn còn mùi của mùa hạ với mùi cỏ nóng vì ánh mặt trời).

Cúi gập người xuống thấp hơn, rồi thấp hơn nữa, ông khóc nức nở rung chuyển cả thân hình, rồi ông bắt đầu kéo ra từng chiếc ngăn có nắp đậy bằng kính trong cái tủ đứng. Trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn, những vật làm mẫu được sắp xếp ngay ngắn, chiếu sáng như lụa bên dưới lớp kính. Ở đây, trong phòng này, trên bàn ấy, con ông đã dang đôi cánh những động vật cậu bắt được. Trước tiên cậu dùng kim găm cắm con côn trùng đã được cẩn thận giết chết lên cái khe rãnh có đáy bằng gỗ xốp của cái bảng trưng bày, ở giữa những lát gỗ mỏng có thể điều chỉnh được và ép nó xuống cho thật phẳng bằng kim ghim trên những mảnh giấy lên đôi cánh vẫn còn tươi và mềm mại. Bây giờ thì chúng đã rất khô và đã được chuyển vào trong cái tủ đứng này – loài bướm Đuôi Én tuyệt mỹ, loại bướm hiếm màu Đồng và màu Xanh, và các loại bướm quí khác, một vài con bướm được gắn lên bảng ở vị thế nằm ngửa để trưng bày trứng bướm. Con ông từng đọc tên Latin của những loại côn trùng này với giọng than thở một cách đắc thắng hay rẻ rúng. Và lũ bướm, lũ bướm Diều Hâu Aspen đầu tiên xuất hiện hồi mùa hạ của năm năm trước.

Đêm có màu xanh của khói và trăng rất sáng; mây mỏng lác đác trên trời nhưng không vệt mây nào chạm đến mặt trăng kiêu sa và mỏng manh. Rừng cây, những mảng dày băng giá màu xám, rải bóng đen trên tuyết, lấp lánh chỗ này nơi kia một thứ ánh sáng của kim loại. Trong cái ghế bọc nhung, gian phòng sưởi ấm áp của đoạn nối hai dãy nhà, Ivan đã đặt một cây thông cao chừng sáu hay bảy tấc trong một cái chậu đất sét nung lên bàn, và chỉ cắm một ngọn nến lên chân nến hình thánh giá khi Sleptsov từ gian nhà chính quay về, lạnh lẽo, mắt đỏ hoe, bụi xám còn dính đầy trên má, dưới nách cặp theo cái hộp gỗ. Nhìn thấy cây Giáng Sinh trên bàn, ông hỏi lơ đễnh, “Cái gì đây?”

Đỡ cái hộp gỗ trên tay ông, Ivan trả lời bằng giọng rất nhỏ nhẹ, dịu dàng, “Ngày mai là ngày lễ.”
“Không, mang nó đi chỗ khác,” Sleptsov nói với vẻ cau có, trong đầu thì suy nghĩ, “Có thể nào là đêm Giáng Sinh? Tại sao ta có thể quên chứ?”

Ivan dịu dàng giữ ý kiến, “Nó đẹp và xanh mướt. Cho nó đứng ở đây một thời gian.”
“Làm ơn mang nó đi,” Sleptsov lặp lại, cúi người trên cái hộp gỗ ông mang về. Trong đó ông đã mang hết đồ dùng của con trai – cái vợt bắt bướm có thể gấp lại được, hộp bánh bích-qui bằng thiếc với cái kén hình quả lê, cái bảng để giăng cánh bướm, những cây kim găm trong cái hộp sơn mài, cuốn vở màu xanh. Phân nửa trang đầu tiên đã bị xé đi, và phần còn lại chứa một phần bài chính tả tiếng Pháp. Sau đó có những bài nhật ký, tên của những con bướm bắt được, và những hàng ghi chú khác:

Đi ngang một vùng đầm lầy xa mãi tận Borovichi . . .
Hôm nay mưa. Đánh cờ với bố, sau đó đọc Frigate của Goncharov, cuốn sách chán kinh khủng.
Một ngày nóng tuyệt vời. Chạy xe đạp buổi chiều tối. Một con bọ bé xíu rơi vào mắt tôi. Cố ý đạp xe ngang ngôi nhà nghỉ hè của cô bé ấy hai lần, nhưng không gặp cô bé . . .

Sleptsov ngẩng đầu lên, nuốt cái gì đó rất nóng và to lớn. Con ông viết về ai thế?

Chạy xe đạp như thường lệ. Chúng tôi nhìn nhau. Cục cưng của tôi, người yêu ơi …

“Chuyện này không thể tưởng tượng được,” Sleptsov thầm thì. “Tôi không bao giờ biết. . .”
Ông lại cúi người xuống, tập trung cố giải mã nét chữ trẻ con hết nghiêng người đứng lên lại bẻ cong xuống lề quyển vở.

Nhìn thấy một loại bướm mới của giống Mỹ Nữ Camberwell hôm nay. Điều đó có nghĩa là mùa thu đã đến. Mưa lúc chiều tối. Cô bé có lẽ đã về thành phố rồi, chúng tôi chưa có dịp làm quen với nhau. Giã biệt, người yêu dấu. Tôi cảm thấy rất buồn. . . .

“Nó chưa bao giờ kể tôi nghe những chuyện như thế này . . .” Sleptsov cố nhớ lại, xoa trán bằng lòng bàn tay.

Trên trang giấy cuối cùng có một bức họa vẽ bằng mực: cái nhìn từ phía sau của con voi – hai cái cột to xù, góc cạnh của hai lỗ tai, và cái đuôi bé xíu.

Sleptsov đứng lên. Ông lắc đầu, cố gắng tự kềm chế những tiếng nức nở khủng khiếp cứ chực trào ra.
“Tôi–không-thể-chịu-đựng-được-nữa,” ông lè nhè giữa những tiếng rên, lặp lại càng chậm hơn, “Tôi–không-thể-chịu-đựng-được-nữa . . .”

Ngày mai là ngày Giáng sinh, điều nhắc nhở đến bất chợt, và tôi sẽ chết. Dĩ nhiên. Đơn giản thế thôi. Chính đêm nay . . .

Ông rút cái khăn tay ra và lau khô đôi mắt, gò má. Những vết đen dính lại trên khăn tay.
“. . . cái chết,” Sleptsov nói nhỏ nhẹ như thể kết luận một câu dài.

Tiếng đồng hồ gõ nhịp. Những mô hình sương giá trùng lặp lên nhau trên tấm kính xanh của cửa sổ. Quyển vở mở được chiếu sáng rực trên bàn, bên cạnh nó ánh sáng xuyên qua lớp vải mút-xơ-lin của cái vợt bắt bướm, sáng lóng lánh ở một góc của cái hộp thiếc mở nắp. Sleptsov nhắm chặt mắt, mơ hồ cảm thấy sự sống của trần thế trước mặt ông, hoàn toàn trơ trụi đơn giản và buồn thảm khủng khiếp, vô lý vô dụng đến nhục nhã, tuyệt tự, thiếu vắng phép nhiệm mầu.

Ngay lúc ấy bỗng có tiếng nứt – âm thanh mỏng manh như tiếng sợi dây cao su bị căng thẳng rồi bị đứt. Sleptsov mở mắt. Cái kén trong hộp bánh bích-qui bằng thiếc đã vỡ ra ở phía trên đầu, và một con vật nhăn nheo màu đen to cỡ một con chuột sơ sinh đang bò lên trên tường phía trên bàn. Nó dừng lại, cố bám vào mặt tường bằng sáu cái chân cuống quít và bắt đầu phập phồng một cách lạ thường. Nó xuất hiện từ cái kén bởi vì người đàn ông vật vã trong nỗi đau khổ đã mang cái hộp thiếc vào căn phòng ấm áp của ông, và hơi ấm đã thấm vào cái vỏ kén bằng lá và lớp tơ dày chắc của nó; nó chờ đợi giây phút này từ lâu, gom góp tất cả sức lực, và giờ đây, đã nở, thoát ra, nó từ từ và đầy nhiệm mầu nở to lên. Dần dần những mảnh vỏ nhăn nheo, những đường viền nhung nở ra; những sợi gân hình quạt xếp trở nên cứng cáp hơn khi nó chứa đầy không khí. Nó trở nên loài vật có cánh, không thể nào tưởng tượng nổi, có khuôn mặt trưởng thành và trở nên rất xinh đẹp. Và đôi cánh – vẫn còn yếu ớt, và ướt át – tiếp tục lớn lên và mở ra, và bây giờ chúng phát triển đến mức toàn vẹn nhất mà Tạo Hóa đã xếp đặt, và nơi đó, trên vách tường, thay vì là một cái khối nhỏ của cuộc đời, thay vì là con chuột đen, là một con bướm Attacus như những loài có thể bay như chim, vòng quanh ngọn đèn trong những buổi hoàng hôn bên Ấn Độ.

Và rồi đôi cánh dày và đen ấy, với các đốm sáng ngời như đôi mắt trên ấy với một đóa hoa màu tím, nó xoa những cái chân trước vào nhau như phủi bụi, hít một hơi đầy bên dưới sự thôi thúc rất dịu dàng, khao khát, rất giống với hạnh phúc của loài người./.

Dmitri Nabokov dịch từ bản tiếng Nga với sự góp ý của tác giả.


___

Vladimir Nabokov (1899 – 1977) nhà văn Nga biết rất nhiều thứ tiếng. Ông viết chín tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Nga rồi nổi tiếng trên toàn thế giới là nhà văn lớn chuyên viết tiếng Anh với văn phong tuyệt vời. Tác phẩm Lolita của ông ra đời năm 1955 là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông. Lolita, Pale Fire, và Speak, Memory là những tác phẩm nằm trong danh sách Modern Library 100 Best Novels và Nonfiction (100 quyển tiểu thuyết và các thể loại khác như ký, phê bình, tiểu luận hay nhất của Thư Viện Hiện Đại).


GIÁNG SINH ĐẶC BIỆT CỦA NGƯỜI THỢ GIÀ



Đôi nét về tác giả, tác phẩm


Đại văn hào Nga Lev Tolstoy (1828-1910) là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong lịch sử văn học thế giới. Ông còn là nhà triết học, một nhà cải cách xã hội, người theo đuổi chủ nghĩa hòa bình với những tư tưởng về luân lý và tôn giáo đã gây ảnh hưởng sâu đậm trong lý tưởng của thế kỷ XX. Cuộc đời ông trải qua nhiều thăng trầm, biến cố và có một sự nghiệp văn chương vĩ đại với hàng chục bộ tiểu thuyết đồ sộ, nhiều bút ký, truyện ngắn, dịch thuật, tác phẩm chính luận… Đặc biệt trong đó hai kiệt tác Chiến tranh và hoà bình và Anna Karenina được xem là đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực.



Truyện ngắn Giáng Sinh của người thợ già đã tái hiện chân thực và sinh động về ông lão thợ giày với một mơ ước giản dị đêm Giáng Sinh. Truyện cũng là một lát cắt đầy cảm động về những người nông dân nghèo khó song luôn có một đức tin tha thiết với Thiên Chúa và những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Và rồi điều kỳ diệu đã đến bởi chính trái tim thiện lương và những điều tốt đẹp mà ông đã cho đi.






Đó là đêm trước Giáng Sinh. Và dù trời hãy còn trưa song những ngọn nến đã bắt đầu nhấp nháy trong các cửa hàng, ngôi nhà của làng quê nhỏ bé nước Nga này, báo hiệu cho một ngày đông ngắn ngủi sắp kết thúc. Lũ trẻ con háo hức lon ton chạy giỡn vang nhà. Khắp nơi giờ chỉ còn nghe thấy thanh âm rầm rì không rõ hòa quyện của tiếng nói, cười thoát ra từ những cánh cửa chớp đã đóng kín.

Bác thợ già Panov, người thợ đóng giày của làng mà mọi người vẫn thường gọi là Già Panov, bước ra ngoài cửa tiệm và nhìn xung quanh lần chót. Những âm thanh của hạnh phúc, nhiều ánh đèn sáng bừng và biết bao mùi thơm nức ngon lành của các món ăn nấu nướng dịp Giáng Sinh bỗng gợi lên trong ông bao kỷ niệm về những thời khắc Giáng Sinh quá khứ, khi vợ ông vẫn còn sống và mấy đứa trẻ hãy còn bé. Giờ thì họ chẳng còn bên cạnh ông nữa. Khuôn mặt thường ngày vui vẻ, luôn nở nụ cười hiền hòa nhăn nheo đằng sau đôi mục kỉnh vuông bằng thép, bỗng chốc buồn thiu. Nhưng ông lão đã quay trở vào nhà bằng những bước vững chãi, sập cửa chớp lại đoạn lấy một ấm cà phê đun nóng lên trên bếp than củi. Sau đó, ông thở dài, ngồi vào chiếc ghế bành lớn của mình.

Già Panov đã không còn đọc sách thường xuyên, nhưng đêm nay ông bê một quyển Kính Thánh lớn, cũ kỹ của gia đình xuống, chậm chầm dùng ngón tay trỏ lần từng dòng một. Ông đọc lại những câu chuyện kể về lễ Giáng Sinh. Ông đọc câu chuyện kể về chuyến hành trình đầy mệt mỏi đến Bethlehem của Đức Mẹ Mary và Thánh Joseph. Họ đã chẳng tìm được một quán trọ nào để nghỉ chân và rồi Mẹ Mary phải hạ sinh hài nhi trong một máng cỏ nơi chuồng bò.

“Ôi Chúa ơi!”, Già Panov thốt lên: “Giá mà họ đã đến đây! Ta sẽ dành cho họ chiếc giường của ta và sẽ bao bọc, sưởi ấm cho hài nhi trong chiếc mền bông ấm áp!”

Ông lại đọc về những mục tử, những nhà thông thái, đã đến ngắm nhìn Chúa Hài Đồng và mang dâng tặng Ngài những món quà quý báu. Khuôn mặt người thợ già lại trở nên trầm ngâm. “Ta chẳng có món quà nào để dâng lên Ngài cả”, ông buồn bã nghĩ.

Những bỗng nhiên một ý nghĩ bất chợt thoáng quá khiến khuôn mặt ông bừng sáng trở lại. Ông đặt quyển Kinh Thánh xuống, đứng lên và với đôi tay dài của mình lên chiếc kệ cao trong căn phòng nhỏ. Ông lấy xuống một chiếc hộp con con, bụi bặm và mở nó ra. Bên trong là một đôi giày da nhỏ nhắn tuyệt đẹp. Già Panov mỉm cười hài lòng. Đây là đôi giày tốt nhất mà ông nhớ – một đôi giày hoàn hảo nhất mà ông từng đóng. “Ta phải dâng Người tặng vật này,” ông cả quyết rồi đặt chúng một cách nâng niu về chỗ cũ đoạn lại ngồi xuống ghế.

Bấy giờ ông đã cảm thấy mệt và càng cố đọc thì cơn buồn ngủ lại càng ập tới. Những con chữ in trong quyển kinh bắt đầu nhảy múa trước mắt, thế nên ông nhắm mắt lại một chút. Nhưng trong khoảnh khắc, Già Panov đã hoàn toàn chìm vào giấc ngủ.

Và khi ngủ ông mơ. Ông mơ rằng ai đó vào phòng mình và ngay lập tức ông biết ngay ai đang xuất hiện trong giấc mơ của mình. Đó là Chúa Jesus. “ Hỡi Già Panov, ông luôn ước ao sẽ được gặp Ta phải không?”, Người từ tốn nói. “Thế thì hãy tìm gặp Ta ngày mai. Mai sẽ là ngày Giáng Sinh và Ta sẽ đến thăm ông. Nhưng hãy xem xét cẩn thận nhé vì Ta sẽ không cho ông biết Ta là ai đâu.”

Khi Già Panov bừng tỉnh dậy sau giấc ngủ ngon lành, những tiếng chuông đang reo vang và một luồng ánh sáng mỏng manh xuyên qua những cánh cứa chớp. “Chao ôi!” Giọng ông lão tràn đầy phấn chấn. “Giáng Sinh đến rồi!”

Ông đúng dậy và duỗi tay chân hơi tê cứng sau giấc ngủ dài. Khuôn mặt ông ngập tràn hạnh phúc khi nhớ lại giấc mơ đêm qua. Sau tất cả, đây sẽ là một Giáng sinh rất đặc biệt bởi Chúa Jesus sẽ đến thăm ông. Ngài trông thế nào nhỉ? Ngài sẽ đến trong hình dáng của một hài nhi như Giáng sinh đầu tiên? Hay Ngài sẽ trong hình hài của một người trưởng thành- một người thợ mộc hay một vị Vua vĩ đại như ngôi vị của ngài – con trai của Thiên Chúa? Ông chắc hẳn phải xem xét cẩn thận cả ngày để có thể nhận ra dù Ngài đến bằng cách nào chăng nữa.

Già Panov pha một ấm cà phê đặc biệt cho bữa sáng Giáng Sinh, kéo những cánh cửa chớp lên và nhìn ra ngoài cửa sổ. Con đường vắng tanh, chưa có ai qua lại ngoài người phu quét tuyết. Ông ta trông khốn khổ và bẩn thỉu như tự bao giờ! Ai lại muốn làm việc vào ngày Giáng Sinh, nhất là trong sương mù giá buốt và cái lạnh tê tái của một buổi sớm như thế này?

Già Panov mở cánh cửa tiệm, khiến một luồng gió lạnh ùa vào. “Hãy vào đây!” ông kêu lớn vẳng qua phía bên kia đường bằng một giọng vui vẻ. “Vào nhà và dùng chút cà phê nóng chống lại cái lạnh nào!”

Người thợ quét tuyết ngửng lên, không thể tin vào tai mình. Ông ta vui sướng đặt cây chổi xuống đất và bước vào căn nhà ấm áp. Bộ đồ cũ mèm cùa ông tỏa ra những làn hơi nước nhè nhẹ khi ngồi kế bên bếp lò sưởi ấm áp và ông cứ siết chặt đôi tay đỏ quạch quanh chiếc cốc nóng hổi khi đang nhấp từng ngụm cà phê.

Già Panov nhìn ông một cách hài lòng, nhưng cứ chốc chốc ông lão lại đảo mắt ra ngoài cửa sổ. Ông chẳng bao giờ muốn bỏ lỡ cơ hội gặp gỡ vị khách đặc biệt của mình.

“Già chờ ai đó à?” cuối cùng người phu quét tuyết hỏi. Thế là Già Panov kể cho ông ta nghe về giấc mơ của mình.

“Vâng, tôi hi vọng Ngài sẽ đến.” người phu quét tuyết thốt lên. “Già đã cho tôi Giáng sinh thật vui mà tôi chẳng hề mong đợi. Và Già xứng đáng có để có giấc mơ thành sự thật.” Ông mỉm cười một cách thực thà.

Sau khi ông ta đã đi khỏi, Già Panov lại nấu một nồi súp bắp cải cho bữa tối, sau đó lại đi ra cửa, rảo mắt nhìn ra đường. Ông lão chẳng thấy ai. Nhưng ông đã lầm. Có ai đó đang tới.

Một cô gái đi bộ chậm chạp và lặng lẽ, cô đi men theo những bức tường cửa các cửa hiệu và ngôi nhà bên vệ đường. Phải mất một lúc Già Panov mới trông thấy cô. Cô gái đang mang theo thứ gì đó và trông rất mệt mỏi. Khi cô tiến đến gần hơn, ông lão mới nhận ra đó là một đứa bé quấn trong chiếc khăn choàng mỏng manh. Một nỗi buồn hiển hiện trên khuôn mặt cô và gương mặt bé bỏng tê buốt của đứa bé, khiến trái tim ông se thắt lại.

“Sao cả hai không vào nhà!” ông gọi đoạn bước ra ngoài “Cô và đứa bé cần một chỗ nghỉ ngơi ấm áp cạnh lò sưởi đấy.”

Người mẹ trẻ theo ông trong nhà và ngồi thoải mái trong chiếc ghế bành. Cô thở dài sườn sượt như để tìm niềm khuây khỏa.

“Ta sẽ hâm một ít sữa cho đứa bé.” Ông Panov nói, “ Ta cũng từng nuôi con mọn nên có thể cho đứa bé ăn giúp cô.” Nói đoạn, ông lấy sữa ra khỏi bếp lò và cẩn thận dùng thìa bón cho đứa bé cùng lúc hơ ấm đôi chân tí hon bên cạnh chiếc bếp lò.

“Cô bé cần một đôi giày”, người thợ già nói.

Nhưng cô gái đáp lại rằng: “Cháu không có tiền mua giày. Cháu cũng chẳng có chồng để nương tựa. Cháu đang trên đường đi qua làng bên để tìm kế sinh nhai Già ạ.”

Một suy nghĩ bất chợt lóe lên trong tâm trí Già Panov. Ông lão nhớ lại đôi giày nhỏ ông đã mang xuống đêm qua. Nhưng ông luôn nghĩ mình sẽ giữ chúng để làm tặng vật cho Chúa Jesus. Ông lại nhìn đôi chân bé xíu đang giá buốt và nhanh chóng quyết định.

“Cho cô bé thử đôi giày này xem!” ông nói, trao đứa bé và đôi giày của mình cho người mẹ. Đôi giày nhỏ xíu xinh đẹp và hoàn toàn vừa vặn với đứa bé. Cô gái mỉm cười hạnh phúc và bé gái líu ríu đầy vui thích.

“Già quá tốt với chúng cháu,” cô gái nói, khi cô đứng dậy đỡ lấy đứa con để tiếp tục lên đường. “Cầu cho mọi điều ước đêm Giáng Sinh của Già thành sự thật!”

Nhưng Già Panov bắt đầu tự hỏi liệu Giáng sinh rất đặc biệt của ông còn có thể thành sự thật hay không. Có lẽ nào ông đã bỏ lỡ vị khách của mình? Ông lão lo lắng nhìn xuống đường. Có rất nhiều người đang qua lại song tất cả đều là những khuôn mặt ông nhận ra. Họ là những người hàng xóm sắp sửa về nhà. Họ gật đầu chào và mỉm cười chúc ông một Giáng Sinh vui vẻ. Thỉnh thoảng, đó lại là những người ăn xin và Già Panov luôn tất bật chạy vào nhà để lấy cho họ súp nóng và một khoanh bánh mì thật to, đoạn lại vội vã đi ra ngoài vì ông sợ lỡ mất người khách lạ quan trọng của mình.

Khi Già Panov một lần nữa trở ra cánh cửa chính và cố căng mắt nhìn, ông chẳng còn thấy bóng dáng một khách qua đường nào nữa. Hầu như giờ này, mọi người đều đã ở trong nhà cả rồi.

Cuối cùng, ông lão chậm chạp quay vào trong nhà, đóng mấy cánh cửa chớp lại rồi mệt lử ngồi xuống chiếc ghế bành. Cuối cùng thì nó cũng chỉ là một giấc mơ. Chúa Jesus đã không đến.

Nhưng bất thình lình, ông nhận ra rằng mình không còn ở trong phòng một mình.

Đây không phải là mơ vì ông hoàn toàn tỉnh táo. Thoạt đầu, ông dường như trông thấy một dòng người dài nối nhau gồm những người đã đến với ông trong suốt ngày hôm nay. Ông đã thấy người quét tuyết già nua, người mẹ trẻ và đứa con của cô, cả những người ăn mày đã được ông bố thí thức ăn. Khi đi ngang qua ông, mỗi người đều thì thầm thốt lên: “Ông có nhận ra tôi không, Già Panov?”

“Thế quý vị là ai?” Ông thốt lên đầy hoang mang.

Sau đó, bỗng nhiên một giọng nói khác đáp lời ông. Đó là tiếng nói trong giấc mơ của ông đêm trước – tiếng nói của Chúa Jesus.

“Ta đã đói và ông cho Ta ăn,” Ngài nói. “Ta đã trần truồng và ông mặc cho Ta. Ta đã lạnh và ông làm cho Ta ấm. Ta đến với ông hôm nay trong tất cả những người ông đã giúp đỡ và chào đón.”

Sau đó tất cả bỗng yên lặng và tĩnh mịch trở lại. Chỉ còn lại thanh âm của chiếc đồng hồ lớn đang tích tắc đếm giờ. Một đêm yên bình và hạnh phúc vô biên dường như lan tỏa khắp căn phòng, tràn ngập trái tim của Già Panov đến nỗi ông chỉ muốn cất tiếng hát ca, bật cười và nhảy múa trong niềm sướng.

“Cuối cùng thì Ngài cũng đã đến!” ông lão chỉ thốt lên có thế.

Ngọc Vân
(Dịch theo bản tiếng Anh “Papa Panov’s Special Christmas”)

ÔI TỘI HỒNG PHÚC

(Đọc truyện dài Ôi tội hồng phúc của Têrêsa Nguyễn Phương Thảo)

Trao giải cho các tác giả đạt giải thể loại truyện dài Văn Hóa Nghệ Thuật Đất Mới 2017

Ôi tội hồng phúc là truyện dài đạt giải nhất Văn hóa nghệ thuật Đất Mới của Giáo phận Xuân Lộc.

Trong buổi hội thảo do Hiệp hội Bảo vệ Sự sống tại Canada tổ chức cho giới sinh viên tại giảng đường ở tòa nhà SITE, Đại học Ottawa, thầy Tùng đã kể chuyện về sự chào đời của 3 cháu bé Thiện Tâm, Hồng Phúc, Hồng Ân. Nhưng để bảo vệ được sự sống của các cháu, các nhân vật trong truyện đã phải trải qua những hoàn cảnh hết sức khó khăn, đối mặt với rất nhiều bi kịch.


Đó là bi kịch tình yêu của người trẻ trong xã hội Canada. Trong bối cảnh đó, người Việt trẻ bị giằng xét quyết liệt giữa văn hóa truyền thống Việt và văn hóa phương tây; giữa cách nghĩ, cách sống của người trẻ vô thần với bạn bè, người yêu có đức tin Công giáo. Người trẻ phải trả lời câu hỏi đâu là chân lý của tình yêu, hôn nhân, tình dục. Đó cũng là những vấn đề “nóng” của xã hội Việt Nam hiện tại, khi mà chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa thế tục và lối sống hưởng thụ của của xã hội tiêu dùng lên ngôi. Gia đình trẻ Việt Nam trở nên chông chênh hơn bao giờ hết.

Chủ đề bảo vệ tình yêu, bảo vệ sự sống, bảo vệ nhân phẩm và các giá trị văn hóa Việt được triển khai sâu sắc dưới ánh sáng tư tưởng Nhân văn Công giáo (bé Hồng Ân, Hồng Phúc) và cái nhìn nhân bản Phật giáo (bé Thiện Tâm). Tác giả tỏ ra am tường sâu sắc về tư tưởng triết học của các tôn giáo. Trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa thế tục, các nhân vật đã kiên định bảo vệ đức tin Công giáo, đồng thời cũng khẳng định cái tâm từ bi của Phật có sức cảm hóa (như trường hợp của Angulimala, một sát thủ,“buông đao thành Phật”[1]). Có lẽ đây là một giá trị đặc sắc nhất của tác phẩm này, bởi các tư tưởng nhân bản phương Đông được xây dựng thành những hình tượng nhân vật trong những cảnh đời rất thực, và tính cách, số phận của các nhân vật được chuyển hóa một cách thuyết phục.

Độc giả Công giáo có thể thấy rõ điều này, truyện kiên định giáo luật Công giáo trong hôn nhân như giữ điều răn thứ sáu tiền hôn nhân, hôn nhân bất khả phân ly. Sự thứ tha là thông điệp xuyên suốt tác phẩm (sự thứ tha cho Tuấn như Chúa thứ tha cho người phụ nữ ngoại tình). Tuấn là một người vô thần, nhưng Tuấn là người tình nghĩa và có trách nhiệm. Sự hiểu biết và tôn trọng tha nhân, tôn trọng sự khác biệt là tư tưởng của thời đại toàn cầu hóa cũng được đặt ra như một nguyên tắc sống, nguyên tắc tư tưởng. Tất nhiên bạn đọc ở Việt Nam với cái nhìn văn hóa truyền thống có thể có sự tiếp nhận rất khác nhau về những vấn đề của người trẻ trong xã hội Canada. Điều ấy là bình thường khi đắm mình trong một tác phẩm có bề sâu văn hóa và tư tưởng.

Về nghệ thuật, truyện có cấu trúc phức tạp, song được kể mạch lạc và lý giải sâu sắc mọi vấn đế được đặt ra, giải quyết triệt để những mâu thuẫn bi kịch của các nhân vật, tuy mất mát nhưng có hậu. Văn phong của Nguyễn Phương Thảo rất trẻ trung, sống động. Truyện cuốn người đọc vào những tình huống gay cấn như trong phim hành động. Các nhân vật như Tuấn, Tùng, Kiều Diễm, Công, ông bà Nghị đều góc cạnh và rất cá tính, để lại những ấn tượng sâu sắc và thú vị…

Bạn đọc sẽ tìm thấy nhiều điều tâm đắc hơn nữa khi đọc tác phẩm này, bởi ở mỗi góc nhìn, người đọc có thể khám phá những sắc màu, những ý nghĩa của tác phẩm mà ở góc nhìn khác không thấy.

Tôi yêu quý tác phẩm này vì đó là tâm huyết và tài năng của tác giả.

Tháng 12. 2017


_______________________________________

[1] https://thuvienhoasen.org/a18562/buong-dao-thanh-phat

Cây thánh giá gỗ mùa Giáng Sinh


Đức Giêsu ngẩng đầu lên và nói “Ai trong các ông [các bà] sạch tội thì cứ việc lấy đá ném trước đi” (Gioan 8:7).


Bà Tân, da bắt đầu lấm tấm những vết đồi mồi, dáng người mảnh khảnh, khuôn mặt thuôn, tóc cắt ngắn ngang vai, hơi xơ xác, lấm chấm điểm bạc. Gần đây con Hương mua lọ thuốc nhuộm burgundy black. Tóc con Hương nâu ngắn. Một lọ thuốc mua ở tiệm Walmart dư dùng cho hai người. Con Hương nhuộm luôn cho mẹ. Ban đầu bà hơi ngần ngại. Nhưng tiếc thuốc nhuộm đổ đi phí quá, bà cúi xuống cho con Hương nhuộm luôn. Tóc mầu burgundy black không nhận ra trong bóng râm. Nhưng ra ngoài nắng, tóc đen nhìn hung hung đỏ. Đi chợ hay mua sắm trong tiệm Mỹ, bà Tân tự nhiên thoải mái. Nhưng nếu phải đi mua gạo, nước mắm, hay thức ăn Á Đông trong khu thương xá Việt Nam, bà e dè với mái tóc nhuộm. Nhưng soi gương, nhận ra những nét trẻ trung của mái tóc burgundy black, bà đâm ra thích. Thỉnh thoảng bà đưa tiền cho con Hương. Hai mẹ con cùng nhuộm.

Bà Tân chịu chơi, nhưng nghiêm khắc với con nhất là về vấn đề học vấn. Bà bắt mấy đứa con phải học hành đàng hoàng, có thời khóa biểu hẳn hoi. Ban tối bà cấm không cho đứa nào được lảng vảng trong phòng khách có màn ảnh TV khá lớn. 10 giờ đêm bà mới cho tụi nó coi TV. Đứa nào léng phéng cầm cái remote trước 10 giờ, bà cự cho tắt đài. Từ hồi mới qua Mỹ tới nay, ba năm rồi bà làm ở nhà hàng. Chạy bàn, nấu ăn, thái rau, lau nhà, rửa chén, tất cả mọi công việc trong tiệm bà không nề hà. Người quản lý nhà hàng Tây Đô nói gì, bà làm đó, làm gọn gàng, làm sạch sẽ. Chiều, 4 giờ, về tới nhà, bà nấu cơm cho ông chồng và năm đứa con. Hai đứa lớn đi làm. Con Hương làm móng tay. Thằng Dương làm chung với ông Tân trong hãng điện tử. Ba đứa còn lại, xe bus mầu vàng của trường trung học sáng đón đi, chiều chở về tới đầu ngõ. Chiều, 5 giờ, về tới nhà, con Hương phụ bà Tân nấu cơm. Thằng Dương ngồi học bài cho lớp tối tại trường đại học cộng đồng gần nhà. Ba đứa còn lại, hai thằng, đứa lớp Chín, thằng lớp Bẩy, lái xe đạp đi bỏ báo chiều; đứa con gái lớp Mười Một ngồi học trong phòng. Bà cấm không cho đứa nào đi chơi trước giờ ăn cơm kể cả con Hương với thằng Dương. 6 giờ, cả nhà ngồi ăn cơm tối trong căn phòng nhỏ. Sau bữa cơm, mấy đứa con, đứa rửa chén, đứa dọn dẹp bàn ăn, đứa hút bụi trong nhà. Làm xong việc, đứa nào muốn làm gì thì làm. 8 giờ tối, giờ giới nghiêm, cả đám lại phải học. Lâu lâu bà mở cửa phòng bất tử xem chúng nó học hay đang ôm phone nói chuyện. Bị mấy đứa con phản đối ầm ỹ, bà Tân nạt liền:

- Tụi bay là con tao. Tao là mẹ. Không có prai-vai-xi cái con khỉ khô gì hết.

10 giờ tối, giới nghiêm mới hết. Mấy đứa chạy ra phòng khách coi TV, phim Mỹ. Bà cấm phim Tàu:

- Mấy thằng mấy con Hồng Kông nhìn mặt đẹp nhưng tụi nó nói tiếng Việt giọng lơ lớ nghe như ngọng.

12 giờ đêm, cả nhà tắt đèn đi ngủ. Hết một ngày. Sáng, bà dậy sớm, pha cà-phê cho ông Tân và thằng Dương, rồi lái xe tới nhà hàng Tây Đô. Một ngày mới bắt đầu.

Hai đứa con lớn của bà, con Hương 30, thằng Dương 27. Mặt, mũi, tóc, và hình dáng của cả hai không lẫn lộn trong đám đông người Việt. Có tin đồn nói bà mua con lai. Có người đoán hai đứa con lai chính là con ruột của bà.

Bà Tân đi lễ Chúa Nhật thường xuyên. Ngày thường, sáng, 7:30, bà đi làm. Khi lái xe ngang qua ngôi thánh đường, bà làm dấu thánh giá đọc một câu kinh. Năm đứa con, từ con Hương cho tới thằng Út, đứa nào không chịu đi lễ, bà chửi cho tắt đèn:

- Tụi bay đừng có giở quẻ. Qua được tới đây rồi là õng ẹo, đòi quyền tự do. Tao nói cho mà biết, không có tự do với tự lực gì hết. Không đi lễ, tao tống cổ hết ra ngoài đường cho tụi bay tự do với đám hôm-lết.

Thời gian đầu tiên lễ Chúa Nhật bà và ông Tân cùng năm đứa con ngồi chung một ghế, hàng ghế cuối cùng. Đến khi ba đứa nhỏ vào ca đoàn của giáo xứ, phải tới nhà thờ sớm tập hát, bà mới thôi không bắt mấy đứa con ngồi chung. Con Hương tuy thế vẫn ngồi với mẹ và dượng ở hàng ghế cuối cùng. Thằng Dương ngồi một mình, trong thánh lễ mắt đảo lia lịa về phía mấy cô.

Bà Tân đóng góp cho nhà thờ khá mạnh tay. Những lúc nhà thờ quyên tiền hoặc cho giáo xứ hoặc cho nạn nhân bão lụt miền Trung, bà móc bóp thả vào rổ tờ giấy xanh lớn. Bà nói:

- Không nên tiếc tiền với Chúa, với người nghèo.

Là một giáo xứ nhỏ, nằm ở tiểu bang đèo heo hút gió không có nhiều người Việt, ông cha xứ kêu gọi các gia đình sau giờ lễ xuống hội trường ăn uống, chuyện trò, hát karaoke. Mỗi gia đình góp một món ăn nhỏ. Tất cả cộng lại thành một bữa tiệc lớn. Tuần nào bà Tân cũng nấu một món cho bữa ăn chung. Khi thì xôi, lúc bún canh, hoặc bánh cuốn nhân thịt. Trước giờ ăn, bà đứng sau quầy lấy thức ăn cho từng người. Sau giờ ăn, bà ở lại dọn dẹp, rửa chén. Lần nào cũng vậy đợi cho tất cả mọi người trong hội trường bắt đầu cầm đũa, bà Tân mới lấy cho riêng mình một đĩa. Bao giờ bà cũng là một trong những người cuối cùng lái xe rời bỏ sân đậu xe rộng thêng thang vắng vẻ của ngôi giáo đường vào một buổi chiều cuối tuần.

Thấy cha xứ không có bà bếp phải ăn thức ăn Mỹ, nóng, nổi mụn đầy mặt, bà nấu những món ăn Việt Nam, canh chua cá bông lau, khổ qua nhồi thịt heo, hoặc thịt heo với cá bông lau kho tộ. Gói ghém cẩn thận, bà lái xe, tự tay mang vào nhà xứ cho ông cha.

Hồi mới tới Mỹ trước giờ lễ, ông cha nói với ông bà Tân:

- Sau thánh lễ, tôi sẽ giới thiệu gia đình ông bà với mọi người nhé.

Bà Tân ngần ngại, từ chối liền:

- Thôi... Xin cha... Con xin cha bỏ qua phần giới thiệu.

- Ủa! Sao vậy?

- Con... Tụi con không quen. Cả gia đình được qua tới bên này là mừng rồi. Tụi con không quen... Con xin cha miễn cho phần giới thiệu. Nhưng nếu cha cần gì, cứ nói con một tiếng.

Ông cha liếc nhìn con Hương và thằng Tân. Ông suy nghĩ, rồi đồng ý.

Sau thánh lễ của ngày hôm đó, cả gia đình kéo nhau ra bãi đậu xe. Trên đường bà thấy trăm con mắt nhìn ngó vào hai đứa con lớn của bà. Bà cúi xuống. Bà yên lặng. Khi người hàng xóm ngày xưa bên Việt Nam, từ Cali dọn sang mở tiệm móng tay, bà ta xác nhận với mọi người về mối liên hệ ruột thịt của hai đứa con lai với bà Tân. Bản tin rồi cũng tới tai bà. Bà Tân không phản ứng, không nói gì, nhưng trở nên yên lặng mặc dù vẫn sinh hoạt trong giáo xứ như xưa. Bà vẫn đi lễ. Bà vẫn đóng góp tiền bạc rộng tay cho giáo xứ. Bà vẫn đóng góp thức ăn vào bữa ăn chung hằng tuần. Bà vẫn thường xuyên nấu ăn, tự tay mang vào cho cha Nghi. Nhưng sau thánh lễ bà không làm gì nữa. Bà yên lặng ngồi ăn với ông chồng dưới hội trường, rồi yên lặng lái xe về nhà, khi với ông Tân, khi với mấy đứa con. Tối tối ông Tân nghe tiếng vợ thở dài, tiếng cục cựa lăn qua lăn lại cả đêm.

oOo


Tin ông Tân và thằng Dương bị xe đụng chết trên đường đi làm lan chuyền nhanh chóng trong giáo xứ. Bà Tân nhận được tin dữ trong khi đang đứng rửa chén trong tiệm ăn. Bà té xỉu! Người cảnh sát gọi xe cứu thương tới, nhưng bà đã tỉnh dậy. Ông quản lý của tiệm ăn chở bà tới nhà xác. Trên xe bà yên lặng, bà không khóc.

Hôm đám tang chôn cất, ba đứa nhỏ khóc như mưa, con Hương lăn lộn trước cỗ áo quan của thằng Dương. Riêng bà Tân, bà im lìm, mắt ráo khô, môi mím chặt nhìn hai khối gỗ mầu vàng sậm từ từ biến mất sau lớp cát. Theo lời kêu gọi của ông cha xứ, nghĩa tử là nghĩa tận, nhiều người giáo dân nghỉ làm, tham dự tang lễ tiễn chân hai người quá cố tới tận nghĩa trang.

Trong khi ông cha xứ đang cử hành những nghi thức tại nghĩa địa, trời nắng mùa thu hanh vàng dịu dàng buông xuống vùng đất thánh. Nhiều người giơ tay ngáp, cố gắng che miệng trong khi ông cha xứ đang giảng, một bài giảng dài ngoằng. Người đàn bà hàng xóm ngày xưa của bà Tân quay sang người bên cạnh:

- Chồng và thằng con lai chết cùng một lúc. Hai cái mặt nát bấy!

- Sao chị biết?

- Nghe thằng cha quản lý tiệm ăn Tây Đô nói. Mà mụ này cũng lỳ ghê. Suốt từ hôm đó cho tới bây giờ, con mẹ không buông một giọt nước mắt.

- Nghe nói ông này là chồng thứ ba rồi đó.

- Chồng thứ nhất chứ chồng thứ ba cái mốc xì. Hai thằng Mỹ trước đâu có đám cưới đám hỏi gì mà chồng với vợ. Hồi đó con mụ đi làm sở Mỹ, rồi vác cái bụng bầu. Ông bố cấm cửa không cho quay về nhà. Ông ấy nói nếu để ông thấy mặt, ông sẽ cạo đầu bôi vôi liền. Sau khi sanh ra con Hương, con mẹ thuê nhà trên Sài Gòn, mướn người vú em trông con. Mấy năm sau trước 75 mấy tháng, con mụ lại vác cái ba lô ngược. Lần này sinh ra thằng Dương. Con Hương với thằng Dương là hai chị em cùng mẹ khác cha. Ba đứa còn lại là con của ông Tân.

- Bà Tân gặp ông Tân lúc nào vậy?

- Hồi đó thằng cha đi bán xổ số, con mẹ bán cà-phê. Rổ rá cạp lại sinh ra ba đứa con. Rồi được đi Mỹ theo diện con lai.

Người hàng xóm thuở xưa tiếp tục:

- Bà có thấy con mẹ nhuộm tóc không? Tóc đỏ hung hung. Già rồi mà còn ngựa. Làm như mình còn con gái nheo nhẻo.

Bà ta trề môi buông giọng:

- Me Mỹ mà. Làm sao giấu được tung tích của mình. Giấu đầu rồi cũng lại lòi đuôi.

Liếc nhìn ông cha xứ đang rẩy nước phép lên hai cỗ áo quan, bà che miệng, cố gắng nói nhỏ lại, giọng gần như thì thào vào tai người đàn bà đứng bên cạnh:

- Tôi thấy con mẹ thậm thụt đi tới đi lui vào phòng cha Nghi mấy lần rồi.

- Thật không? Đừng nói giỡn chơi!

- Tui thấy tận mắt mà. Con mẹ lái xe tới nhà xứ. Lấm lét đi tới đi lui, rồi gõ cửa phòng cha Nghi.

Nhặt chiếc lá vàng rơi bám trên mái tóc, người hàng xóm nói:

- Nghe nói, hồi mới tới Mỹ con mẹ đâu dám lên rước lễ. Bây giờ không hiểu sao dám thè lưỡi ra nhận bánh thánh. Mà ông cha Nghi cũng kỳ khôi. Biết con mẹ là gái bán bar, nhưng vẫn cho rước lễ. Chúa phạt là phải! Thằng chồng với thằng con lai chết tại chỗ. Còn ông cha Nghi, kỳ này cũng đau ốm liên miên.

Tối hôm đó trong căn phòng một mình một bóng, bà Tân mới chịu để nước mắt buông rơi. Thoạt tiên bà chỉ sụt sùi, sau cùng vỡ nghẹn trong tiếng nấc. Con Hương nằm với đứa em gái trong căn phòng bên cạnh. Mệt lả người sau mấy ngày tang của dượng và thằng em, nó đã thiu thiu ngủ. Những tiếng nấc nho nhỏ từ phòng bên cạnh đánh thức con Hương dậy. Nó lắng nghe. Nó rón rén đi ra, gõ nhẹ cửa phòng mẹ nó. Tiếng nấc ngừng hẳn, nhưng bà Tân không trả lời. Con Hương liều. Nó xoay nhẹ nắm cửa. Cửa không khóa. Trong làn ánh sáng mờ mờ của ánh đèn ngủ, con Hương thấy mẹ nó đang ngồi trên giường, hai tay ôm mặt. Nó bước tới, ngồi xuống cạnh mẹ. Bà Tân quay sang, ôm con. Những giọt nước mắt tuôn rơi thấm ướt bờ vai của đứa con đầu lòng:

- Hương ơi!... Chắc Chúa phạt mẹ!

oOo


Noel chuẩn bị tới. Tuyết rơi đầy đường. Năm nay cha Nghi tổ chức Lễ Giáng Sinh lớn. Trong nhà thờ ông quyết định làm cái hang đá lớn kiểu Việt Nam. Thánh lễ nửa đêm sẽ được cử hành vào 8 giờ tối. Trước lễ, ca đoàn trình diễn liên tục mười bài thánh ca Giáng Sinh. Sau lễ Noel, mọi người tụ họp dưới hội trường ăn uống. Trẻ em dưới mười hai tuổi được phát quà. Chương trình văn nghệ tiếp theo sau do những ca sĩ địa phương và hai danh ca từ thủ đô Quận Cam bay sang phụ trách.

Từ đầu tháng 12 ông kêu gọi nhiều người giáo dân, vào những ngày cuối tuần tới nhà thờ quét dọn, lau cửa, chùi sàn nhà thờ, đánh vẹc-ni bóng loáng hai hàng ghế, làm hang đá, dựng ngôi sao thật lớn trên ngọn tháp chuông cao vút.

Chỉ còn mấy ngày nữa lễ Giáng Sinh sẽ tới. Mọi việc gần như hoàn chỉnh. Nhà thờ, bên trong, nhờ bàn tay của bao nhiêu người, giờ này sạch sẽ bóng lộn. Hang đá Giáng Sinh sơn mầu kim tuyến chiếm gọn một góc phía bên trái khu cung thánh. Chung quanh hang đá, những cây thông xanh ngắt cao hơn 6 feet được trang hoàng với bao nhiêu bóng điện mầu trắng. Tối tối điện bật lên. Bóng đèn trắng chớp sáng trên những cây thông tương tự như những ngôi sao bạc lấp lánh trên nền trời đêm đen. Mùi lá thông thơm nồng bay tỏa khắp ngôi thánh đường. Trên gác đàn, ca đoàn liên tục tập dượt những bài thánh ca bất hủ cho chương trình Vọng Giáng Sinh. Dưới hội trường, sân khấu với màn kéo bằng nhung đỏ cũng đã dựng xong. Trên ngọn tháp chuông cao vút của ngôi thánh đường, đèn cao thế của ngôi sao bằng nhựa trắng thật lớn tự động bật sáng khi màn đêm buông xuống.

Tháng 12 tuyết rơi. Gió lạnh từ phương Bắc rủ nhau kéo về thổi trắng thành phố. Bầu không khí Noel ngập tràn ngôi thánh đường nhỏ bé của người Việt Nam trên vùng đất mới.

Và tự nhiên cây thánh giá lớn treo trên cung thánh rớt xuống đất!!!

Sáng ngày 22 tháng 12. Cha xứ bước vào nhà thờ chuẩn bị cho thánh lễ lúc 7:30 sáng. Ông nhận ra ánh sáng của ngọn nến chầu leo lét trong cung thánh đã tắt. Bật đèn lên, ông giật mình:

- Lạy Chúa tôi!

Ông kêu lớn tiếng bởi ông nhìn thấy cây thánh giá lớn được treo bằng bốn sợi giây cáp đang nằm sõng soài ngay trên nền đá của cung thánh. Tượng Chúa chịu đóng đinh úp mặt xuống nền gạch. Ngẩng mặt lên, ông thấy bốn sợi dây cáp đang đong đưa qua lại. Rợn người, nổi da gà, ông tỉnh ngủ. Nhẹ nhàng đi tới, ông quỳ xuống bái gối trước cây thánh giá. Với cả hai tay, ông nhấc cây thánh giá lên. Cây thánh giá nhích đi một chút, rồi lại nằm yên. Một lần nữa hít một hơi dài, cha Nghi lấy hết sức lực của tuổi ba mươi tập tạ hằng ngày nhấc cây thánh giá lên. Nhưng lần này cây thánh giá không hề di chuyển dù chỉ là một phân! Cha Nghi có cảm tưởng mình đang ôm trong lòng nguyên một núi đá phủ đầy băng tuyết.

Chỉ còn 10 phút nữa là 7:30 sáng, giáo dân đi lễ lác đác xuất hiện. Người người bàng hoàng nhận ra cây thánh giá đang nằm úp mặt xuống nền gạch. Không ai bảo ai, hai ba người đàn ông phụ nhau nhấc cây thánh giá lên. Nhưng cây thánh giá không lay chuyển. Sau cùng khoảng hai mươi người, cả đàn ông lẫn đàn bà, tất cả mọi người có mặt trong nhà thờ cùng xúm vào. Cây thánh giá vẫn im lìm. Tượng Chúa chịu nạn vẫn cúi mặt xuống nền gạch lạnh giá của một ngày cuối tháng 12 của mùa Giáng Sinh.

Câu chuyện cây thánh giá chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ lan ra khắp thành phố. Tất cả những đài truyền hình, truyền thanh địa phương đồng loại lên tiếng, “Cây thánh giá gỗ rớt úp mặt xuống nền cung thánh! Không ai nhấc nổi!” Bỗng dưng ngôi thánh đường vô danh nhỏ bé ngập tràn tiếng động. Tiếng người phỏng vấn những giáo dân có mặt vào những giây phút đầu tiên. Tiếng đọc kinh của những người đàn bà trong nhà thờ. Tiếng chân chạy tới chạy lui của những người phóng viên ôm dàn máy lớn loay hoay chụp hình cây thánh giá lạ kỳ từ nhiều góc. Ngôi giáo đường, bình thường vắng bóng người, giờ này tấp nập người ra người vào. Cha Nghi quyết định đóng cửa nhà thờ, ngoại trừ cửa chính dành cho những người muốn thử, nâng cây thánh giá lên. Giờ này từ phía cuối nhà thờ, người có đạo cũng như không, đang xếp hai hàng dài dẫn lên tới cung thánh. Hết người này tới người kia, cây thánh giá gỗ vẫn nằm im lìm.

Nguyên một ngày dài sân đậu xe của ngôi thánh đường hẻo lánh tấp nập với bao nhiêu xe cộ ngược xuôi của khách thập phương hiếu kỳ ghé tới tìm hiểu câu chuyện lạ. Dưới mái hiên của nhà thờ, những gian hàng nho nhỏ nhanh chóng được dựng lên. Người ta buôn bán những cây thánh giá gỗ nhỏ được khắc sơ sài theo hình dạng của cây thánh giá lạ kỳ. Người ta treo bảng on sale cho những chiếc áo sweatshirt in hình chụp cây thánh giá nằm úp mặt. Cửa nhà thờ đã khóa lại lúc 11 giờ đêm, tuyết rơi ngập đường xá, nhưng ánh đèn xe cộ vẫn chiếu sáng khu đậu xe của ngôi thánh đường vào lúc nửa đêm về sáng. Trên ngọn tháp chuông cao vút, ánh đèn sáng chói của ngôi sao lạ soi đường dẫn lối cho những người khách phương xa vẫn đang nối đuôi tìm tới ngôi thánh đường.

Tối hôm đó đài CNN phỏng vấn ba người. Một người là thợ chính có trách nhiệm treo cây thánh giá lên trên trần của cung thánh. Người kia là giáo dân, một trong những người đầu tiên có mặt ngay khi câu chuyện lạ kỳ được khám phá. Người còn lại là điêu khắc gia đã làm cây thánh giá gỗ cho nhà thờ,

- Ông là người thợ chính có trách nhiệm treo cây thánh giá lên cách đây bốn năm. Theo như ông, trong trường hợp nào cây thánh giá gỗ có thể bị rơi xuống?

Người thợ trầm ngâm, nhíu mày, lắc đầu, điệu bộ cương quyết,

- Cây thánh giá…cây thánh giá không thể nào rơi xuống được…trừ khi…trừ khi có người cố tình tháo hoặc vặn lỏng bốn cái đinh ốc lớn giữ chặt bốn sợi dây cáp với cây đà ngang trên mái vòm của cung thánh. Bốn sợi dây cáp này được buộc chết vào cây gỗ ngang của cây thánh giá.

Người giáo dân xác định câu nói của người thợ chính,

- Sáng nay khi nhìn lên bốn sợi dây cáp còn treo lủng lẳng trên trần cung thánh, tôi đoán hình như có bàn tay của ai đó nhúng vào vụ này. Người này đã dùng cái kéo lớn cắt đứt bốn sợi dây cáp, bởi tôi thấy rõ ràng bốn đoạn dây cáp nhỏ khoảng một gang tay bị cắt đứt vẫn còn dính liền với cây thánh giá.

Người phóng viên quay sang người giáo dân,

- Ông có nghi ai là thủ phạm đã cắt đứt bốn sợi dây cáp không?

- Không, tôi không biết. Nhưng để làm được chuyện cắt đứt những sợi dây cáp lớn, người này phải có một cái thang cao lắm.

Hướng về người điêu khắc, người phóng viên hỏi,

- Theo tôi được biết, cây thánh giá làm bằng gỗ.

Người điêu khắc gật đầu xác nhận,

- Cây thánh giá làm bằng gỗ sồi. Chiều dài 6.6 feet, chiều ngang 4.9 feet [1]. Tượng Chúa chịu nạn làm bằng thạch cao. Cây thánh giá nặng 40 pound. Tượng Chúa, tôi còn nhớ khoảng 20 pound thôi. Tổng cộng lại, cây thánh giá không thể nào nặng hơn 60 pound … [2]

Người phóng viên ngắt lời của nhà điêu khắc gia,

- Nếu vậy, tại sao không ai nhấc nổi cây thánh giá lên?

- Tôi không hiểu. Với một trọng lượng không quá 60 pound, một người đàn ông bình thường dư thừa khả năng nhấc cây thánh giá gỗ lên. Có một điểm lạ kỳ, cây thánh giá rớt từ trên cao, úp mặt xuống nền gạch, nhưng tượng Chúa bằng thạch cao không hề bị sứt mẻ dù chỉ là một miếng bể nhỏ.

oOo


Sáng ngày 23 tháng 12 đã tới. Tuyết lại rơi. Những hạt tuyết êm đềm rớt xuống phủ lấp những dấu chân, những vết bánh xe kéo dài ngang dọc trên thảm tuyết trắng của ngày hôm trước. Những vết chân mới lại xuất hiện khắp nơi trên sân nhà thờ. Người ta tiếp tục kéo về ngôi thánh đường nhỏ bé. Nhà thờ vang lên những tiếng đọc kinh nho nhỏ thầm thì của những cụ già da mồi tóc trắng, những người trung niên cổ quấn khăn hoặc cà vạt, áo bỏ vào quần, và luôn cả những người thanh niên thiếu nữ tóc nhuộm xanh nhuộm đỏ, tai, mũi, và môi xỏ nhiều tòng teng, cổ đeo đầy dây chuyền vàng lóng lánh.

Tương tự như ngày hôm qua, hai hàng người vẫn tiếp nối nhau kéo dài vào tới khu cung thánh nơi có cây thánh giá gỗ không nặng hơn 60 pound. Bầu không khí trang nghiêm của ngôi giáo đường và hình ảnh cây thánh giá nằm úp mặt cúi xuống của khu cung thánh khiến mọi người có mặt trong nhà thờ, giáo hay lương, đều e dè khép nép yên lặng trong khi chờ đợi tới phiên mình. Từng người rồi từng người, họ cung kính bái gối trước cây thánh giá, họ mím môi vận dụng sức lực trên đôi bàn tay, họ hít hơi căng phồng những bắp thịt lực lưỡng trên đôi vai, họ nhấc cây thánh giá lên, và rồi họ thất bại. Cuối cùng họ quay xuống, nhập chung với những người đang quỳ trên những hàng ghế gỗ được đánh bóng loáng. Họ cầu nguyện. Họ đọc kinh. Có người khóc nho nhỏ trong miệng. Có người sụt sùi. Có người nấc nghẹn. Nhưng cây thánh giá vẫn không chuyển động dưới bất cứ một đôi tay nào!

Ngay trên trang nhất của báo The New York Times, người ta chạy một hàng tít lớn, “Ngày cuối cùng của nhân loại đã tới?” Những trang kế tiếp ngập tràn bài phỏng vấn những người giáo dân của ngôi thánh đường nhỏ bé. Những trang Websites của Yahoo, Netscape, AOL, những đại công ty điện toán trên thế giới đồng loạt in tấm hình của cây thánh giá đang nằm úp mặt xuống nền gạch. Cạnh tấm hình là những hàng chữ, “Ngày Tận Thế?” hoặc “Lại một trò mới của nhà thờ La Mã?” hoặc “Điềm lạ chi đây?” Tất cả những hàng tít lớn đều được tô đậm với mầu đỏ, mầu máu đỏ tươi. Đài CNN, ABC, FOX News, PBS, và BBC liên tiếp bình luận về cây thánh giá gỗ. Người ta vẫn không hiểu ai đã cắt đứt những sợi dây cáp cứng hơn thép. Người ta vẫn không hiểu tại sao không ai có thể di chuyển nổi cây thánh giá 60 pound. Người ta nghĩ có lẽ những ngày cuối cùng của trái đất và của vũ trụ đã tới. Có người nói họ thấy rõ ràng mặt trời xoay tròn quay tít trên bầu trời. Có người nói mặt trăng tròn của những ngày rằm hiện ra bất ngờ trên nền trời tối đen cuối tháng 12, mặt trăng tròn đỏ như máu. Có người nói ngay giữa ban ngày họ nhìn thấy những đám mây đỏ như lửa mang hình dáng của quỷ vương với hai cái sừng nhọn lững lờ bay trên nền trời xám đen của một ngày cuối tháng 12. Có người nói nước lạnh băng của dòng sông Mississippi, đoạn sông chạy ngang qua thành phố có ngôi thánh đường với cây thánh giá gỗ, tự nhiên đổi sang mầu đỏ của máu; cá tôm chết ngập nổi lềnh bềnh trên mặt sông đỏ đậm. Có người nói trong xứ có thằng bé ba năm nay không nói được một câu sau khi bị xe đụng vào đầu, chấn thương sọ não; giờ này tự nhiên mở miệng nói như sáo. Có người nói ông cha xứ bị cây thánh giá gỗ rớt xuống đập ngay đỉnh đầu trong khi đang chuẩn bị bàn thánh cho thánh lễ sáng sớm của ngày hôm đó; cho nên đã mấy ngày rồi, không ai thấy bóng dáng của ông. Có người nói tối tối có những con chó sói đen tuyền từ khu rừng thông kéo về; từng bầy rồi lại từng bầy chạy nhảy chung quanh nhà thờ; cả bầy sói đen thi nhau ngửa cổ lên nền trời tối, hú vang nghe như tiếng con nít khóc. Có người nói đêm đêm những vết thương trên người của tượng Chúa chịu nạn tự nhiên ứa tràn máu, máu chảy ra loang đỏ cả sàn gạch của cung thánh; nhưng khi trời bình minh tới, máu biến đi; ai vô được nhà thờ vào ban tối, hứng lấy được những giọt máu thánh, người đó sẽ được cứu độ; riêng những giọt máu đỏ, ai đụng vào mọi bịnh tật nan y sẽ biến mất.

Chỉ còn một ngày nữa, ngày 24 tháng 12 sẽ tới. Ba ngày nay ngôi giáo đường được chuẩn bị kỹ lưỡng cho một mùa Giáng Sinh đã hoàn toàn biến mất bầu không khí rộn ràng của mùa Noel, ngoại trừ ngọn đèn cao thế trong lòng ngôi sao lớn trên nóc tháp chuông. Đêm đêm ngọn đèn vẫn tung ra những tia sáng chiếu rọi một khoảng trời tối đen của tháng 12. Không ai buồn cắm điện, hang đá kim tuyến và những cây thông xanh mướt vắng ngắt những ngọn đèn. Ngôi nhà thờ tối om ngoại trừ khu cung thánh, nơi thánh giá gỗ vẫn nằm im lìm buồn thiu. Nhiều người phóng viên muốn gặp ông cha xứ nhưng cửa phòng đóng kín. Bên ngoài, một miếng giấy treo lên, “Please, do not disturb”. Mọi công chuyện trong nhà thờ do ông Trùm của giáo xứ, một người trung niên khoảng bốn mươi tuổi đảm nhiệm.

Hàng người vẫn dài, người ta cố gắng lay chuyển thánh giá. Và người ta tiếp tục thất bại. Hàng người chỉ tan biến lúc 11 giờ đêm là giờ nhà thờ đóng cửa. Cửa nhà thờ đóng lại, người người vẫn không bỏ về. Mãi đến khi những chiếc xe cảnh sát bật đèn, hú còi, đám đông mới chịu giải tán.

Tuyết vẫn rơi. Màn đêm buông xuống. Đêm đen dầy đặc bao phủ. Một ngày nữa, ngày 23 tháng 12 đã trôi qua.

oOo


Sáng 24 tháng 12, trời ngưng rơi tuyết. Mầu xám biến mất. Sáng 24, mặt trời đẩy sang một bên những khối mây xám xịt dầy đặc đã liên tục che kín mít bầu trời của tháng 12 hơn một tuần lễ. Những tia nắng bình minh đầu tiên nhẹ nhàng buông xuống rọi sáng tháp chuông nhà thờ. Ngôi sao Noel của tháp chuông vươn cao đón nhận những tia nắng bình minh như muốn tẩy sạch những hạt tuyết đang bám cứng trên mình.

7 giờ 30 buổi sáng, cánh cửa chính của nhà thờ được ông Trùm mở rộng. Những người đầu tiên trong hàng người dài bắt đầu tiến lên cung thánh. Hai người đầu tiên, cây thánh giá vẫn nằm im không động đậy.

Tới người thứ ba, rồi người thứ tư, thứ năm, cây thánh giá gỗ tiếp tục lặng câm. Và người thứ sáu... Mọi người giật mình, sững sờ nhìn lên cung thánh!

Ông Trùm tự tay giật chuông nhà thờ. Ba ngày nay tiếng chuông lặng câm. Giờ này tiếng chuông bừng dậy, hoan ca, reo vui! Chuông ngân dài! Chuông thánh thót! Chuông mừng vui! Tiếng chuông ngân dài vang xa trong bầu trời sáng sớm. Tiếng chuông thánh thót quyện tròn nhảy múa với những tia nắng lung linh rực rỡ. Tiếng chuông mừng vui báo hiệu một ngày mới đã bắt đầu.

8 giờ sáng, những màn ảnh truyền hình đang ngập tràn tin tức của thế giới với nhiều biến động bỗng nhiên dừng lại. Người xướng ngôn viên đài CNN xuất hiện trên màn ảnh nhỏ, thông báo bản tin đặc biệt,

- Gần ba ngày rồi cây thánh giá gỗ trong nhà thờ không ai lay chuyển nổi. Sáng nay lúc 7:45 buổi sáng cây thánh giá gỗ đã được nâng dậy. Hiện giờ chúng tôi chưa biết tên của người này. Theo lời của những giáo dân trong xứ đạo sáng nay trên đường đi làm, bà ta ghé vào nhà thờ. Khi bà nâng cây thánh giá gỗ lên, cây thánh giá 60 pound nhẹ nhàng chuyển mình dưới đôi tay của bà ta. Theo như phóng viên của bản đài đang có mặt tại ngôi thánh đường, cây thánh giá đang được những người giáo dân treo vào vị trí cũ. Theo như chúng tôi được biết, chồng của người đàn bà và đứa con thứ hai vừa qua đời vào tháng 10 vừa qua, sau một tai nạn xe cộ trên xa lộ…

Tuyết lại rơi. Những hạt bông gòn trắng toát nhè nhẹ bay xuống. Chỉ trong thoáng chốc tuyết lại phủ trắng ngôi thánh đường, tuyết thổi trắng tháp chuông, và tuyết bám chặt những hàng cây thông xanh trong khu công viên nhà thờ. Tiếng chuông tiếp tục ngân nga. Chuông của mừng vui. Chuông của hạnh phúc. Chuông của bình an. Bình an ngập tràn trong tâm hồn của từng người trên trái địa cầu mầu xanh lơ vào những ngày cuối cùng của tháng 12. Mùa thanh bình lại ghé về thăm hỏi từng mái ngói, nhẹ nhàng gõ cửa từng căn nhà.

Nguyễn Trung Tây, SVD

Chú thích:
[1] 2 mét chiều dài, 1.5 mét chiều ngang.
[2] Khoảng 27 ký.

Được tạo bởi Blogger.