Trong hai ngày 20 và 21 tháng 10 năm 2017, dịp Khánh nhật Truyền Giáo, Giáo phận Lạng Sơn Cao Bằng đã tổ chức Đại Hội Truyền Giáo lần thứ I.

Đại hội diễn ra tại Tòa Giám mục Lạng Sơn với sự tham dự của Đức cha Giuse Châu Ngọc Tri – Giám mục Giáo phận, cùng với Linh mục đoàn, quý Phó tế, Chủng sinh, Ứng sinh, Tu sỹ, Đại diện Hội đồng mục vụ và Trưởng các hội đoàn của tất cả các xứ họ trong toàn Giáo phận.


Đại Hội khai mạc vào lúc 17 giờ chiều tại Hội trường Tòa Giám mục. Cộng đoàn sốt sắng nguyện xin ơn Đức Chúa Thánh Thần và lắng nghe bài Tin mừng của Khánh nhật Truyền Giáo.

Đức cha Giuse phát biểu và công bố Khai mạc Đại Hội trong niềm hân hoan của toàn thể tham dự viên. Ngài chào mừng quý Cha, cùng mọi thành phần Dân Chúa từ khắp các vùng miền xa gần của Giáo phận về tham dự Đại Hội. Ngài mong rằng qua Đại Hội lần này, Giáo phận sẽ hoạch định một đường hướng mục vụ cụ thể, chi tiết, như một chỉ nam mục vụ và truyền giáo cho những năm sắp tới.

Ngay sau khai mạc, các Giáo xứ lần lượt lên trình bày Tham luận của mình. Mỗi đại diện Giáo xứ đã khái quát về hiện tình đời sống sinh hoạt mục vụ cùng như nhấn mạnh đến những hoạt động truyền giáo đang thực hiện. Các bài tham luận cũng nói lên những thuận lợi và khó khăn trong việc sống và loan báo Tin Mừng tại chính những hoàn cảnh, môi trường sống của mình. Cuối cùng, các xứ đạo nói lên thao thức và mong muốn của mình để thúc đẩy công việc truyền giáo, đem Chúa đến cho mọi người. Một điều đáng ghi nhận là các tham luận đều cho thấy sự ý thức khá mạnh mẽ của mỗi thành phần Dân Chúa đối với việc truyền giáo, đây là sứ vụ chung của mỗi thành viên trong Hội Thánh. Việc truyền giáo trong bối cảnh Giáo phận Lạng Sơn Cao Bằng luôn được coi là vấn đề bức thiết và trọng yếu.

Trong buổi tối Hội thảo, xen kẽ giữa các bài tham luận của các xứ đạo là các tiết mục văn nghệ do các Giáo xứ thuộc hạt Lạng Sơn thể hiện. Mỗi giáo xứ trình bày những tiểu phẩm, hoạt cảnh, những bài thánh ca… mang tinh thần truyền giáo, nhất là gắn với khung cảnh lịch sử truyền giáo của Giáo phận.





Buổi tối Hội thảo trong khuôn khổ Đại Hội kết thúc lúc 22 giờ với giờ Chầu Thánh Thể sốt sắng do cha Tổng Đại diện Giuse Trần Đức Hạnh chủ sự. Trước Thánh Thể Chúa, mỗi người hiện diện dâng lên những tâm tình tạ ơn Chúa vì muôn ơn lành Người thương ban trên Giáo phận, cùng dâng lên những nguyện ước, những niềm thao thức để thực thi sứ vụ truyền giáo, đem Tin Mừng đến cho muôn dân, trong cánh đồng truyền giáo Lạng Sơn Cao Bằng rộng lớn mà đầy thách đố này.

Ngày thứ hai của Đại Hội khởi đầu lúc 5 giờ 30 với Giờ Kinh Sáng. Sau đó là giờ nguyện gẫm. Vào hồi 7 giờ 30, các tham dự viên lắng nghe bài huấn từ mục vụ truyền giáo của Đức Giám mục Giáo phận. Trước hết, ngài đưa ra những bản thống kê chi tiết về hiện tình của Giáo phận trong địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và Hà Giang. Con số tín hữu Công giáo hiện nay vào khoảng 0,3%. Ngài nói rằng, Giáo phận Lạng Sơn Cao Bằng hiện nay với số tín hữu quá ít ỏi, giữa một vùng đất rộng lớn, có thể ví như một “Giáo phận ngoại giáo”, do đó việc truyền giáo là vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết. Ngài mời gọi mỗi người hiện diện ý thức sâu sắc về bổn phận và sứ vụ truyền giáo. Ngài cũng trình bày những đường hướng mục vụ của Giáo phận trong thời gian tới, trong đó có việc thuyên chuyển nhiệm sở của quý Cha, phân chia địa bàn mục vụ cho các xứ đạo trong toàn Giáo phận. Mỗi Giáo xứ đang hoạt động từ nay sẽ kiêm nhiệm thêm địa bàn của một vài huyện trong địa bàn Giáo phận mà chưa có nhà thờ. Đức cha nhấn mạnh: Từ nay ranh giới các giáo xứ không chỉ bó gọn trong nơi sinh hoạt hiện tại của mình, nhưng sẽ mở rộng ra rất nhiều, để tất cả các huyện trong ba tỉnh thuộc Giáo phận, đều được coi sóc mục vụ.

Theo tinh thần “Đi Ra Vùng Ngoại Biên” trong Tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng” của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, sau khi thăm viếng, lắng nghe, xem xét và nghiên cứu những hoàn cảnh cụ thể và những nhu cầu mục vụ thường xuyên và cấp thiết trong Giáo phận, nhất là sau khi đã thảo luận với Ban Tư vấn Giáo phận cũng như trao đổi với Linh mục đoàn và Đại biểu các thành phần Dân Chúa trong Giáo phận qua Đại hội Truyền giáo lần I lần này; trong sự hiệp thông và cầu nguyện với Cộng đoàn Giáo phận, Đức cha Giuse đã quyết định thành lập thêm Giáo hạt mới Hà Giang, bổ nhiệm và thuyên chuyển giáo vụ cho các Linh mục, và phân chia vùng mục vụ cho các Giáo xứ và Giáo họ trong Giáo phận.

Theo Đức cha Giuse, việc phân định địa giới phục vụ cho các Cha theo đơn vị Giáo xứ và Giáo họ hiện nay, nhằm mục đích để tất cả giáo dân Công giáo đang định cư trong địa bàn Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng hoặc di dân đến để làm ăn thường xuyên hay thời vụ, đều được chăm sóc mục vụ theo tinh thần và ý muốn của Giáo Hội, cũng như quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo mà mọi công dân được Hiến pháp và Luật pháp bảo hộ. Đồng thời, theo vùng mục vụ, các Cha cũng có trách nhiệm cộng tác điều tra hôn phối khi được yêu cầu, trong trường hợp một người lương dân trong khu vực mục vụ của mình tiến hành hôn nhân với một người Công giáo ở bất cứ nơi nào.

Cũng trong quyết định được Đức cha công bố, Linh mục thuộc các Dòng tu đang phục vụ trong Giáo phận, thay đổi hay không thay đổi giáo vụ, đều được bổ nhiệm lại, để xác định cụ thể vùng mục vụ thuộc các Giáo xứ hay Giáo họ mà các văn bản bổ nhiệm trước đây chưa đề cập đầy đủ. Dựa trên văn bản bổ nhiệm lần này, Tòa Giám mục sẽ xúc tiến việc thảo luận với các vị Bề trên hữu trách các Dòng tu để tiến tới một “hợp đồng mục vụ” theo Giáo luật sớm hết sức có thể.

Đại Hội Truyền Giáo lần thứ I của Giáo phận Lạng Sơn Cao Bằng kết thúc với Thánh lễ cầu cho việc Loan báo Tin Mừng, trong Khánh nhật Truyền Giáo, tại Nhà thờ Chính Tòa Lạng Sơn. Cộng đoàn Phụng vụ hiệp cùng Đức cha chủ tế, quý cha trong linh mục đoàn đồng tế, sốt sắng nguyện xin ơn Chúa xuống trên mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo phận để hăng say lên đường loan báo Tin Mừng, sống tinh thần truyền giáo và xây dựng Nước Chúa.

Cuối Thánh lễ, Đức cha đã trao bài sai bổ nhiệm nhiệm sở mới cho quý Cha trong Giáo phận. Theo đó, các linh mục trong Giáo phận sẽ thuyên chuyển tới nhiệm sở mới từ ngày 12 tháng 11 sắp tới.


Đại Hội Truyền Giáo lần thứ I khép lại với Phép lành trọng thể của Đức Giám mục Giáo phận “nhờ lời chuyển cầu của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô”. Đại hội diễn ra trong hai ngày nhưng đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp, thôi thúc mỗi tham dự viên ý thức về sứ mạng của mình và hăng hái lên đường truyền giáo. Ước mong một giai đoạn mới sẽ mở ra với Giáo phận truyền giáo Lạng Sơn Cao Bằng, khi mỗi người trở nên những khí cụ đem Tin Mừng cho muôn dân, xây dựng Giáo hội ngày một thăng tiến và Nước Chúa được mở rộng khắp nơi.



Có nhiều bạn trẻ ngày nay nói với tôi rằng: cha ơi con muốn đi tu, khi tôi hỏi lí do tại sao thì có bạn nói rằng “vì con thấy ở đời ngao ngán quá!”, có bạn nói: tu cho nó sướng . . . và các bạn có hàng vạn cái nhìn khác nhau về đời tu.



Cách riêng ai cũng nghĩ tu là cõi phúc, nhưng có điều “cái phúc” này lại chẳng ai muốn đi. Bằng chứng là số người đi tu ít hơn nhiều so với người lấy vợ. Số người đi tìm hiểu bạn gái nhiều hơn gấp vạn lần so với số người tìm hiểu đời tu. Nhưng có một điều chắc chắn là người đi tu nhìn vẫn thảnh thơi, đỡ vương bụi trần hơn người lập gia đình.


Thực vậy, nhìn từ bên ngoài, người ta luôn thấy đời tu rất đẹp, hệt như một Thiên Đường tại thế. Suốt ngày ăn diện đẹp đẽ, chân tay trắng trẻo, bước đi khoan thai . . . dường như chẳng phải lo lắng gì bụi trần. Có Chúa lo hết rồi . .. Và nơi các linh mục tu sĩ chúng ta còn thấy nhiều tấm gương tận tụy hy sinh phục vụ người nghèo, người cơ nhỡ, người khuyết tật . . . chúng ta thấy: ôi cuộc đời họ đẹp làm sao!

Thế nhưng, chỉ có những ai sống trong đời tu mới có thể hiểu rõ được sống đời tu thật không dễ tí nào. Đời tu tuy đẹp đấy, nhưng để có thể sống trọn vẹn lý tưởng này, chẳng con người nào có thể tự sức mình mà sống được. Ấy là bởi vì sống đời tu là sống giữa nghịch lý vô cùng căng thẳng của kiếp người.

Người đi tu là người sống giữa thế gian nhưng không được để mình bị thế gian đụng đến. Họ có đôi chân chạm đất nhưng đầu thì hướng thẳng về trời cao. Họ chọn đời hiến dâng không phải để trốn đời, hận đời, nhưng là để vào đời và yêu mến đời nhiều hơn. Người đi tu cũng vẫn còn đó những ham muốn danh lợi thú nhưng vì Nước Trời họ sẵn sàng dâng hiến tất cả. Họ phải trải rộng tình thương của mình cho người khác, nhưng lại không được để con tim dành riêng cho một người. Họ phải yêu người nhưng không được giữ lại riêng cho mình một ai. Họ yêu nhưng không được nắm giữ.

Thời gian qua trên mạng Facebook lan truyền bài hát Duyên Trời được linh mục An Bình chế lời, nghe qua sao thấy đời tu hình như đi ngược lại với lẽ thường tình. (bạn đọc có thể nghe bài hát ở cuối bài viết - BBT VTCG)

Phận làm con trai chưa một lần yêu ai
Giờ lại đi tu thiên hạ nói sao mà khờ dại
Đường đời thênh thang bầu cua tôm cá tối lai rai tới vũ trường.
Chính vì lối sống hưởng thụ này nên người đi tu rất khó toàn tâm tu. Thế nên, anh mới than.Tội gì đi tu rồi ngày ngày lu bu
Lần hạt đọc kinh mà thấy đâu nghe lời Chúa gọi
Những khi trời mưa một mình ôm gối
Lòng thầm tự hỏi chắc đi tu có được không?
Chưa tu lần nào biết ra làm sao
Tu đã khó phải hy sinh, mà đôi khi còn không biết bề trên có đón chào mình hay không?Biết trong đường tu có đón chào
Câu kinh nỉ non nguyện xin thẳm sâu
Nguyện đời con xin theo Chúa dài lâu
Dẫu cho đời con, lắm phiên lầm than
Khấn xin bình an ơn Chúa ban
Cho con thủy chung để con được mong
Nhờ ơn Chúa chắc con sẽ thành công
Nhưng đã tu là phải tu cho chọn, đã đi là phải đến dầu có nhiều khó khăn.Rồi ngày khấn hứa con giật mình kêu lên
Một niềm tin yêu giờ bước lên cung điện tuyệt vời.
Một đời xin vâng giờ xin thánh hiến trái tim con cho Vua Trời.
Bỏ lại sau lưng lời ngọt mật khen chê
Địa vị công danh quyền thế cao nay xin bỏ lại
Bước theo đường tu một đời dâng hiến
Làm thành men muối ướp nhân gian cho đời vui.

Quả thực, đời tu là đi ngược vào trào lưu xã hội. Người đi tu thật khác người, và không bình thường. Người bình thường phải yêu, phải chơi thâu đêm suốt sáng nhưng người đi tu lại từ chối yêu một người để tìm tình yêu cho mọi người và còn phải lần hạt đọc kinh đang khi bạn bè vui hát nhảy nhót nơi vũ trường.

Như vậy, người đi tu là từ bỏ, là hi sinh, là chiến đấu với bản thân để dành trọn vẹn linh hồn và thân xác cho Thiên Chúa. Người đi tu là tìm niềm vui trong cái phúc có Thiên Chúa ngay từ đời này. Ngay từ đời này họ đã cảm nghiệm được Thiên Chúa là gia nghiệp, nên họ chọn Chúa và sống trọn vẹn cho Thiên Chúa. Sống cho Thiên Chúa nên họ không tìm niềm vui cho riêng mình mà họ tìm niềm vui nơi Thiên Chúa, họ phục vụ vì Thiên Chúa, và sống vì Thiên Chúa mà phục vụ tha nhân.

Nhân loại ngày nay đang cần những con người như vậy để cân bằng thế giới chủ nghĩa cá nhân thực dụng. Họ phải sống làm sao giữa một thế giới đang hô hào chuyện hưởng thụ vật chất, sống trụy lạc và tự do cá nhân, người đi tu lại chủ trương chọn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục người khác? Họ phải sống làm chứng nhân cho Chúa dù có mất mát, thua thiệt nhưng phần thưởng rất lớn trên quê trời.

Đây là điều mà Chúa và nhân loại đang cần nơi các linh mục hôm nay. Họ phải sống khác với người thời đại để nói cho nhân loại biết rằng còn một thế giới khác hạnh phúc hơn trần thế này. Người thời nay không cần các linh mục vào vũ trường hay đi tới các nơi chốn ăn chơi xa hoa mà họ cần các linh mục thánh thiện để cầu nguyện cho thế giới bớt đi những tội lỗi trụy lạc. Họ cần các linh mục dám sống từ bỏ công danh để làm chứng cho một xã hội đang tranh giành danh lợi thú dẫn đến thù hận, loại trừ lẫn nhau.

Hôm nay chúng ta mừng ba tân chức đã dám từ bỏ chốn xa hoa để dâng mình cho Chúa. Họ đã dâng hiến tuổi xuân để đọc kinh cầu nguyện, dấn thân phục vụ thay vì như các bạn cùng trang lứa tìm niềm vui cho riêng mình. Các cha mới đã:

Bỏ lại sau lưng lời ngọt mật khen chê
Địa vị công danh quyền thế cao nay xin bỏ lại
Bước theo đường tu một đời dâng hiến
Làm thành men muối ướp nhân gian cho đời vui.

Cầu chúc cho quý cha luôn hạnh phúc trong đời tu để mang niềm vui và bình an đến cho nhân thế. Xin Chúa chúc lành cho những chọn lựa theo Chúa đầy can đảm của quý cha để từ nay quý cha mãi mãi mang ơn Chúa đến cho mọi người, cách riêng nhờ đời sống thánh thiện và hy sinh phục vụ, quý cha sẽ mãi là chứng nhân cho lòng thương xót Chúa giữa thế giới hưởng thụ hôm nay. Amen



SUY NGHĨ CÚI ĐẦU
Trái tim con nhỏ bé,
Tình yêu Chúa bao la,
Lòng Chúa như trời bể,
Đời con giọt mưa sa ...
Chúa là trời ánh sáng,
Con ngọn đèn hắt hiu,
Chúa quang minh vô hạn,
Con một tia nắng chiều ...
Chúa chính là hiện hữu,
Không có thủy có chung,
Đời con một chút xíu,
Như giọt nước miệng thùng ...

Chúa chính là tồn tại
Tuyệt đối và vô biên
Kỳ dư là tương đối
Chuyển dịch và biến thiên
Đá vàng, ai hỏi tuổi?
Núi sông tự bao giờ?
Nhìn sao mỗi đêm tối,
Thân con thật bé thơ ...
Rồi ra biến dịch hết:
Biển cả thành nương dâu.
Sinh ly và tử biệt
Con suy nghĩ cúi đầu ...
Xin nhận con, lạy Chúa,
Vào thế giới Vĩnh Hằng
Thanh bình trăm muôn thuở,
Là Vương Quốc Thánh Tâm.
(Trích Có một vườn thơ đạo, tập 2, trang 172-173)



























“Hận bậc sinh thành chơi đéo đẹp,
Tao sẽ dẹp tan thứ nghĩa tình”.


Trên miệng thằng Lì luôn nhem nhẻm câu nói này, không biết nó lấy từ đâu ra mà mỗi khi có ai nói hay khuyên nó điều gì nó đều phản ứng lại như thế và khinh khỉnh bỏ đi. Cùng lắm thì nó quay lại ngắt luôn: “Đừng lên mặt dạy đời, có ở trong hoàn cảnh này đâu mà nói”. Vậy là hết, bởi vì hoàn cảnh của nó cũng quá ư là đặc biệt đi: Bố nó là một con ma men tối ngày say xỉn, mà cứ hễ say là về đánh mẹ nó. Có lẽ vì quá đau khổ, cộng với sức hèn nên mẹ nó đã mãi mãi ra đi khi nó mới lên 8. Bố nó cũng chẳng lấy gì là hối hận, bỏ mặc hai chị em nó để đi theo người đàn bà khác. Hai chị em nó phải cô đơn giữa một cái thung lũng “nên thơ”. 


Quả vậy, làng nó ở sát núi, mà nhà nó ở cuối làng nên căn nhà nhỏ kẹp giữa hai quả núi sừng sững. Sớm hiểu biết và nuôi lòng hận thù với cuộc sống gia đình, nó sống bất cần, theo bạn bè xấu tập tành hút thuốc, uống rượu, trộm cắp, phá phách nhà người ta. Trên tất cả, nó muốn sống để cho tất cả phải căm ghét, phải chửi bới… Duy nhất chỉ có một điều mà nó còn sợ là tiếng nói của chị nó. Hay nói đúng hơn là cuộc đời này nó chỉ còn có chị là điểm tựa, nên nó vẫn còn một chút lắng nghe, một chút thương chị. Chị như là người mẹ âm thầm chăm sóc, khóc thương cho nó, bởi vậy nó rất sợ khi phải nhìn thấy chị khóc. Thế nhưng, có lẽ vết thương lòng của nó quá lớn cho nên dù cho chị có đem hết lòng yêu thương để bù đắp thì vết thương của nó hằng ngày vẫn rỉ máu, vẫn làm cho nó nhức nhối để rồi nó vẫn đi, vẫn phá. Mỗi lúc quay trở về nó chỉ ngồi im lặng khi chị nó nói, nghe xong nó lại lững thững ra chân núi ngồi nghe tiếng cuốc kêu, nghe tiếng chim muông đồng thanh ca hát khiến lòng sầu lại càng sầu hơn. Nó cũng suy nghĩ nhiều, nhưng càng suy nghĩ nó lại càng rối bời, càng ngày cuộc sống của nó càng lún sâu hơn. Mọi người nhìn nó đều lắc đầu ngao ngán, riết hồi ai cũng tránh nó. Phần vì sợ phiền toái, phần vì nó làm bẽ mặt họ bằng những câu nói cùn. Và có lẽ không nói ra thì ai cũng đoán được số phận nó không chóng thì chày cũng phải ngồi “ bóc lịch” thôi, mà nếu nó không ngồi bóc lịch thì cũng có ngày bị người ta chém chết.

………

Quả thực, cuộc đời của nó sẽ trượt dài nếu không có sự cố này xảy ra: Buổi sáng hôm đó như thường lệ nó xách xe chạy ra quán cà phê nhâm nhi với bạn bè trong nhóm. Bỗng nó có điện thoại, mặc dù hơi khó chịu nhưng nó vẫn bấm nghe. Không biết nội dung nó nghe được là gì mà thấy nó hốt hoảng, không một lời, nổ xe chạy như bay, rồi nó chạy thẳng vào bệnh viện: Thì ra chị nó trong lúc lên núi hái nấm đã không may đạp vào tảng đá lở nên đã lăn từ trên núi xuống, cũng may là đá lăn trước chị lăn sau chứ không thì không biết giờ này chị thế nào rồi… Vội chạy vào nơi chị đang nằm rên rỉ vì đau. Nó lập bập:

– Chị, chị sao vậy?

Chị nhìn nó cố gắng:

– Chị lên núi hái nấm mà em thích ăn đó. Sắp đến sinh nhật em rồi mà chị chẳng có gì để tặng em cả, nên định nấu món mà em thích, hai chị em mình sẽ cùng ăn trong ngày sinh nhật của em. Ai dè cái tảng đá lở, giờ chắc phải xin lỗi em thôi.

Nó không nói gì nữa vội quay mặt đi bước ra ngoài. Nó trốn ánh mắt của chị, nó cũng trốn để chị không nhìn thấy được những giọt nước mắt đang đua nhau lăn lã chã trên mặt nó. Sắp đến sinh nhật mình ư? Nó nguyền rủa cái ngày nó sinh ra mà sao năm nào chị cũng nhớ vậy, lại còn vì nó mà suýt mất mạng? Suy nghĩ viển vông, nó ngồi xuống ghế lúc nào chẳng hay, và cũng không biết là nó ngồi ở đó bao lâu nữa, chỉ biết khi nghe tiếng gọi của chị nó mới lật đật trở về phòng. Nó rót vội ly nước đưa cho chị với bộ dạng lầm lì không nói gì, chị lại tiếp tục:

– Cái chân và những vết thương này của chị không biết khi nào mới lành được, cho nên giờ em phải là lao động chính rồi, vất vả cho em đấy. Nhà mình lại không có gì để dành giụm cả nên em chịu khó ra xưởng mộc chú Tư làm để kiếm tiền cho hai chị em mình sinh sống.

Đề nghị này có lẽ không phải là lần đầu tiên, vì những lần trước thấy cậu em lêu lổng, chị đã đến xưởng chú Tư xin và cũng một phần nhờ vào sự điềm đạm của chú biến đổi cậu em. Thế nhưng, bao nhiêu lần đề nghị thì bấy nhiêu lần chị bị cậu em khước từ với luận điệu “Làm hay không làm cũng thế thôi. Bao nhiêu người làm lụng vất vả cũng toàn đau khổ, vậy thì làm để làm gì?”. Nhưng lần này sau đề nghị của chị, nó đã không phản ứng, bởi nó cũng ý thức được rằng lần này chính nó phải bươn chải thôi, nó ngập ngừng:

– Em… như vậy chú Tư và mọi người có chấp nhận không?

Chị nó mừng quá lắp bắp:

– Nhận…nhận.. chứ, chú Tư tốt lắm, chỉ cần em dám và chịu khó thôi.

Không nói gì nữa, rồi từ sau ngày hôm đó mọi người không thấy nó lêu lổng, la cà quán sá. Lâu lâu cũng thấy nó có những cuộc điện thoại réo rắt nhưng nó cầm lên rồi lại tắt đi, và rồi những cuộc điện thoại đó thưa dần vì chúng không được đáp ứng.

Giờ đây có lẽ ai gặp nó cũng phải ngạc nhiên vì thấy nó thay đổi quá nhiều, từ cái dáng bề ngoài đến tính tình: nó mập lên nhiều, miệng nó đã biết cười thay vì những lời cộc cằn chua chát. Nó cũng luôn tất bật, nhưng không phải là đi phá phách mà là nhanh nhẹn sau giờ làm đi về để giúp chị cơm nước, rửa vết thương. Và sự thay đổi thể hiện rõ trên cây đa trước nhà với dòng chữ mà những ngày nghỉ tranh thủ dọn dẹp khu nhà ở nó đã khắc lên : “Ai trong đời cũng trải qua những lần ngã, nhưng quan trọng là phải biết dám đứng lên”.


TRONG TIẾNG CHUÔNG CHIỀU
“Car tu nous a fais pour Toi et notre
coeur est sans repos jusqu`à tant
qu`il repose en Toi”
(St.Augustin)
“Con người chưa được vô biên
Là còn thổn thức ưu phiền tháng năm”
(Xuân ly băng)
Chiều lắng phủ không gian buồn ý chết,

Mây thê lương chở lệ về phương mô?
Gió lạnh lùng run rẩy lá cành khô
Chim từng chiếc qua sương chiều lặng lẽ ...
Không gian ơi! chiều nay tan thành lệ
Chảy trong lòng người viễn khách cô đơn.
Nhớ nhung chi khi trời xuống hoàng hôn
Để buồn ngấm uất hồn, ai nức nở ...
Người bâng khuâng khi trời chiều tắt thở,
Bỗng chuông vàng trong xóm giáo ngân nga.
Tiếng êm êm dìu dịu nhẹ lan ra
Qua gió chiều lên hương buồn ly biệt
Tiếng tôn giáo cùng người, ôi tha thiết!
Viễn khách ơi!
Viễn khách ơi!
Chiều nay cảm thấy lạnh rồi phải không?
Ý đời rét buốt mênh mông
Đường đời cô quạnh trong không gian buồn!
Tình đời đen bạc mười phương
Men đời không dậy trong sương gió đời!
Viễn khách ơi!
Viễn khách ơi!
Giờ đây cảm thấy lạnh rồi phải không?
Này nghe tiếng nhạc chuông trong
Lời AI VĨNH VIỄN nói cùng THỜI GIAN:
Tìm chi hoa nội trăng ngàn
Tìm chi hạnh phúc dương gian mà tìm?
Con người chưa được VÔ BIÊN
Là còn thổn thức ưu phiền tháng năm.
Này người viễn khách bâng khuâng
Đường lên ánh sáng đã gần không xa!
(Trích Có một vườn thơ đạo, trang 171-172)

Hình minh họa

Đức Ông GB. Lê Xuân Hoa (nhà thơ Xuân Ly Băng) đã về cõi miên viễn ngày thứ tư 19/7/2017 vừa qua. Nhớ lại lời tâm sự của Đức Ông cách đây 9 năm.


THÁC LỜI NGƯỜI NẰM DƯỚI HUYỆT
Lời tâm sự của Đức Ông GB. Lê Xuân Hoa (nhà thơ Xuân Ly Băng)


Các anh thân ái,
Sáng nay các anh dẫn tôi đến đây với một đoàn xe và một đoàn người rất hùng hậu. Xe đủ loại và treo cờ xí thật nhiều, hầu hết là màu tím.
Tím là màu buồn phải không các anh? Các anh hát những bài cầu hồn thật cảm động, cũng buồn như màu tím vậy.



Hơn một giờ sau, các anh dẫn tôi ra nghĩa trang. Rồi người ta thỏng tôi xuống huyệt sâu. Trong giây phút này òa lên một tiếng khóc thật thảm thiết. Sau đó là những tiếng sụt sùi của mấy phụ nữ. Đám đông chen lấn nhau trên miệng huyệt khiến các anh không nhìn được tôi khi tôi vừa chạm đáy huyệt. Nếu không, các anh đã quăng cho tôi một vài nắm đất hay một cành hoa tươi, rồi các anh phủi tay ra về. Rã đám. Tôi nghe tiếng chân các anh rút lui mệt nhọc nhưng bước chân vẫn thoải mái và nhanh hơn. Tôi nghe tiếng chân xa dần, xa dần rồi tắt hẳn. Nhưng chen vào đó cũng có tiếng mấy anh rì rầm đánh giá và nhận định về đám tang của tôi. Có anh nói: “đám tang có lớn cỡ nào thì cũng là đám tang người chết”. Tôi không đồng ý vì tôi có chết mãi đâu. Tôi sẽ chỗi dậy từ đám bụi đất trong ngày sau hết. Các anh ra về, đám âm công và những người thân quen của tôi cũng ra về. Giờ đây chỉ còn lại một mình tôi.

Tôi biết bầu trời Vinh An vẫn cao vẫn rộng. Có vài đám mây tán tụ bất thường, thi thoảng cũng dừng lại nhìn tôi. Gió trưa thổi mạnh hơn và mấy hàng phi lao vẫn trút lá buồn buồn.

Các anh có biết không?
Rồi đây sẽ có những đêm mưa gió lạnh lùng hiu quạnh, trong không gian vắng lặng này. Tôi nhớ các anh! Tôi nhớ chân trời cũ. Bên cạnh tôi có khá đông anh em xếp hàng ngay ngắn. Nhưng trong thế giới thinh lặng này mọi người đều im lặng. Sự thinh lặng không trống rỗng nhưng thật lạnh lùng.

Mảnh đất tôi nằm không xa quốc lộ 1A bao nhiêu, chỉ hơn kém cây số thôi. Chắc chắn giữa sự vắng lặng này, nhất là vào đêm khuya, tôi sẽ nghe được tiếng kèn xe của các anh lưu thông trên đường…

Tôi nhớ các anh, không biết các anh có nhớ tôi không? Xin các anh cúi đầu ghi một Dấu Thánh Giá trên mình, thương nhớ nhau giữa trời đất bao la. Tôi còn chờ đợi các anh.

Phan Thiết,19/8/2008


"THÁC LỜI NGƯỜI NẰM DƯỚI HUYỆT -
TÔI SẼ CHỔI DẬY TỪ ĐÁM BỤI ĐẤT TRONG NGÀY SAU HẾT"

(Trích lời tâm sự của Đức Ông GB. Lê Xuân Hoa (Nhà thơ Xuân Ly Băng)

THÁC là sống mãi muôn đời
LỜI Cha nhân hậu rạng ngời Thánh nhan
NGƯỜI đi từ chốn bình an
NẰM nghe huyệt mộ hoa vàng nở tươi
DƯỚI trần bác ái dâng đời
HUYỆT sâu vẫn nở nụ cười thân thương
TÔI về “Đàn Vọng Cố Hương”
SẼ là bụi cát khiêm nhường. Xin vâng
CHỖI từ “..Củi Mục” “Đồng Xanh”
DẬY vầng “Trăng Mẹ” an lành “Hương Xuân”
TỪ đây “.. Thập Gía” sáng ngần
ĐÁM tang bạn khóc mộ phần nở hoa
BỤI trần trải khúc “Thi Ca..”
ĐẤT “Tôi Nằm Xuống” “Đồng Xanh” nẩy mầm
TRONG đời thơm ngát “Hương Xuân”
NGÀY ngày“ Đất Mẹ” vui mừng nở Hoa
SAU cùng vui chúc muôn nhà
HẾT thời “Thương Khó” nở Hoa – Thiên Đường…

Đức Hạnh
23.07.2017

- Những từ trong dấu kép, là những tác phẩm của Nhà thơ: Xuân Ly Băng



Những năm sau cùng của thập niên 80, khi gia đình tôi mới chuyển nhà từ vùng kinh tế mới Sông Pha, Ninh Thuận mà trở về Cam Ranh sinh sống, ba má tôi tạo dựng một căn nhà tranh bằng đất trộn với bùn mà dựng nên căn nhà đầu tiên của chúng tôi. Lúc ấy, tôi còn chưa nằm trong bụng của má tôi, mãi đến hai năm sau tôi mới chào đời.

Nhà tôi có một mảnh đất khá rộng, kéo dài từ đầu cầu này qua tới ủy ban, qua luôn bên kia đường. Khoảng đất bên kia đường là mảnh đất hoang, má tôi tranh thủ lúc trở về sau giờ đồng áng mà chăm chút cho mấy luống rau lang, rau muống để cải thiện bữa cơm gia đình trong giai đoạn bao cấp.


Một năm sau, vì điều kiện khó khăn, gia đình tôi bán dần đất đai.

Gia đình Bác Hoàng chuyển về, mua lại cái mảnh đất con con mà má tôi đang chăm mấy luống rau ấy để dựng nhà. Bác là thầy hiệu trưởng trường cấp một gần nhà tôi, từ lúc các anh tôi học cho đến tôi bậm bẹ bước vào lớp một. Lúc nhỏ, tôi cùng với anh tôi bày ra cái trò là tập làm cha xứ, cử chỉ điệu bộ đi lại cứ như nghi lễ ở nhà thờ. Khổ cái, anh tôi lớn hơn nhưng vì chiều tôi nên toàn phải vào vai giúp lễ, bưng bê đồ cho tôi. Mỗi khi mấy anh em chúng tôi tới khúc làm dấu thánh giá của người công giáo, tôi cũng thấy bác làm dấu theo. Tôi hỏi má sao lại vậy? Má kể vợ bác Hoàng trước là người công giáo, sau này vì lấy bác mà phải bỏ đạo theo chồng rồi đứt đoạn niềm tin tới giờ. “Người ta ai mà chẳng tin vào Thượng Đế, chẳng có ai vô thần cả đâu. Tất cả cũng chỉ vì thời cuộc và chế độ làm người ta ra như thế”, má bảo vậy.

Gia đình bác có ba người con: anh Tý, chị Thỏ, chị Ty.

Anh Tý thì ít ở nhà, đi nghĩa vụ quân sự về thì đi chơi theo với bạn bè, ít khi ở nhà với hai bác. Anh kết hôn với một chị mà không tổ chức cưới hỏi. Hai người ở với nhau có một mụn con. Cuộc sống gia đình anh không mấy dễ dàng, anh đành làm tài xế xe vận tải để tiền có thể nhiều hơn mà chăm lo cho gia đình. Công việc mới, anh phải hòa nhập với nhịp sống của cánh tài xế đường trường, ngủ bờ ngủ bụi. Anh đơn côi trong những chuyến đi dành như thế, anh bắt đầu dựng “trạm nghỉ dừng chân” mở mỗi nơi, để vòng tay của anh không lạnh vắng. Mấy năm sau, anh dẫn thêm hai đứa con về cho bác Hoàng. Bác sững người. Vợ anh không chịu nổi cảnh mẹ ghẻ con chồng nên để lại tờ đơn ly dị mà bỏ đi. Dạo gần đây, trong mỗi dịp về nhà, tôi không còn nhìn thấy bóng anh, mẹ bảo “Anh Tý, con bác Hoàng bị công an bắt đi rồi. Khổ ! Dính vô ma túy làm chi để giờ phải đến nỗi trộm cắp thế đấy !”.


Chị Thỏ là con gái lớn nhất của bác Hoàng, là cô giáo trường cấp hai, cách nhà chừng 10km. Bác chạy chọt mãi, dựa vào các mối quan hệ khi đương chức đương quyền nên chị mới có chổ dạy ấm êm hơn các bạn chung lứa. Chị Thỏ lúc đầu sống chung với hai bác, từ ngày lấy chồng thì ở riêng. Tôi còn nhớ ngày chị lấy chồng lúc ấy tôi khoảng lớp 10 thì phải, chị lấy một thầy giáo chung trường rất đẹp trai và dễ thương. Hai người có một cậu nhóc kháu khỉnh. Cứ tưởng mọi thứ như thế là êm đẹp. Ai ngờ, thời gian làm cho con người ta ra thay lòng. Chị ly hôn mà theo một người đàn ông lớn tuổi giàu sang hơn, sống trong tình trạng chẳng ai ràng buộc ai. Chị bảo như thế lại thích hơn. Lâu lâu, chiếc xe hơi đỗ phịch trước nhà chị thì lại có một người đàn ông khác nhau xuất hiện như là bộ phim truyền hình nhiều tập mà đạo diễn cứ phải thay diễn viên liên tục. Bác Hoàng buồn lắm. Bác la thì chị bỏ không về nhà, mà thấy cảnh ấy diễn đi diễn lại bác lại đau lòng. Biết làm sao nói được tơ duyên ý trời.

Chị Ty thì xấp xỉ tuổi tôi. Chị là sinh viên ngành y loại giỏi, sau sáu năm học thì trở về làm bác sĩ ở bệnh viện tỉnh Khánh Hòa, nơi trung tâm thành phố Nha Trang. Lập gia đình rồi sinh con, công việc chị bận rộn với áo blouse trắng nên tôi hiếm lắm tôi mới nhìn thấy chị. Chị Ty luôn là người bác tự hào nhất, khỏa lấp những nổi đơn côi khi có người nói này nói nọ.

Từ ngày các anh tôi lãnh tác vụ linh mục, bác hay qua nhà tôi chơi uống ngụm trà với ba tôi. Ờ thì đã đến lúc người ta lớn tuổi là lúc người ta cần nghe nhau hơn. Bác thấy các anh tôi lâu lâu về nhà, người này người nọ vào nhà gọi ba má tôi một tiếng “ông bà cố”, hai tiếng “ông bà cố”, bác cảm thấy gia đình tôi sung sướng. Tôi luôn phì cười khi nghe bác bảo thế. Bác bảo giờ sống tuổi già với mấy đứa cháu mà thấy chúng, bác thấy tội nghiệp quá chừng. Gia đình, bố mẹ phân tán mà phải sống với ông bà. Trái tim chúng có vết sẹo về những tháng năm trống trải này, thì tương lai chúng lại làm người khác đơn côi mất.

Gió xào xạc, mùa mưa lại về trên mảnh đất quê của chúng tôi. Mưa làm tan nát trái tim người thất tình, nhưng lại có thể tròn đầy trái tim đơn côi của bác.

Cam Ranh chuyển vào mùa mưa.

Được tạo bởi Blogger.