TIỂU SỬ


Lê Hữu Mục sinh ngày 24 tháng 11 năm 1925 tại làng Lưu Phương, thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Thân sinh là nhà nho, ông là người thứ bẩy trong tất cả 11 anh em với tám trai và ba gái.

Học Vấn

Tiến Sĩ, Văn Chương Việt Nam, Đại Học Sài Gòn, 1970.
Cao Học, Văn Chương Việt Nam, Đại Học Đà Lạt, 1960.
Cử Nhân, Văn Chương Pháp, Đại Học Hà Nội, 1950.

Âm Nhạc

Chèo Đi, Bơi Đi (nhạc và lời, 1938)
Hẹn Một Ngày Về (nhạc và lời, 1953)

...

Dạy Học

Giáo Sư, Quốc Học, Huế, 1952-1957
Giảng Viên, Đại Học Huế, Văn Chương Việt Nam, phân khoa Sư Phạm, 1957-1963
Giảng Viên, Đại Học Huế, Viện Nghiên Cứu Nôm Học, 1958-1963
Giảng Viên, Đại Học Huế, Văn Khoa

Giáo Sư, Đại Học Sàigòn (Sài Gòn), Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Hán-Nôm, chủ bút tập san Hán-Nôm.
Giảng Viên, Đại Học Đà Lạt (Đà Lạt),
Giảng Viên, Đại Học Hòa Hảo (Long Xuyên),
Giảng Viên, Đại Học Cao Đài (Tây Ninh),
Giảng Viên, Đại Học Phương Nam (Sàigòn),
Giảng Viên, Đại Học Vạn Hạnh (Sàigòn),
Giảng Viên, Đại Học Cộng Đồng Nha Trang (Nha Trang),
Giảng Viên, Đại Học Cộng Đồng Mỹ Tho (Mỹ Tho), Văn Chương Việt Nam, phân khoa Sư Phạm, 1964-1975

Nghiên cứu Nôm, 1981-1984

Pascale Baylon (Montréal) và nhiều trưòng trung học khác. Liên lạc viên giữa phụ huynh học sinh và PELO (Programme de l'Enseignement des Langues d'Origine), 1985-1990

Dạy Hè tại các trường Đại Học Âu Châu như Fribourg (Thụy Sĩ), Strasbourg, Nancy (Pháp), Frankfurt (Đức), Oslo (Na Uy), và Mỹ Châu như St Thomas (Houston), 1990-2005.

Nghiên Cứu Tiêu Biểu

"SONG VIẾT LÀ SÀNG VẠT", Lê Hữu Mục, Vietnamologica, số 2, 1996, Trung Tâm Việt Nam Học Canada.

Khóa Hè Tiêu Biểu

"VĂN HOÁ VIỆT NAM VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ CỦA NÓ ĐỐI VỚI GIỚI TRẺ VIỆT NAM SỐNG TRÊN ĐẤT NƯỚC MỸ", Lê Hữu Mục, University of St Thomas, Houston, 1999.

Tác Phẩm

Thân Thế và Sự Nghiệp Nhất Linh (giáo khoa, 1955)
Nhận Định về Đoạn Tuyệt (biên khảo, 1955)
Luận Đề về Khái Hưng (giáo khoa,1956)
Luận Đề về Hoàng Đạo (giáo khoa,1956)
Chủ Nghĩa Duy Linh (biên khảo, 1957)
Văn Hóa và Nhân Vị (biên khảo, 1958, cùng Bùi Xuân Bào, Võ Long Tê)
Thảm Trạng của Một Nền Dân Chủ Vô Thần (1958)
Lĩnh Nam Chích Quái (1959)
Việt Điện U Linh Tập (1960)
Quân Trung Từ Mệnh Tập (1960)
Ức Trai Thi Tập (1961)
Nhị Khê Thi Tập (1962)
Băng Hồ Ngọc Báo Tập (1963)
Chúa Thao Cổ Truyện ( 1965)
Lịch Sử Văn Học Việt Nam, Tập 1 (biên khảo, 1968)
Khóa Hư Lục (1973)
Hồ Chí Minh Không Phải Là Tác Giả “Ngục Trung Nhật Ký” (1988)
Truyện Kiều và Tuổi Trẻ (1998, nxb Làng Văn, 1990)

Dịch Thuật

Huấn-Dịch Thập-Điều, Thánh Dụ của vua Dục Tông, Minh Mệnh, vua Việt Nam, 1791-1840, (Sàigòn : Ủy-ban dịch-thuật, Phủ Quốc-vụ-khanh đặc-trách Văn-hóa, 1971)

Bài Viết Tiêu Biểu

1/ Văn Hóa Việt Nam - Nước, đặc trưng hình thái của tư tưởng Việt Nam
2/ Văn Hóa Việt Nam - Thuyết Bất Vô
3/ Văn Hóa Việt Nam - Đối diện với Văn Hóa Mỹ
4/ Cụ Sáu đối diện với phong-trào Văn-thân
5/ Cụ Sáu đối phó với phong-trào Văn-thân
6/ Cụ Sáu đối lập với phong-trào Văn-thân

Tập San
1990-2005 : Vietnamlogica, sáng lập viên, chủ bút, cộng tác viên


GS Lê Hữu Mục đã về nhà Chúa lúc 10:57 tối ngày 08/11/2017 tại Montreal, Canada.




Nhà biên khảo. Tên thật Lê Hữu Mục, Sinh ngày 24 tháng 11 năm 1925, tại Lưu Phương. Phát Diệm, Ninh Bình. Vào Nam năm 1954. Dạy tại các trường đại học Huế, đại học Sài Gòn, đại Học Ðà Lạt. Hiện cư ngụ tại thành phố Montréal Canada. Ðược giải thưởng Khóa Hư Lục về nghiên cứu, phiên dịch do Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa trao năm 1970, về bộ sách dịch Trần Thái Tôn. Khởi nghiệp văn học nghệ thuật bằng âm nhạc, nhưng thành danh về biên khảo. Ðã soạn nhiều bộ sách song ngữ tại Pháp cùng các tác giả Huỳnh Sanh Thông,  Phạm Thị Nhung,  Ðặng Quốc Cơ, Xuân Phúc.

Chủ biên tạp san Vietnamologica.

Tác phẩm đã xuất bản:
Chiều Ơi Bơi Ði (bản nhạc, 1941), Hẹn Một Ngày Về (Nhạc và Lời, 1955), Thân Thế Và Sự Nghiệp Nhất Linh (giáo khoa 55 Nhận Ðịnh Về Ðoạn Tuyệt (biên khảo, 1955), Luận Ðề Về Khái Hưng (giáo khoa,1956), Luận Ðề Về Hoàng Ðạo (giáo khoa 1956), Chủ Nghĩa Duy Linh (biên khảo,1957), Văn Hóa Và Nhận Vị (biên khảo, 1958 cùng Bùi Xuân Bào, Võ Long Tê), Thảm Trạng Của Một Nền Dân Chủ Vô Thần (1958), Lĩnh Nam Chích Quái (1959), Việt Ðiện U Linh Tập (1960), Quân Trung Từ Mệnh Tập (1960), Ức Trai Thi Tập (biên khảo,61), Nhị Khê Thi Tập (1962), Băng Hồ Ngọc Báo Tập (1963), Chúa Trao Cổ Truyện (1965) ,Lịch Sử Văn Học VN tập 1 (biên khảo 1968), Khóa Hư Lục (1973), Hồ Chí Minh Không Phải Là Tác Gỉa 'Ngục Trung Nhật Ký’ (1988), Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ (1998)

Nguồn: http://www.luanhoan.net/tacgiavn/1htm/lehuumuc.htm


NGUYỄN XUÂN VĂN
Tên thật: Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn, sinh năm 1922, tại Mỹ Đức, Ân Tín, Hoài Ân, Bình Định, giáo phận Qui Nhơn. Được rửa tội từ nhỏ. Tu học tại Tiểu chủng viện Làng Sông (1936-1943) và Đại chủng viện Qui Nhơn (từ 1943). Thụ phong linh mục ngày 25-1-1956. Phục vụ tại các giáo xứ Trúc Hà (1956), Đà Nẵng (1957), chủng viện Làng Sông Qui Nhơn (1958-1962), chánh xứ Phú Hương (1962-1964), Hòa Khánh (1965-1975), Mằng Lăng (1975-1986) và Tuy Hòa (từ 1986).
Qua đời ngày 10-01-2002.
Trường thi “Sứ điệp tình thương” là tập diễn ca toàn bộ Tin mừng, dài 9764 câu lục bát, được viết trong thời gian 10 năm ở Mằng Lăng.

SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG
TRĂNG THẬP TỰ
Quyển Sứ Điệp Tình Thương khởi viết từ năm 1977. Ngay từ cuối năm 1975, Đức Cha Phaolô Huỳnh Đông Các, giám mục Qui Nhơn, đã đề nghị cha Xuân Văn viết một bản cuộc đời Chúa Cứu Thế bằng văn vần cho trẻ em học. Cha chưa cầm bút thì một chuyến tham quan trong năm 1976 đã khiến cha xin Đức Cha cho thực hiện theo một hướng khác:
- Thưa Đức Cha, để cho trẻ em dùng thì đã có bản song thất lục bát của Đức Cha Bắc Ninh. Nay xin để con viết cho người lớn.
Cảm hứng đã đến khi cha theo đoàn tham quan của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đi thăm nhà bảo tàng Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Cô hướng dẫn viên đã thuyết minh với một giọng đầy truyền cảm khiến cho có người ứa lệ. Chứng kiến cảnh ấy, cha thầm nguyện:
- Phải rồi, Chúa ơi, con cũng phải viết thế nào để người ta đọc mà khóc vì yêu mến Chúa.
Về sau, viết xong rồi, cha nhiều lần nói với tôi:
- Tiếc là mình còn thiếu lòng mến, cho nên chưa diễn tả được thật hay.… Cũng có những câu hay nhưng chưa diễn tả được sức mạnh của lời Chúa.
Tập thơ hoàn thành được cũng là nhờ hoàn cảnh. Sau kịch bản “Tử Thần” viết trong thời gian làm quản lý ở Tiểu Chủng Viện Làng Sông, có thể nói là cha đã buông bút. Không phải vì cha lười nhưng vì bao nhiêu công việc dồn dập của một linh mục coi xứ cản trở. Mãi đến khi về Mằng Lăng mới thoát khỏi chuyện xây cất cơ sở, tổ chức hội đoàn và mới có được sự cô tịch tĩnh lặng. Và đó là lúc Đức Giám Mục bảo cha cầm bút lại.
- Không phải bản chất tôi lười nhưng có lẽ chứng đau gan khiến mình uể oải, nặng nề, ngại viết. Tuy nhiên, việc gì đã bắt đầu, tôi đều cố gắng làm xong, không bao giờ chịu bỏ dở. Với cái moindre effort, với chút cố gắng cần thiết thì việc gì rồi cũng xong. Tập này tôi đã bắt đầu thì cũng làm xong cho bằng được. Dù vậy, có những thời gian dường như là đêm tối, cả năm không viết được câu nào.
(Trích “Vài nét về cuộc đời linh mục nhà thơ Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn”)
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 135-136)















PHÊRÔ LONG GIANG TỬ
Tên thật: Phêrô Nguyễn Văn Hai, bút hiệu Long Giang Tử – sinh năm: 1920 – Dạy học và dạy đàn violon.
Tác phẩm:
Phúc âm diễn ca: Đời sống ẩn dật và công khai của Chúa Cứu Thế (8.088 câu) – Tâm niệm (490 câu) – Trần tình (110 câu) – Những trang sử đẫm mồ hôi của họ đạo Chợ Lớn Việt Nam (1972)
CẦU NGUYỆN
Cầu nguyện là nói chuyện với Chúa đã cần, đọc Phúc Âm là nghe Chúa nói lại cần hơn chừng nào! Vì lý do đó, ta phải đọc Phúc Âm. Nhưng đọc thì hay quên và không thấm thía bằng ngâm nga. Muốn ngâm nga phải thơ là một nghệ thuật vô bờ bến làm cho đến độ tuyệt vời!
Lời Chúa là những hoàn ngọc thiên thu trọn hảo mà muốn xếp lại cho thành thơ là vạn nan vậy.
Thôi thì cố gắng mà làm để cho mình và những ai cùng chung lý tưởng.
Lời Chúa nguồn thương tực suối mơ,
Quanh co uốn lượn tự bao giờ…
Hồn con, nai khát bên khe thác,
Tươi mát mong chờ giọt ý thơ.

LONG GIANG TỬ
CHUYỆN HAI NGƯỜI CHÚNG TÔI
LÊ ĐÌNH BẢNG
Còn nhớ tháng 12 năm 1965, anh rủ tôi đi xe đò về Mặc Bắc (Vĩnh Long) quê anh. Nơi có ngôi nhà thờ cổ kính soi mình xuống dòng Bassac mông mênh. Họ đạo ở Nam bộ không mấy sầm uất đông vui như ở Bắc bộ. Chầu lễ xong, nhà thờ vắng hoe, ai về nhà nấy. Nhưng được cái tình làng nghĩa xóm rất đỗi mặn mà, đi dễ khó về. Trên đời, dưới dừa, bát ngát bao la, uống đã một tuần rượu, vẫn không một bóng nắng trên đầu. Chiều chạng vạng, dơi rủ nhau bay ra như ong vỡ tổ, như mối gặp mưa. Dơi ở đây – Nam bộ, Bắc bộ - to khác thường, lông màu hoàng yến óng ả như tơ tằm. Khác xa lũ dơi đen xì, xấu xí, hôi hám như quỷ bay đầy tháp chuông nhà thờ họ quê tôi. Mấy đứa cháu hè nhau trèo lên đọt dừa, bắt dơi dễ như lấy đồ trong túi. Chả là, dơi ta hút đẫy mật sữa đọt dừa, say ngất ngư con tàu đi, rồi xỉn luôn, ngủ mơ màng tòong teng. Trên cái sập gỗ gụ lê dưới gốc mãng cầu, dọn ra từ bao giờ, một mâm đồ nhậy đầu ắp, thơm lừng. Nào chả chiên, nào xào lăn nước cốt dừa, nào cháo hà nàm dơi nấu chung với đậu xanh, hạt sen. Ăn uống no say, ngủ vùi tới sáng, chẳng biết trời trăng gì ráo trọi. Cuộc sống, tình người gạo chợ nước sông của người Nam bộ hào hiệp, phóng khoáng lắm, không nề nếp kín kẽ như người Bắc mình. Sáng hôm sau, ông bạn quý dẫn tôi đi thăm chùa Dơi của tăng phái sư sãi Phật giáo Khmer. Ở đây, tôi còn được nghe 1001 giai thoại hấp dẫn về dơi đồng bằng sông Cửu Long nữa kìa […]
Cho đến một ngày tháng 4-1975, khi tiếng súng tiến công nổ vào Sài Gòn ì ầm, tán loạn thì mỗi người một ngả. Anh và tôi đều nghỉ dạy học. Hôm 07-7-1977 trở thành ngày lịch sử ngã rẽ cuộc đời của cả hai anh em. Căn nhà trong hẻm 47/24 Tân Hòa Đông, Phú Lâm, quận 6 trở thành điểm giao lưu gặp gỡ của đồng nghiệp cũ, của bạn thơ bốn phương. Chiều nào, tôi cũng mệt mỏi dẫn xác chiếc xích lô ghé lại đây để tâm sự vặt, để “vịn câu thơ mà đứng dậy!” hoặc để an ủi nhau sống cầm cự, nhẫn nhịn qua ngày. Căn gác chật chội, lôi thôi đủ thứ: nồi niêu xoong chảo, bát đũa, quần áo và đặc biệt có cây đờn Violon, cái máy đánh chữ, một xấp giấy tập cắt sẵn và những bài thơ ngổn ngang, vương vãi. Vợ anh già yếu hơn, chỉ ngồi một chỗ mà vẫn góp được nhiều chuyện văn thơ lý thú. Thì ra lúc ấy, anh đang viết Thơ Phúc âm và Diễm Tình Ca. Xong tờ nào, anh đưa tôi xem tờ nấy. Góp ý, sửa chữa. Chuyện vui như pháo rang, quên cả cái xích lô để ngoài kia có khách gọi. Thơ Phúc âm ra đời trong cái hoàn cảnh rất hoàn cảnh ấy.
Cho đến năm 1978 -1979, anh yếu hẳn, luôn rũ rượi ho. Chị về quê Mặc Bắc, xin cha sở và bà con đồng hương đồng khói ít gạo, ít mắm, ít tiền lên, nuôi nhau sống qua ngày. Thời buổi lúc này cực kỳ khó khăn, túng đói, ngăn sông cấm chợ đủ điều. Chị chia cho tôi chút đỉnh về với vợ con, vì quá biết cái nghề ngỗng phu xe của tôi chẳng nên cơm cháo gì. Rồi bẵng đi một thời gian dài, tôi nghe cha Nho bảo anh đau nặng, khó qua khỏi. Hai ngày ở bên anh, tôi còn được nghe lời trăn trối về đứa con tinh thần của anh: Thơ Phúc Âm… Hôm tiễn đưa anh lần cuối đến nhà thơ Hiển Linh, ra lò thiêu và trở về căn gác nghèo xác xơ này, tôi khóc hết nước mắt. Trở về nhà, lục lọi tủ sách Giảng Văn, tôi tìm ra được bài thơ cuối cùng anh tặng hôm nào (1987):
Trang thơ cát bụi không nhòa
Cội nguồn đạo đức, tinh hoa nước trời
Tin Mừng rao giảng khắp nơi
Thánh đường ghi dấu một thời gian nan
Dầu cho sóng gió phủ phàng
Lòng tin bền vững đá vàng không phai
Người xưa về cõi trời mây
Dặm người ở lại tháng ngày còn xa
Chuyện đời, chuyện đạo bao la….
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, từ trang 122-125)

Tặng Phương Hương
Phút linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen.
Khói trầm bén giấc mơ tiên
Bâng khuâng trăng rải qua miền quạnh hiu.
Tô Châu lớp lớp phù kiều
Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam.
Rạc rời vó ngựa qua quan
Cờ treo ý cũ, mây dàn mộng xưa.
Biển chiều vang tiếng nhân ngư
Non xanh thao thiết, trời thu rượi sầu.

Quá quan bạc nửa mái đầu
Lòng nương quán khách nghe mầu tà huân.
Buồn Tư Mã, nhớ Chiêu Quân
Nét hoa thấp thoáng, ý thần đê mê.
Phút linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen...
(Trích, Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 74-75)















Tình vạn dặm, tên người yêu chắc đẹp
Người và tôi xa quá đỗi – muôn trùng
Tôi với người chưa một giấc mơ chung
Đời viễn xứ nên tình không thấu hết.
Hoài mộng cho tin, nghi ngờ để biết
Hỡi người duyên, người xa cách muôn trùng
Đến bao giờ nằm ngủ giấc mơ chung
Cho thơ sáng tỏa quanh hồn thắm thiết.
Hỡi người đẹp chưa bao giờ quen biết

Mắt người vui hay đôi mắt người buồn?
Tóc tơ dài, hay dáng vóc thuôn thuôn
Người có khóc những khi trời rất đẹp?
Rồi một buổi nghe tin người bỗng chết
Rũ hồn sầu trong một thoáng mong manh
Tôi về đây, đường ngập bóng thu xanh
Đem thơ thắm ủ thiên tình bất diệt.
Tôi biết hỏi lòng sầu hay mắt đẹp
Xưa tuy xa, nay lại quá muôn trùng!
Hỡi người duyên, người thương nhớ tôi không?
Tôi yêu lắm, giẫu tình chưa giãi hết.
Và tôi khóc những khi trời rất đẹp.
(Trích, Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 73-74)




















Nhà em ở cách hai sông
Muốn qua bên ấy phải vòng phía non.
Lúc xanh sóng lúa reo cồn
Cây xanh dẫn lối, lối mòn cỏ tươi.
Chân đi, mắt ngoảnh trông trời
Khẩn thầm: Thượng Đế phù tôi kịp đò.
Cho tôi mang tấm tình thơ
Gửi người xa mấy lần đò ngóng trông.
Sông xuân hẹn chở hết lòng
Đò xuân đem hết chờ mong tới bờ.

Em ôi, anh lỡ chuyến đò
Chuyến đò thứ nhất, chuyến đò đời anh.
Sông xuân thao thiết mầu xanh
Sông xanh xanh quá, lòng anh lại tàn.
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 73)













LỜI RU CỦA MẸ
Khi con còn ngủ trong thai
Cuống rau mẹ chắt đêm ngày thức ăn
Nôi êm nâng giấc con nằm
Sữa thơm mẹ lại vắt phần nuôi con
Bùn màu thắm nước nâu non
Biết bao nghĩa cả tình son với đời
Kiếp sau xin lại làm người
Để nghe non nước vọng lời mẹ ru.

CHIỀU
Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
Mầu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây…
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 72 và 75)




















MẸ ĐẸP VÔ NGẦN
Con nhớ một lần đứng ngắm trăng
Giữa vườn hoa đẹp, rộng thênh thang
Bỗng đâu con nhớ lời thơ nọ
Diễn tả dung nhan của Mẹ rằng:
“Mẹ đẹp vô ngần Mẹ trắng phau
Gấp nhìn hoa huệ, vạn bồ câu
Và nhan sắc Mẹ không là gấm
Nhưng dệt bằng hương rất nhiệm mầu…”
Không biết lời thơ đó của ai
Trích ở bài thơ viết ngắn dài
Học từ tấm bé nay không nhớ
Phải phục nhà thơ có biệt tài.
Chắc Mẹ đang còn giữ bài thơ
Mẹ ráng tìm xem giọt lệ mờ
Của nhà thi sĩ rơi trong đó
Mẹ nói con hay khỏi đợi chờ.
Thi sĩ khóc vì Mẹ tuyệt xinh
Hương hoa sắc gấm đẹp huyền linh
Nhưng lòng thi sĩ đâu được vậy
Thầm ước mơ trong tủi phận mình.
Con cũng khóc thầm số phận con
Dại dột con làm Mẹ héo hon
Bao nhiêu năm tháng đời tục lụy
Mẹ gắng giúp dùm giải phóng con.
Bể khổ trần ai lắm khóc than
Phiêu lưu trăng gió ngập tan hoang
Mong sao sống trọn đời cát bụi
Để được Mẹ ban phúc vẻ vang.
Cầu Mẹ thân thương Mẹ cảm thông
Cuộc đời bảy khổ chín long đong
Mẹ coi thi sĩ là con nhé
Phúc Mẹ lan tràn đổ xuống con.
Được vậy con mừng quá Mẹ ôi
Con thấy xa xa triệu triệu người
Cũng đang cầu Mẹ thương như vậy
Hỏa ngục chơi vơi khỏi bị rơi.
Năm thánh Mẹ này Mẹ thấy không
Con vui chi lạ lạ vô cùng
Bốn trăm băm bốn ngày dâng Mẹ
Triệu triệu lần con hát kinh mừng.
Mẹ đẹp vô ngần Mẹ trắng phau
Đầy dư phúc lộc ngự trời cao
Mẹ đang chiêm ngưỡng dung nhan Chúa
Xin Mẹ nguyện cầu con gắng theo.
Thi sĩ cùng con dâng Mẹ đây
Mấy lời xướng họa cả thơ này
Làm như của lễ mừng năm Mẹ
Chắc Mẹ vui lòng chấp nhận ngay.
HIU QUẠNH
Thuở nhỏ tôi run lúc đổ chiều
Gió về trút lá, trải cô liêu
Đường xa thấp thoáng hàng sương trắng
Gối lẽ, giường đơn lạnh rất nhiều.
Đèn chụp chao xanh, dọi chữ vàng
Tay lùa tóc biếc, mắt theo trang
Tôi mơ khi học bài luân lý
Cửa hé nhà ai sáng dịu dàng.
Chữ nở ra hoa, sách có người
Tay nâng nâng sách ép lên môi
Rùng mình khi thấy hồn thay khác
Ngay cả giang sơn, đắm cả trời.
Đó tuổi thanh xuân ngóng bạn về
Đường đời giục giã bước chân đi
Nghìn đôi mắt đẹp, nghìn mắt lạ
Tôi chép song song đậm nét chì.
Trốn tránh đìu hiu kiếm lứa đôi
Quên thân đau khổ giữa vui đời
Khi đèn đỏ ngọn hồn kinh hoảng:
“Lạy Chúa nhân lành thương xót tôi!”
Núi dựng cô đơn, buồn xếp hàng
Ngõ chiều, mây trắng, phất phơ tang
Ái ân khôn lấp hồn sa mạc
Vĩnh viễn thê lương lạnh bóng tàn.
Chiều buốt linh hồn tôi đứng đây
Nguyện cầu Thánh giá chắp đôi tay
Rưng rưng mắt lệ nhìn xa thẳm
Mơ lửa trời thiêng cháy vạn ngày…
CHUYẾN TÀU ĐỜI
Nhiều lần tôi nghĩ bao la
Đời là quán khách, tôi là giấc mơ
Trao duyên rất đỗi tình cờ
Không mong ước hẹn, không ngờ gặp nhau
Tôi sinh cách mấy nghìn sau
Vẫn bền thiên luật: Lên tàu xuống ga
Đường lùi bóng núi sông qua
Nay đương nắng mới mai là cảnh mưa
Có tôi tàu vẫn đông thừa
Không tôi, chợ, phố phường chưa vãn người
Mất, còn có nghĩa gì tôi
Tôi là chút ít của đời chút không
Nẻo trần: Bụi cuốn mây dong
Mơ xây vĩnh viễn lồng trong má đào!
Đôi phen gió lạnh bay vào
Ngẩn ngơ:
Ta xuống ga nào hở em?
HỒN CHIỀU
Người con nhỏ mà hồn thê thiết
Lửa trần gian không nhóm nổi lòng yêu
Con vào đây! Đời lạnh biết bao nhiêu
Nắng đã rụng dưới chân ngày tang chế.
Cha đợi đón con từ bao thế hệ
Nhớ mong nhiều nên mắt đã hầu khô.
Áo chùng thâm buồn nổi giữa hư vô
Mơ ánh sáng cõi Muôn Trùng lạnh lẽo.
Cha biết lắm, lòng con nay đã héo
Bởi nhân tình không xứng ý con mong
Lấy cô đơn con đổi Mộng vô cùng
Dâng Cao Trọng con gặp toàn vị kỷ.
Chiều lạnh quá! Ngoài kia đời đã xế
Vào đây con, trong lửa ấm lòng Cha
Con nhớ nhung ánh sáng tiệc đời hoa
Đèn trăm nến, Thơ muôn màu đã tắt?
Ảo vọng hết! Lầu xây trên dãy cát
Con thấy không, muôn vật chỉ phù hư!
Và đau thương làm rộn đáy tâm tư
Ngỡ xây mạnh nhưng chỉ là gió thoảng!
Cả nhân thế trên đường về chuếnh choáng
Ngầu men say, nay ứ khí tham lam
Cha đứng đây buồn thấy ánh Vinh Quang
Không chiếu lọt qua bức màn tăm tối.
Tin tưởng lạnh! Lời thề xưa đã lỗi
Hồn kinh phai trên miệng thế từ lâu
Dưới chân Cha, không một kẻ nghiêng đầu
Và không cả một tấm lòng tưởng nhớ.
Máu rất trọng của linh hồn rất khó
Cuộc đày thân vinh hiển giữa trần gian
Đời quên Cha, tìm dõi ánh kiêu sang
Hoa nhân đức đã phai mờ hương sắc.
Cha nhóm lại, khi trời chiều lửa tắt
Tình thiêng liêng cao quý ở lòng con
Xuân muôn năm nơi vĩnh viễn linh hồn
Hương thanh khiết thơm tươi mùa trọng thể…
Đời lạnh quá! Ngoài kia chiều đã xế…
(Trích tuyển tập Có một vườn thơ đạo, tập 2, từ trang 68-72)



































































































































Những ai từng quan tâm tới văn học Công Giáo Việt Nam không thể không biết đến Võ Long Tê, một cây viết đa tài, vừa làm thơ bằng tiếng Pháp, vừa viết biên khảo về ngôn ngữ, văn học bằng tiếng Việt. Ông đã ra đi vĩnh viễn tại Calgary, Canada ngày 21-8-2017, thọ 90 tuổi.

Võ Long Tê sinh ngày 28-6-1927 tại Huế, bị đi tù từ sau ngày 30-4-1975 đến 1980. Sau đó, ông bà được xuất ngoại do sự can thiệp của Hiệp Hội Nhà Văn Pháp Ngữ mà ông là hội viên. Ông đến sinh sống đoàn tụ với các con tại Calgary, Canada năm 1991.

Trước 1975, ông là hội viên của nhiều tổ chức tôn giáo và văn hóa Việt Nam và quốc tế: Phong Trào Trí Thức Công Giáo VN (Pax Romana), Trung Tâm Văn Bút, Hội Nghiên Cứu Đông Dương, Trung Tâm Văn Hóa Arthur Rimbaud ở Charteville-Mézières (Pháp), Hiệp Hội Nhà Văn Pháp Ngữ (Paris)…


Ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng liên quan tới văn hóa:

Giáo sư văn chương Trường Trung Học Khải Định, Huế
Giáo sư thẩm mỹ học các Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn và Huế
Tùy viên Văn Hóa tại Tòa Đại Sứ VNCH Paris
Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Văn Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục
Giám khảo Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc…

Về các tác phẩm, Võ Long Tê đã viết nhiều sách biên khảo. Hai tác phẩm quan trọng viết bằng tiếng Việt: Lịch Sử Văn Học Công Giáo VN (1965), Dẫn Nhập Nghiên Cứu Tiếng Việt Và Chữ Quốc Ngữ (xuất bản tại Pháp 1997). Ngoài ra còn nhiều tác phẩm nghiên cứu khác viết bằng tiếng Pháp về Hàn Mạc Tử, về bài vãn kể truyện Thánh I-nê (Agnès), về nhà văn Công Giáo Pháp Paul Claudel, về núi Vọng Phu, về Hoàng Sa Trường Sa…Tác giả còn cho biết ông đã hoàn thành một công trình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử dài trên ngàn trang, đang chờ phương tiện để xuất bản.

Về thơ, sáng tác của Võ Long Tê cũng rất phong phú: Ánh Sáng Trong Đêm (1966), Tiệc Cưới (1966), Khối Tình (1968), Symphonie orientale (1971), Version à l’Unité (1973), L’Univers sans barreaux (1992-1997).

Tôi hân hạnh quen biết ông Võ Long Tê trong sinh hoạt của Phong Trào Pax Romana ở Sài Gòn trước 1975. Ông lớn tuổi hơn tôi nhiều nhưng qúy mến và cư xử đầy tình thân thiện với tôi. Tôi kính trọng ông và cũng học hỏi được nhiều điều nơi ông.

Khi sống ở Calgary, tôi không ngờ được tái ngộ với ông tại đây khi chúng tôi cùng viết cho tập san Chân Lý của các cha thuộc Phụ Tỉnh Đa Minh VN Hải Ngoại. Từ đó chúng tôi gặp gỡ nhau nhiều hơn và cũng có dịp trao đổi quan điểm thường xuyên hơn.

Trong bốn năm năm trở lại đây, ông bỗng nhiên cắt đứt liên lạc với mọi người quen. Tôi âu lo gọi điện thoại đến văn phòng làm việc của cháu Võ Mỹ Ngọc, con gái ông, để hỏi thăm về tình trạng sức khỏe của ông. Mỹ Ngọc trả lời: “Bố cháu vẫn bình thường”. Tôi nói thêm: “Cho tôi gửi lời thăm bố cháu và nói với bố cháu, nếu có thể được, gọi phone hoặc gửi email cho tôi”. Mỹ Ngọc hứa sẽ nói lại với bố. Tôi trông chờ hồi âm của ông bạn vong niên hoài, nhưng chẳng bao giờ đến. Tôi muốn liên lạc lại với Mỹ Ngọc nhưng không biết số điện thoại mới của cô. Tôi chỉ đoán ông Võ Long Tê có vấn đề sức khỏe nên cần nghỉ ngơi và không muốn tiếp xúc với ai nữa. Tôi biết ông bị bệnh cao máu khá nặng.

Chẳng ngờ, vào cuối tháng 8 vừa qua, khi đi nghỉ về, tôi được Giáo sư Ninh Văn Tú gọi điện thoại cho biết Giáo sư đã đọc tin ông Võ Long Tê qua đời trên nhật báo Calgary Herald phát hành ngày 25-8-2017. Tôi xin Giáo sư Tú gởi tờ báo đó cho tôi. Ông đã cắt mẩu tin thông báo của nhà quàn Evan J. Strong lớn bằng 3 ngón tay trao lại cho tôi. Đó không phải là cáo phó của gia đình, nhưng chỉ là một thông báo sơ sài của nhà quàn về những người qúa cố mà nhà quàn lo việc hậu sự, về ngày giờ thăm viếng và lễ an táng. Vì thế nhiều bạn bè không biết để đến tiễn biệt ông. Khi biết thì mọi sự đã xong rồi. Ông Gioan Võ Long Tê không phải người đạo giòng. Ông theo Chúa từ tuổi thanh niên với đức tin rất mạnh, và dành cả đời để nghiên cứu và viết về đạo.

Khi gặp lại nhau ở Calgary, ông Võ Long Tê đã tặng tôi một số sách xuất bản sau 1975 của ông, trong đó có mấy tập thơ và tác phẩm biên khảo “Dẫn Nhập Nghiên Cứu Tiếng Việt Và Chữ Quốc Ngữ”. Vào mùa Xuân năm 2000, ông đưa tôi bài thơ L’Ordre divin (Trật tự của Trời) bằng tiếng Pháp và muốn tôi chuyển sang thơ tiếng Anh để ông cho vào tuyển tập thơ đa ngữ của ông. Ông cũng cho tôi đọc bản dịch tiếng Việt bài này do nhà văn nhà biên khảo Phạm Đình Khiêm thực hiện.

Như một tưởng niệm đối với nhà thơ Võ Long Tê, tôi xin đăng lại nguyên văn bản tiếng Pháp của ông, cùng với bản dịch tiếng Việt của Phạm Đình Khiêm và bản thoát dịch tiếng Anh của tôi để mời qúy vị thưởng ngoạn, đồng thời ghi lại một chút di sản tinh thần của Võ Long Tê, một nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo hiếm có của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

L’ORDRE DIVIN                                         CELESTIAL ORDER
L’éclat des magnifiques fleurs                       Radiance of sumptuous flowers
Tient du renouveau qui déploie                      Deploying a renewed order
L’or de ses multiples splendeurs                    Under the sun’s golden rays
Sous le soleil flambant de joie                        Is burning joy that comes and stays
Ma ferveur tient du festival                            Immersed in this festival of delights
Des délices d’une humble vie                         And fervours from my humble life
Attachée au cher pays natal                           That is attached to my dual-countries
Et la célestre patrie                                         Below on earth, and up of the heavenly
Sur de l’imminence bénie                                Being assured of the imminent blessing
De la prochaine Parousie                                Of God’s reappearance coming
Je prie pour la joie san fin                               I pray for the joy – never ending
Dans la sacrée saison fleurie                           In the season of sacred blossom
Pour la fin de la gabégie                                  Wrongdoings disappear, and next comes
Pour la paix dans l’ordre divin                        Peace in the order of celestial kingdom
Võ Long Tê                                                      Mặc Giao thoát dịch

                                               TRẬT TỰ THẦN LINH
Hoa kiều diễm khoe mầu rực rỡ                          Tôi tin tưởng cấp thời phúc đến
Đón tân xuân triển nở tưng bừng                        Chúa quang lâm vinh hiển thế gian
Thái dương tỏa ánh vàng ròng                            Nguyện xin mãi mãi hân hoan
Trên bao diệu cảnh reo mừng thiều quang          Như hoa vui sống linh xuân miên trường
Trong nhiệt tình liên hoan lạc thú                       Xin triệt tiêu mưu phường gian trá
Tôi sống đời tín mộ khiêm cung                          Trò đảo điên quấy phá nhân sinh
Yêu quê hai mối một lòng                                    Xin ban đời sống thanh bình
Nước nhà và nước Cha chung trên trời              Tuân theo trật tự thần linh nhiệm mầu

                                                                              Phạm Đình Khiêm chuyển thơ Việt



Mặc Giao


Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang – Sinh ngày 8-1-1932 tại xứ Lại Yên, huyện Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội.
Thụ phong linh mục: 18-4-1958.
Thụ phong Giám mục: 22-4-1981 với khẩu hiệu: “Chân Lý Trong Tình Thương”; giám mục phụ tá Tổng giáo phận Hà Nội.
Ngày 3-12-1990: Giám mục chính tòa giáo phận Thái Bình. 
qua đời: 05.10.2017
Thọ 86 tuổi, với 59 năm linh mục, 36 năm Giám mục.

Tác phẩm: Hành Hương Và Thăm Viếng (2003), Đời Dâng Hiến (Thơ, 2006), Đối Thoại Tôn Giáo (2008), Những Câu Chuyện Tôn Giáo Và Khoa Học (2008), Suy Và Gẫm (2009), Hành Trình Nước Ngoài (2009), Giũ Bụi Trần Ai (2010), Giáo huấn mục vụ (nhiều tập), Hồi ký của một giám mục cao tuổi (2012, 10 tập) 



CẢM XÚC CUỘC ĐỜI

Có ai ghi lại nổi tất cả những cảm xúc của cuộc sống của con người đa dạng? Cảm xúc tràn trề và sự sung mãn vốn không bao giờ được diễn tả hoàn toàn và trọn vẹn. Vì thế, những dòng dưới đây chỉ là một số những cảm xúc của một con người trong cuộc sống. Nó không hề được diễn tả trọn vẹn và khéo léo, nhưng phải vượt qua biết bao trở ngại, nó cố gắng chân thực và trung thành.
Cảm xúc kinh qua mọi mặt trong cuộc đời: Buồn vui sướng khổ, nhưng không bao giờ chìm trong thất vọng ngã thua.
Luôn luôn và mãi mãi le lói, rồi bừng sáng lên một bó đuốc của Tình thương và Hy vọng chứa chan, để chuyển những đau buồn, chua xót, thành vui tươi, êm dịu. Bởi vì, những cảm xúc này, muốn phản ánh Đấng Trác Tuyệt: Người không nỡ đạp chân trên cây sậy đã giập gẫy và dập tắt ngọn bấc còn âm ỉ cháy.
Hy vọng những Cảm Xúc này, sẽ được thông cảm, vì nó diễn tả cho con người.

Fx. Nguyễn Văn Sang
Để xem thêm tiểu sử, chương trình lễ tang, xin mời vào trang giáo phận Thái Bình.

Xin mời bạn đọc VTCG cùng ôn lại những tâm tình của nhà thơ Giám mục Bạch Lạp qua một vài bài thơ sau:

TUYỂN THƠ

DÂNG HIẾN

Thánh điện trang nghiêm phút cực linh
Một đời dâng hiến Chúa quang vinh
Tuyết băng ôm ấp hồn không lạnh
Hoa lệ buông rơi xác vẫn xinh
Phụng lễ Thiên Cung môi nở nhạc
Ngâm lời Thánh vịnh miệng thơm kinh
Mắt trong, tay trắng, lòng phơi phới
Chân bước lên đây núi Thánh tình.

THỊT MÁU

Lúa thơm dòng sữa trắng
Nho chín mạch máu hồng.
Hóa nên Thịt Máu thanh trong,
Nuôi con trong kiếp long đong thế trần.
Hồn con được lĩnh Lương Thần
Tình Cha khăng khít thêm phần hăng say.
Ước sao qua khỏi đời này
Hồn con được sống đêm ngày bên Cha.

NHỚ LẠI MỐI TÌNH ĐẦU

“Con hãy nhớ lại mối tình đầu…” (Kh 2,5)
Nhớ lại mối tình đầu
Lấp lánh mắt bồ câu
Hồn tươi như trăng rằm
Đẹp, trong màu áo trắng
Nến sáng cháy trong tay,
Bước vào Thánh Đường này.
Nghiêng đầu trên Giếng Thánh
Đón lấy Dòng Nước lạnh
Chan chứa những ơn thiêng
Trở nên Hoàng Tử Chúa
Ôi Tình yêu muôn thuở
Là một Mối tình đầu.
Nhớ lại mối tình đầu
Thời thanh xuân dâng hiến
Trái tim con như Biển
Càng Mến càng thêm Sâu
Nay được sống bên nhau
Vì sao mà con khóc?
Chẳng phải vì khổ đau
Nước mắt thành châu ngọc
Gắn mối tình bền lâu.
Nhớ lại mối tình đầu
Để mãi mãi về sau
Dù trăm ngàn khốn khổ
Càng sống ….càng thêm sâu
Càng nhớ…..càng yêu nhau.

HÀN GẮN

(Cho những ngày giông bão)
Khi những chiếc bình đời,
Vì sao mà nứt rạn.
Những giọt nước tuôn rơi,
Hoa Tình yêu trong đó,
Nhị tàn và sắc úa,
Khi những trái tim yêu,
Vì ai mà thương tổn,
Để những giọt máu đào,
Nuôi tình yêu mạnh lớn,
Tuôn chảy mãi không thôi.
…. Nhưng bàn tay Thiên Chúa
Chắp nối chiếc bình đời
Hoa tình yêu lại nở
Hương sắc lại thêm tươi
…. Nhưng bàn tay Thiên Chúa
Gắn bó vết thương lòng
Máu thắm lại thêm trong
Tình yêu như ngọn lửa
Đốt hết mọi Hoài nghi.
(Theo Le Vase Brisé của Sully Pr .dhomme).

HY VỌNG

Nhớ Cụ P.T. 13-8-1971
Bầu trời nhỏ lệ khóc thương ai
Gió cuốn hàng thông đứng thở dài
Vùi trong cỏ dại, ba thước đất
Kiếp sống trần gian, chút hình hài
Kiếp sống trần gian, chút hình hài
Lúa thơm, rụng xuống dẫu bi ai
Thối đi, tàn rữa trong bùn đất
Mầm non chứa đựng cả tương lai
Kiếp sống trần gian, chút hình hài
Niềm tin đón nhận tự sơ khai
Bảo toàn trọn vẹn qua cái chết:
Hy vọng vươn lên cuộc sống dài
Kiếp sống trần gian, chút hình hài
Hoa tàn, nhị héo, sắc phôi phai
Đường đi lữ thứ về quê cũ
Gặp lại tình thương một ngày mai.
Kiếp sống trần gian, chút hình hài
Vui buồn, sướng, khổ, trĩu đôi vai
Phù du, ảo ảnh nay cũng hết
An nghỉ chờ đây: Sống đời đời


HOA MÂN CÔI

Ta từng làm một người nghệ sĩ
Biết yêu hoa, biết chăm sóc cho hoa
Ca tụng hoa, vì sắc hương tuyệt mỹ
Bông hồng trong nắng sớm
Sắc còn tươi mơn mởn
Hương êm đềm, ngây ngất đến cao siêu
Nhưng tiếc thay, cơn gió lạnh ban chiều
Hương nhạt bay, những cánh Hồng lả tả
Hoa Păng – sê, theo gió đùa, nghiêng ngả
Mặc muôn màu, từ tím ngát đến Hồng nhung
Vẻ tươi xinh, lộng lẫy đến vô cùng
Như cô gái đôi mươi ngày lễ hội
Nhưng gió chết, đêm lạnh lùng ập tới
Hoa ủ buồn trong dáng điệu ngẩn ngơ
Tay chống cằm, những suy nghĩ trầm tư
Vì kiếp sống phù hoa như giấc mộng
Hoa héo tàn, bên hàng cây gục xuống….
Ôi, ta chán, những bông hoa trong vườn
Ôi, ta buồn, vì huy hoàng cõi thế
Đã bao ngày đi kiếm một Hoa
Kiếp không tàn… hương sắc chẳng phôi pha
Ta đã thấy, người ơi, ta đã thấy:
Hoa Mân Côi, đã nở giữa đời ta
Hoa Mân Côi tức là hoa….tất cả
Cũng có cánh, có lá, có cả gai
Nhưng hương không tàn, sắc chẳng nhạt phai
Hoa Mân Côi có thể nở trên….đá
Trên hạt vàng, lóng lánh như kim cương
Hoa Mân Côi có thể nở giữa đời thường
Trên đồng, chì, nilông….hay gang, thép
Trên đôi môi, hoa Mân Côi cũng nở đẹp
Trên môi hồng, chúm chím những trẻ thơ
Môi thanh xuân, hay nứt nẻ cằn khô
Của kiếp sống phù du đang tàn úa
Mân côi nở, trên bàn tay nhớp nhúa
Trải phong trần, hay còn trắng, sạch tinh
Cũng hái lấy, kết thành tràng dâng hiến
Một tràng hoa, biết bao là thể hiện
Để vui, buồn, thất bại, lẫn quang vinh
Hoa Mân Côi, là sắc màu rực rỡ
Của muôn loài, muôn giống tất cả Hoa
Hoa Mân Côi, mùi hương rất đậm đà
Của tất cả hương thơm trên cõi thế….
Ôi, Mân Côi, nhìn hoa bao yêu quí
Thấy trong lòng rực rỡ một ước mơ:
Sắc của hoa, là áo mặc hồn ta
Hương của hoa, là hơi hồn ta thở
Sắc tăng tình yêu, hương gây mùi nhớ
Xin mở lòng, đón một trận mưa hoa
Trong sưởi ấm, hoa Mân Côi hãy nở.
Mỗi năm đến tháng Mười
Cầm tràng hạt Mân Côi
Xin hãy biến lệ rơi thành hạt ngọc
Xin hãy biến đau thương thành nụ cười
Xin hãy biến thất bại thành vinh quang
Xin hãy biến tang ma và chết chóc
Thành cuộc đời roi rói niềm tin
Cầu xin. Hãy cầu xin. Cứ cầu xin
Với tràng hạt Mân Côi là sẽ được
Đến một ngày, tận cùng mọi mơ ước
Cầm tràng hạt Mân Côi làm khí giới
Ta mở đường tiến về cõi đời sau
Ta cũng thành hoa Mân Côi muôn màu
Hương bất diệt, nở ra trước tòa Chúa

Hạnh phúc bền lâu, vinh quang muôn thuở.




Trong niềm tin vào Chúa Kitô tử nạn và Phục Sinh, chúng con xin thành kính phân ưu cùng đại gia đình giáo phận Vinh và xin anh chị em cùng hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn nhà thơ Linh mục Phanxicô Xaviê Võ Thanh Tâm,
nhà thơ nổi tiếng với thi phẩm Hạnh Phúc Người Công Giáo,
Nguyên tổng đại diện giáo phận Vinh.

- Sinh năm 1932 tại Giáo xứ Thọ Ninh, huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh.
- Thụ phong linh mục năm 1963 - Quản xứ, quản Hạt nhiều nơi - Tiến sĩ giáo luật Đại hoc Urbano Roma. - Giáo sư Đại chủng viện Vinh - Thanh. - Tổng đại diện GP Vinh 2007 - 2010.
- Đột ngột từ trần tại nhà hưu dưỡng Tòa Giám mục GP Vinh và hồi 23h ngày 17/8/2017.
Sau đây, xin mời bạn đọc cùng ôn lại tâm tình của người quá cố qua thi phẩm bất hủ nói trên cùng một vài bài thơ khác của tác giả.


Thành kính phân ưu

BBT

HẠNH PHÚC NGƯỜI CÔNG GIÁO


Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Tiếng chuông lành đã ru ấm hồn tôi,
Như ngày xưa khi mới bước vào đời
Cánh tay mẹ ấp yêu từng giây phút.
Khi thù ghét bốc lên cao ngùn ngụt,
Chung quanh tôi thì ý đẹp yêu thương.
Tỏa mùi thơm như vạn đoá hoa hường
Và mát mẻ như trời sương mùa hạ.
Lòng mến Chúa làm tan đi tất cả,      
Những đau thương, tê tái, những bất công
Những cuồng say, mê đắm những cơn giông
Đang gầm thét trên biển trần điên đảo.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Gặp tử sinh tôi hiểu rõ vì đâu,
Nhìn trời xanh lồng lộng ở trên đầu,
Tôi biết có một bàn tay điều khiển.
Nhìn nắng sớm mây chiều biến hiện,
Đàn cò bay ngoài mặt biển bao la,
Cánh đồng quê tươi tốt điểm ngàn hoa,
Dòng suối lượn như lụa trời mới dệt.
Tôi biết có một tấm lòng tha thiết
Yêu loài người muôn thuở muôn nơi,
Ở đâu xa không có ánh mặt trời
Vẫn có cả Tấm Lòng kia tuyệt hảo.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Đưa cuộc đời ra khỏi chốn bùn nhơ.
Tâm hồn tôi là một chiếc bàn thờ
Nơi Chúa ngự giữa loài người con cái.
Những khi lòng cực khổ xót xa, quằn quại,
Nước mắt sầu tuôn xuống tựa mưa rơi,
Tôi vẫn nhìn thấy một nụ cười tươi
Một khoé mắt nâng đời tôi đứng dậy
Dắt tôi bước tới miền quê xa ấy
Là Thiên đàng ai cũng ước cũng mong.
Dù bàn chân rách nát, máu đỏ ròng
Tôi vẫn thấy êm như người đi dạo.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Sống trong tàu Giáo hội giữa đêm sâu.
Khắp mười phương đâu cũng có bạn bầu,
Đâu cũng có bóng thánh đường quen thuộc.
Có lễ sáng, chầu chiều, tháng hoa, cuộc rước,
Có Đức tin ngời chói ngọc kim cương,
Có bí tích Thánh Thể, suối tình hương.
Có bản nhạc Te Deum hùng dũng.
Có những khuôn mặt thoạt nhìn đã nghe ấm cúng,
Luồn qua da, qua thịt thấu tim gan.
Có những người tu sĩ quý hơn vàng
Hy sinh cả cuộc đời vì nghĩa lớn.
Có những tâm hồn không vương tí bợn,
Thơm nhân đức và sáng đẹp hơn trăng.
Có những khối óc không mấy kẻ sánh bằng
Tìm đến Chúa sau những ngày giông bão.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Thả hồn bay theo tiếng hát lời kinh.
Nhớ những mùa thu đất nước thanh bình,
Người lớp lớp đi lễ mừng Các Thánh.
Hay sột soạt giữa đêm đông sương lạnh,
Những áo quần hớn hở đón Noel,
Những bà già mang tràng chuỗi nhánh đen
Cười nhoẻn miệng như những cô gái.
Lá cờ vàng trắng, đưa tay yêu vẫy mãi,
Trên cột cờ ngút gió cạnh lầu chuông,
Những chiếc băng duyên dáng vắt qua đường,
Những bái hạ nến hoa lừng trước ngõ.
Mùi hương trầm bay phảng phất theo gió.
Tiếng pháo rền theo nhịp trống chiêng đưa
Điều kinh cầu một bên xướng, bên thưa
Như ràng rịt những hồn người tham dự.
Giọng học bổn bay khắp làng khắp xứ.
Khi Mùa Chay về ấm nắng tình thương,
Trên lưng trâu cúi liếm cỏ bên đường,
Vẫn nghe đọc năm sự mừng kính Mẹ.
Trong xà lim vẫn có người se sẽ
Hát Salve cho vơi bớt đắng cay.
Cô hàng rau khiêng gánh cải chất đầy,
Nơi cổ áo thánh giá vàng lấp lánh.
Trên vầng trán sáng tươi và đạo hạnh
Một dấu gì của Chúa đã in sâu.
Hai bà lương giữa chợ bảo thầm nhau:
"Cô nói thật bởi vì cô có đạo! "
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Thả hồn thơ bay quá cõi trăng sao,
Vì bạn ơi, trong say mến dạt dào,
Tôi hôn Chúa, Chúa hôn tôi nhiều bữa.
Vì ngòi bút mực nước mắt đã ứa,
Viết yêu thương bên cạnh tiếng đau thương.
Vì chân đi trăm nẻo bước trăm đường,
Mà không thấy đường nào bằng đường ta bạn ạ!
Ôi Công giáo, Vaticăng, La mã!
Những danh từ quý đẹp biết bao nhiêu.
Tôi muốn biên lên mặt giấy rất nhiều,
Và nhai nuốt cho hoà vào máu thịt.

VIẾNG BIỂN HỒ GALILÊA                             

Tôi đến thăm hồ một buổi mai
Xao xác heo may gió thở dài
Một làn sương khói là trên nước
Như gợi nhắc mình nhớ tới ai.
Thuyền vượt ra khơi, ngoảnh nhìn sau
Phố phường nhà cửa trắng phau phau
Vài cây dừa nước thân vươn thẳng
Lá biếc ban mai trông đậm màu.
Bốn phía vây quanh những mái đồi
Xóm làng thưa thớt điểm đôi nơi
Nước trong xanh đẹp, êm không sóng
Vài chiếc du thuyền nhẹ lướt trôi.
Này hỡi hồ ơi! có nhớ xưa
Bão to gầm thét giữa cơn mưa
Chúa giơ tay phán, trời im gió
Mặt nước xôn xao bỗng lặng tờ.
Và đã có lần Chúa bước đi
Trên mặt hồ đây chẳng can gì
Đến thuyền môn đệ đêm khuya vắng
Họ tưởng là ma cứ xầm xì.
Cũng quanh hồ này Chúa tới lui
Cuộc đời truyền giáo khổ mà vui
Ngư dân Chúa gọi làm muôn đệ
Cương quyết xông pha, chí chẳng lùi.
Hai ngàn năm cũ dẫu trôi qua
Dấu vết nơi đây chẳng xoá nhoà
Kìa núi Bát phúc, vùng Tạpgá *
Với căn nhà nhỏ của Kêpha...
Hôm nay tôi đến từ xa xứ
Viếng Biển Hồ xưa niệm Chúa Trời:
"Cho con bền vững niềm tin giữ
Yêu Chúa Huyền Siêu cả cuộc đời ".
* Nơi Chúa làm phép lạ cho bánh hoá nhiều .

MẸ VÔ NHIỄM

Đất bùn nở đoá hoa sen
Đẹp như nắng sớm mới lên ven đồi,
Mẹ sinh ra giữa loài người
Tội nguyên vô nhiễm muôn đời hát ca,
Chúng con nặng nợ Evà
Mở mắt nhìn thế lệ nhoà mi thơ
Đau thương sóng dập muôn bờ
Thuyền manh bạt gió trông chờ Mẹ yêu
Nhìn về luyến tiếc bao nhiêu
Xưa kia tội tổ làm tiêu "địa đàng"
Nhưng nay Bắc Đẩu dịu dàng
Giữa trùng dương tối soi ngàn ủi yên.
Quê con cũng có một miền
Nhiều phen từng được mẹ hiền viếng thăm,
Mẹ gieo ánh ngọc trăng rằm
Phá tan giai đoạn tối tăm hãi hùng[1]
LA VANG thánh địa miền rừng
Đến nay còn cả một vùng linh thiêng
Mẹ ơi! Mẹ quá dịu hiền
Con nhìn mắt Mẹ triền miên thương đời
Trái tim vô nhiễm rạng ngời
Suối trong diễm lệ muôn đời hát khen.
                                   ·
Đất bùn nở đoá hoa sen
Đẹp như nắng sớm mới lên ven đồi.

NGHĨ VỀ NĂM THÁNG             

Mùa xuân đến tôi nghĩ về năm tháng
Của đời tôi như nước chảy dưới cầu
Chảy sáng chiều ra lòng biển rộng sâu
Chảy ngày đêm, không bao giờ dừng lại.
Mới xuân nào tôi hãy còn mê mải
Chơi quên ăn với chiếc pháo đì đùng
Mẹ vỗ về cho một lát bánh chưng
Tôi nhai vội rồi chạy đi tìm bạn.
Thời gian trôi, tôi lớn cùng năm tháng
Chiếc thuyền đời chở đến những bờ xa
Tôi vui mừng, say đón tiếng chim ca
Đón ánh sáng và muôn hoa tuyệt diệu.
Nhưng đường đời gian truân đâu có thiếu
Những ngày đông ảm đạm rét và mưa
Ngọn cuồng phong ào ạt đến giữa trưa
Trời quang đãng bỗng dưng tối sầm lại.
Nay xuân đến, tôi nhìn lùi xa ngái
Bao năm qua, bao nhiêu quãng đời tôi
Rộn tiếng cười và nước mắt đầy vơi
Tôi đã sống nhờ hồng ân của Chúa...
Hôm nay ngài ban thêm năm mới nữa
Ôi, thời gian như máu Chúa[2], quý thay!
Tôi vội quỳ và chấp cả đôi tay
Xin cảm tạ tình thương Ngài vô lượng.


(trích trong Bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, tập II, do Lm trăng Thập Tự chủ biên, tr. 251-257)


[1] Giai đoạn Cảnh Thịnh cấm đạo.
[2] . Một nhà thần học Âu châu đã nói: "thời gian quý như Máu Chúa" vì thời gian cần phải có để việc cứu rỗi của Chúa được thực hiện. Thánh Bernadin de Sienne lại nói "một khoảnh khắc cũng giá trị bằng Chúa" (un seul moment vaut autant que Dieu) vì nhờ một khoảnh khắc ăn năn tội cách trọn người ta có thể chiếm hữu được Chúa, được Nước Trời.


Được tạo bởi Blogger.