Bên giường, bốn người con trai gái có mặt đầy đủ. Con bé Bòn Bon vẫn không rời gấu váy mẹ. Chị Tư khoe con, “nịnh” bố:
- Chẳng biết nó có giống ông ngoại không, mà thông minh giỏi giang lắm, mới học xong lớp Lá, đã đọc thông viết thạo rồi.

Bà ngạc nhiên:
- Thật không? Thế thì cháu tôi giỏi quá. Lát nữa bà đưa sách cháu đọc cho cả nhà nghe, nhé!
- Dạ!


Lúc ấy, ông đang thiu thiu ngủ. Bà phe phẩy cho ông bằng chiếc quạt nan tre ông mới đan cách nay vài ba tháng. Bà chép miệng:
- “Mới” bảy mươi chứ đã già cả gì? Người đâu nhõng nhẽo như đứa bé lên ba. Trời nóng thế này, bật máy lạnh không chịu, kêu sổ mũi, mở quạt điện cũng không chịu, kêu chóng mặt nhức đầu. Một điều bà quạt cho tôi, hai điều bà quạt cho tôi.

Anh Cả phì cười, nhưng cố nén được, không cho bật thành tiếng. Rồi anh có vẻ tiếc xót cho một dự tính không thành:
- Người muốn không bằng trời muốn. Phải chi mọi sự suôn sẻ, chúng con đem các cháu về quê mừng thọ bố, mừng năm mươi năm hồng ân, kim khánh hôn phối của bố mẹ, có phải tốt đẹp biết bao nhiêu?!

Ông rên khe khẽ, trở mình có vẻ khó khăn. Hình như tỉnh ngủ, ông nói ngọng nghịu nhưng nghe được:
- Ông bà mình đã bảo rằng: “Nói trước bước không qua” mà lị, cấm có sai. Với lại bố nói rồi: Chẳng có tiểu thọ, trung thọ, thượng thọ, đại thọ gì sất. Cũng không có lễ sắt, nhôm, đồng, thau, kẽm, bạc, vàng... mừng hôn phối gì cả, các anh chị có nhớ không? Giờ đây cuối đời, ôn lại tháng năm đã qua, bố thấy đời bố có một điều bố thỏa lòng...
- Điều gì ạ?

Ông mở to đôi mắt nhìn bà, cố cười hóm hỉnh:
- Đó là kết bạn với mẹ các con. Nhưng cũng có nhiều điều đáng tiếc lắm, như là...
Bà ngắt lời ông:
- Không việc gì phải suy nghĩ cả. Ông nằm yên, đừng nói gì, để cho đầu óc nghỉ ngơi...
Ông tỉnh ngủ hẳn:
- Con cái về đông đủ. Để tôi nói. Như là... tiếc không cưới bà sớm hơn. Và...
Bà đập đập cái quạt lên người ông. Rõ ràng bà mắc cỡ:
- Ông không nhớ lời bác sĩ à? Nói ít thôi, suy nghĩ ít thôi.

Nhưng ông không thể không suy nghĩ. Ông nhớ lại: Chuyện thật như đùa, sáng sớm hôm ấy, ông vào nhà vệ sinh, bỗng dưng rùng mình, thấy chân tay tê tê, rồi tê cứng không cử động được. Ông chỉ kịp ú ớ gọi bà, rồi không gượng được, ông té ngã sấp mặt xuống nền nhà vệ sinh. Bà thất thanh gọi hàng xóm. Người ta đến, kịp đưa ông đi cấp cứu. Ông được cứu sống. Nửa tháng sau, được xuất viện, ông về quê dưỡng bệnh. Nửa người bên tay phải yếu lắm, đi lại rất khó khăn, mắt nhìn một thành hai, miệng méo nói ngọng nghịu, tai điếc, phải nói như gào ông mới nghe được. Thế nên, kế hoạch mừng thọ bảy mươi của ông, mừng năm mươi năm hồng ân, kỷ niệm ngày cưới của hai ông bà bị phá sản.

Bà rơm rớm nước mắt:
- Bố các anh chị nợ ân tình nhiều lắm, không sao trả hết được. Này nhé, vừa về đến, hàng xóm láng giềng lương giáo đến thăm chật nhà. Sáng tinh mơ hôm sau, cha xứ vội vã đến ban bí tích giải tội, trao Mình Thánh làm của ăn đàng. Rồi ngày lại ngày, các cha quen biết ngày còn bé đến nay gần xa đến thăm không sót cha nào, các hội đoàn đến nhà đọc kinh cho ông suốt. Rồi anh em con cháu bạn bè các nơi đến thăm nom không ngớt, lại còn quà cáp, sữa sần... Có chú thím A cho đôi gà giò, cẩn thận kèm theo một bịch lá ngải cứu, hai bác Kha cho con gà nấu cháo không quên cho kèm một bịch nước mắm gừng. Các ông các bà đứng tuổi chi li, cẩn thận, chu đáo thật.

Anh Cả cười không thành tiếng:
- Ở nhà một tuần lễ nay, con nhận ra rồi. Đời bố, bố đã gieo, giờ đến lúc gặt. Phải công nhận gia sản ân tình của bố lớn thật...
Anh nói thật to cốt để ông nghe:
- Gia tài của bố lớn lắm, bố biết không?

Ông mấp máy môi:
- Con hỏi gia tài của bố ư? Làm gì có. Lớn lắm ư? Có thể nào? Bố không giấu giếm các con gì hết. Bố chẳng có gì đâu, chẳng còn gì đâu?...
- Chúng con đâu có hỏi về của cải tiền bạc.

Ông cười, miệng méo xệch, ngượng nghịu chỉ ngón tay vào bà:
- Thế thì... Bố đâu có gì? À, mà có. Bố để lại cho các con người mẹ vĩ đại yêu thương các con nhất trần gian...
Bốn người con dán mắt vào bà, còn bà thì có vẻ thẹn thùng, cúi gập người xuống, lấy gấu quần lau mắt:
- Đã bảo ông nằm yên, đừng nói gì cả, để cho đầu óc nghỉ ngơi...

Bà đưa mắt nhìn các con:
- Các anh chị và các cháu mới là gia tài lớn nhất mà nhà này có thể đóng góp được cho đời, cho xã hội và cho giáo hội, phải không? Bố mẹ đã nhiều lần nói với nhau: Ôn lại tháng năm đã qua, bố mẹ thấy có nhiều điều đáng tiếc lắm, như là... Con người ta lấy vợ lấy chồng, ra riêng, cha mẹ cho năm mười công ruộng, lại còn nhà cửa đất cát chỗ này chỗ kia, rồi của nổi của chìm... Nhưng con cái nhà này chẳng đựợc gì...

Chị Ba sụt sịt:
- Chúng con được nhiều lắm. Được sinh ra, được nuôi nấng, được lớn lên, được yêu thương, được học hành, được rèn luyện ý chí tự lập, khi đến tuổi khôn, bố mẹ đã buông tay đúng lúc để chúng con được phơi sương phơi nắng, cứng cáp mà sống ở đời, với đời. Chúng con còn được kết hôn với người mình yêu thương...

Cô Út nói, giọng điệu như một giáo lý viên - vì cô đã mười mấy năm là giáo lý viên của giáo xứ - tiếp lời:
- Nhất là chúng con đội ơn Chúa, đã dùng bố mẹ, ban cho chúng con hình hài này, thân xác này. Bố mẹ đã dạy chúng con biết sống đạo, biết mến Chúa yêu người bằng gương sáng... Bố mẹ không để lại của cải vật chất, nhưng là một đường hướng, một lối sống, một phong cách xử thế...

Bà có vẻ mỏi tay, đưa quạt cho anh Cả:
- Con quạt cho bố giúp mẹ... Nói gì thì nói, đừng đội tiền bạc lên đầu, nhưng cũng không nên khinh thường nó. Nếu bố mẹ có tiền có của, các con sẽ có một bệ phóng tốt hơn, các con sẽ bớt công khởi động, mà đã có sẵn một vận tốc đầu đáng kể phải không?

Ông thều thào:
- Phải, bà nói phải... À, con Bòn Bon đâu rồi, đọc sách cho ông ngoại nghe đi.
Con bé ngồi chồm dậy. Bà đưa cho nó cuốn Kinh Thánh Tân Cựu Ước to, nặng đến nỗi nó phải khệ nệ ôm hai tay cho khỏi ngã. Anh Cả giúp nó đặt lên bàn. Nó hỏi:
- Con đọc chỗ nào đây?

Ông phều phào:
- Con mở ra bất cứ trang nào cũng được.
Con bé mở một trang hú họa, được Thánh Vịnh 16, 5-6, Nó đọc chậm rãi từng chữ như các anh chị đọc các bài đọc trong thánh lễ dành cho thiếu nhi:
Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng,
là chén phúc lộc dành cho con;
số mạng con, chính Ngài nắm giữ.
Phần tuyệt hảo may mắn đã về con,
vâng, gia nghiệp ấy làm con thoả mãn.

Ông cười rất vui dù nụ cười ông méo mó:
- Ông cám ơn Bòn Bon. Con giỏi quá!... Bố nhớ tới Châm ngôn của Salomon: Vanitas vanitatum omnia vanitas. Tất cả đều là hư không. Đó, các anh chị thấy chưa? Tất cả đều qua đi. Chỉ có Chúa bền vững. Thế thì sao chúng ta không nhận Chúa là gia nghiệp, nhỉ?


1- Thằng Lộc


Thằng Lộc bước xuống mí nước, lội ra khá xa, kính cẩn đặt bó hoa dã quỳ trên mặt biển:

- Xin Chúa cho hai linh hồn Phêrô được lên chốn nghỉ ngơi… Anh ơi! Em chào anh. Bố ơi! Con chào bố. Con đi.

Hôm qua, đúng một trăm ngày, kể từ khi ông Phước, bố thằng Lộc cùng anh rể nó ra khơi lần cuối cùng rồi không bao giờ trở về nữa.

Nhà nó ở một làng quê ven biển, trước mặt là biển, sau lưng là núi. Cảnh thiên nhiên thật hùng vĩ. Quê nó đẹp, đẹp lắm, đẹp đến nỗi có một nhà thơ nào đó, nó quên mất tên, đã tả quê nó:

“Hàng dừa chải tóc đón trăng,

Thuyền ai ăm ắp nắng vàng ngủ trưa,

Chở mây, khói, chở gió, mưa,

Tròng trành như một bài thơ lệch vần…”

Đó là vùng đất nghèo, “nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá”, nên “mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn”. Đã thế, trời lại còn “hành cơn lụt mỗi năm”. Mà chỉ có lụt thôi đâu? Còn bão nữa, mỗi năm mấy trận bão đổ bộ vào đây, tàn phá khủng khiếp… Làm gì có con thuyền nào chở nắng, khói, gió, mưa… và nhất là thơ nữa. Với nó, chỉ có những con thuyền chở lưới, cá, cùng với mồ hôi, nước mắt, đau thương, có khi là tang tóc; những con thuyền chở trai tráng trong làng ra biển khơi xa tít mờ, rồi chôn vùi phận người vào lòng biển…

Ở đây, nhiều người, khi từ giã cõi đời không có được một ngôi mộ đúng nghĩa. Ngôi mộ của họ là bụng cá, và nghĩa trang của họ là đại dương mênh mông kia… Còn ngày giỗ ư? Thường, nếu không có tin tức gì, người ta lấy ngày khởi hành ra khơi lần cuối làm ngày giỗ, như trường hợp bố nó và anh rể nó, chẳng hạn.

Mảnh đất nghèo đói, đau thương, gian khó ấy tuy không phải “địa linh sinh nhân kiệt” nhưng lại sản sinh ra và trui luyện nên những đứa con chịu thương chịu khó, rắn rỏi, giẻo dai như những thanh thép nguội. Nó bước lên bờ mà không một lần quay lại. Mẹ nó đã đứng đó, đón nó từ bao giờ:

-Con đọc kinh cho bố và anh con chưa?

Nó khẽ gật đầu, nhè nhẹ nắm tay mẹ. Bà dặn dò:

-Con đi xa. Mẹ không gần gũi dạy bảo con được. Con phải luôn luôn nhớ tới Chúa, nghe không? Con hứa đi.

Nó hứa. Bà giục giã nó:

-Rảo bước lên, con! Chú Ba chờ lâu rồi.

Chú Ba Đởm quê Ngọc Thuận, Giồng Riềng, bạn thân của bố nó. Ngày trước, hai người cùng học lớp Đệ nhất B trường trung học Lê Bảo Tịnh, cùng thi rớt Tú tài phần 2, cùng nhập ngũ theo lệnh tổng động viên, cùng là sĩ quan cấp úy ở một tiểu khu tỉnh lẻ, cùng ở chung một trại cải tạo tập trung, nên họ thân nhau như hai anh em ruột.

Trong một lần hiếm hoi có việc phải ra Rạch Giá, gặp bạn bè cũ từ thuở mài đũng quần trên ghế nhà trường, chú Ba tình cờ nghe tin dữ: anh Hai Phước, người anh kết nghĩa, người bạn chí thiết của chú mất tích ngoài khơi, chú cụ bị một mớ tiền, vội vã ra Trung viếng bạn, vừa đúng dịp giỗ bách nhật anh Hai.

Tối hôm qua, chú Ba đã bàn kỹ với gia đình chị Hai. Để mọi người yên tâm, chú hứa:

-Trước anh hồn anh Hai, em thề coi thằng Lộc như con.

Chú nói thêm:

-Xưa nay ở trong Nam chưa từng có ai chết đói. Mỗi năm em sẽ may cho nó hai bộ đồ, và gởi về cho chị số tiền ít nhất cũng khoảng nửa cây vàng hai mươi bốn. Chị yên tâm chưa?

Chị Hai ngập ngừng:

-Tôi tin chú. Tôi có nói gì về tiền bạc đâu! Có điều…, có điều…

-Điều chi, ạ?

-Chú coi nó như con, vậy là tôi yên lòng rồi. Nhưng chú biết đấy, gia đình tôi theo đạo Công Giáo…

-Mèng đéc ơi! Tưởng chi? Dưới đó có tới bốn nhà thờ lận: Hòa An, Xẻo Dầu, Kinh Tràm, Trảng Tranh. Mấy ông cố đạo dưới quê, em quen hết trơn à… Ủa! Mà chị có nhớ, hồi còn trong lính, có lần em tính vô đạo không? Ngày đó, em đã học giáo lý: giữ, tin, xin, chịu. Nhưng khi ông cha tuyên úy bảo: phải dẹp bàn thờ ông bà tổ tiên, em cự ổng, bỏ ý định theo đạo luôn…

Thế là sáng nay, thằng Lộc, chú bé mười bốn tuổi đầu, giã từ mẹ nó, giã từ chị gái nó, giã từ bốn đứa cháu mồ côi cha, giã từ làng xóm, giã từ tuổi thơ ngây…, theo chú Ba lên đường, xuôi Nam.



2- Anh Lộc



Anh Lộc tìm vào bóng râm của đám tràm bốn năm tuổi. Anh vê một điếu thuốc gò to đùng:

-Mệt! Đói rồi, sao chưa ai đem cơm cho mình nhỉ?

Từ sáng sớm tới giờ, anh phải xịt thuốc cỏ cho mấy công tràm một năm tuổi. Anh lẩm nhẩm:

-Vậy là, để coi, mình vô làm cho chú Ba đến mười năm rồi. Kể ra, chú đối xử với mình như con, tốt hơn mong đợi. Mình không phải ăn khoai sắn trừ cơm, lại tháng tháng có tiền gởi về cho mẹ, cho chị nuôi cháu. Cầu Chúa trả công cho chú…

Anh đang nghĩ ngợi mông lung thì nghe thấy tiếng vè vè quen thuộc của chiếc máy đuôi tôm Vanguard 6.5 HP. Chiếc vỏ lãi bằng composite ghé vào chỗ anh. Anh mừng rỡ:

-Hên quá! Đúng lúc đói bụng.

Một cô gái nhảy lên bờ:

-Hổng dám hên đâu. Ba nói anh về ăn cơm nhà, chiều đi lễ nhà thờ Kinh Tràm. Bữa mai, Chúa Nhựt, nhà mình có khách.

Cô Đẹp, tên khai sinh là Huỳnh Thị Mỹ Lệ, là con gái độc nhất, con gái cưng của chú Ba Đởm, thường ngày cô vẫn mang cơm trưa ra đồng cho anh Lộc. Anh nhìn trộm cô, đúng lúc cô nhìn trộm anh. Bốn mắt nhìn nhau. Cả hai cùng vội vàng nhìn đi chỗ khác, chắc vì mắc cỡ. Cô nói lảng:

-Chiều, cho em đi lễ với, ngheng!

-Chi vậy?

-Cho biết. Và canh chừng có cô nào bắt cóc anh không.

Họ lại cùng lúc nhìn trộm nhau, chẳng biết nói gì với nhau. Rồi cả hai cùng lãng xẹt, lên tiếng cùng một lúc:

-Thôi, về.

Tối hôm ấy, thím Ba nấu một nồi cháo gà theo kiểu Giồng Riềng: không có hạt gạo nào, chỉ toàn đậu xanh. Sau vài tuần rượu, chú Ba nói với anh Lộc và cô Đẹp theo phong cách Nam Bộ: bộc trực, chân thật, giản dị, không màu mè rào trước đón sau:

-Hai đứa bay thương nhau nhau phải không? Tụi bay có mấy lá gan, tao biết hết trơn, giấu tao sao nổi.

Chú quay sang anh Lộc:

-Rót cho tao ly rượu, coi. Bay thương con Đẹp thiệt tình thì tao gả. Nhưng phải có người lớn, phải mời mẹ mày vô, phải giữ lễ nghĩa đàng hoàng, nghe không?

Đôi bạn trẻ lại nhìn trộm nhau. Mặt cô Lệ đỏ như một trái gấc chín, còn tim anh Lộc đập loạn xạ như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Anh cúi gằm mặt xuống. Chú Ba hỏi:

-Sao? Bay không chịu, không thương con Đẹp hả?

Anh lấy hết can đảm, ấp úng:

-Dạ! Thương! Nhưng mà…, nhưng mà…

-Nhưng sao?

Anh nói vội:

-Con là người Công Giáo.

-Mèng đéc ơi! Tưởng chi? Thì cho con Đẹp theo đạo. Có sao đâu? Hồi đó tao còn muốn vô đạo nữa kìa. Nhà này chắc là có “duyên số” với Chúa. Để tao lên gặp ông cha Ngần trên Kinh Tràm.

3 - Chú Lộc


Chú Lộc đã bước vào lứa tuổi ngoài 50. Vợ chồng chú có với nhau ba người con, hai trai một gái. Đó là chưa kể đứa đầu lòng sinh non, chết non. Cả ba đứa đều là con ngoan, trò giỏi. Chú thường nói với vợ:

-Mình phải hết lòng tạ ơn Chúa. Em nghĩ coi trong nhà có ba đứa chứ có đến tám đứa, mười đứa, chỉ cần một đứa quậy thôi là “chết bà” rồi.

Chú rất dễ dãi, rộng rãi với lũ trẻ, chăm sóc chúng, giành thời gian chơi đùa với chúng. Nhưng chú cũng tạo ra những thói quen trong nhà, có những thói quen đã trở thành nguyên tắc khắt khe. Tỷ như: có nói có, không nói không. Tỷ như: cần gì xin, không được tự tiện lấy tiền của cha mẹ, dù chỉ là một ngàn đồng. Tỷ như: nếu không có lý do chính đáng, không ai trong gia đình được vắng mặt trong bữa cơm chiều. Tỷ như: cả nhà phải đọc kinh chung buổi tối trước khi đi ngủ…

Trước đây ông Ba Đởm bị trúng gió. Đưa ra đến bệnh viện đa khoa huyện Giống Riềng thì chết, bác sĩ nói ông bị nhồi máu cơ tim. Trong đám tang, vì thương nhớ cha, cô Đẹp kêu gào, khóc lóc thảm thiết. Còn sau đó, suốt mấy tháng trời, cứ đọc kinh tối xong là cô vô mùng sớm, khóc tấm tức một mình. Chú Lộc gặng hỏi mãi, cô mới thút thít:

-Ba đâu có vô đạo. Ba đâu có được lên thiên đàng. Em khóc vì thương ba phải xuống hỏa ngục đó thôi.

Chú Lộc không biết trả lời thế nào. Trình cha sở, cha xuống tận nhà khuyên bảo:

-Chúa thương yêu hết mọi người. Ngài xuống thế, chịu khổ nạn và phục sinh để cứu chuộc muôn người, trong đó có chị, có tôi, có chú Ba Đởm... Hãy phó thác linh hồn người đã khuất cho Chúa, tùy theo sự thương xót Ngài.

Cô mới dần dần nguôi ngoai.

Bà Ba Đởm nói với chú Lộc:

-Ờ hé! Bọn bay ngày nào cũng nhớ tới cha mẹ, ông bà tổ tiên. Tốt quá chớ. Từ nay tao cũng nhào vô đọc kinh với tụi bay được không? Cho đỡ buồn ấy mà.

Bà “nhào vô” đọc kinh thật, mới đầu còn vấp váp, sau bà thuộc kinh, đọc làu làu. Ngày giỗ ba năm của chồng, sau giờ kinh tối bà nói với vợ chồng chú Lộc:

-Tụi bay nói với ông cha trên Kinh Tràm cho tao tin Chúa, vô đạo được không? Già gần tám mươi rồi, vô đạo được không? Dịp đám cưới tụi bay, cha bay nói là “nhà này chắc là có “duyên số” với Chúa”, tụi bay có nhớ không?

Cả nhà mừng đến rơi nước mắt.

Chúa Nhật đầu tháng 11 năm nay, bà Ba Đởm sẽ được lãnh phép rửa, nhưng có một trục trặc nhỏ, nhỏ thôi, đó là chưa tìm được người hơn bà ít nhất 16 tuổi làm mẹ đỡ đầu cho bà. Chắc là cha sở phải tìm cách khác thôi.




Sáng mùng ba tết, trời còn lảng vảng sương. Gã ngồi một mình trên chiếc ghế đá góc sân, dưới gốc mai còn đang nở hoa vàng trời, nhưng cũng đã rụng hoa vàng đất. Gã tủm tỉm cười một mình với mùa xuân đang về. Mùng ba tết, hôm nay, nếu tính theo lịch ta, là ngày giỗ người vợ thân yêu của gã, bà ngoại của con Kim Ngôn, đứa cháu ruột thịt duy nhất của gã. Nhưng hai ông cháu đã chọn giỗ những người thân trong gia đình theo lịch tây, nên ngày tết vẫn là ngày tết. Gã xuýt xoa, hít hà hương thơm của tách trà ô long mà một người bạn vong niên mới biếu gã. Gã lại cười một mình. Mùa xuân đất trời đã về. Con chim gáy treo ở hiên nhà gáy “cúc cu, cúc cu…” liên canh bất chỉ. Có phải đời vẫn đẹp, vẫn đáng yêu quá chừng không?

Bỗng một đoàn xe mô tô, có đến một chục chiếc, nẹt bô, rú ga, đánh võng, ào ào đua nhau chạy như bay ngay trước mặt gã. Nụ cười trên môi gã tắt lịm. Gã làu bàu:

– Tiên sư bố nhà chúng mày, quân mất dạy.


Gã nhớ lắm lời cha xứ giảng ở nhà thờ: “Ghét tội, chứ không ghét kẻ có tội”. Gã rắp tâm làm theo, nhưng chưa bao giờ gã thôi thù ghét bọn đua xe này. Không thù ghét sao được khi mùng ba tết năm ấy ấy, vợ gã đang quét sân, thì bị một nữ quái xế lạc tay lái, lao qua hàng rào dâm bụt, đâm thẳng vào, chết tươi. Thế là Kim Ngân, con gái gã mồ côi mẹ, còn gã trở thành một con “gà trống nuôi con”. Thời gian cứ trôi xuôi. Con gà trống già đi thì con gà con thành một con gà mái ghẹ. Chị Kim Ngân lấy chồng trên thành phố Cần Thơ, để gã lại một mình với căn nhà nhỏ dưới quê. Thời gian vẫn cứ trôi xuôi. Con bé Kim Ngôn con chị Kim Ngân được năm tuổi, học lớp lá trường Mầm non Họa Mi thì chị Kim Ngân cấn thai đứa thứ hai.

Gã không thù ghét bọn đua xe sao được? Khi chồng chị Kim Ngân chở chị đi khám thai, đang đi trên quốc lộ 91 B thì bị bọn đua xe cán phải, xe chồng lên xe, xe chồng lên thân xác con người. Máu và máu. Người ta chở hai vợ chồng đi cấp cứu, nhưng không cứu được ai… Trong Thánh lễ đưa chân đám tang ba người ấy – hai người lớn và một thai nhi – không ai cầm được nước mắt, đến ngay cả vị cha xứ già chủ tế còn đọc các lời nguyện nghẹn lại vì xúc động.

Nhưng người sống vẫn phải sống. Ngày xưa gã nuôi con khó một thì ngày nay nuôi cháu khó mười. Có khi là do bản năng, người ta chỉ nói đến bản năng làm cha mẹ chứ có ai nói tới bản năng làm ông bà đâu?! Đến như khái niệm tam cương, ngũ luân của Nho giáo cũng chẳng nói gì về tình nghĩa ông cháu. Kinh Thánh Tân Cựu Ước chắc cũng vậy thôi. Gã thấy mình lọng ngọng từ việc tắm rửa, chải đầu, cột tóc cho đến việc ăn uống, may sắm quần áo, đồ dùng cá nhân cho cháu. Một lần, đón con Kim Ngôn đi học về (năm ấy nó đã lên lớp hai), gã không sao quên được, con bé nhất định không cho gã dắt tay:

– Con đi một mình được mà, ông ngoại!

– Được, nhưng con phải đi hẳn lên trên lề đường, tới ngã tư, phải chờ ông ngoại dắt qua đường nghe không? Xe cộ nhiều, nguy hiểm lắm.

Rồi gã nói với cháu như nói với một người bạn:

– Nếu khi đi đường mà chỉ nhìn lên, con sẽ nhìn thấy trời xanh, mây trắng nhưng dễ bị vấp ngã vì không thấy đường. Còn nếu chỉ nhìn xuống con sẽ thấy ổ gà, hòn đá và…

Con bé ngắt lời gã:

– Và thỉnh thoảng mình lượm được tiền lẻ ai đó đánh rơi, phải không ông ngoại?

Gã cười đau đớn:

– Ông ngoại không nói vậy. Ý ông ngoại là mình phải nhìn xuống để biết tránh nguy hiểm khi đi đường, nhưng cũng phải biết nhìn lên để biết hướng lòng lên ấy mà.

Nó đưa mắt lên trời, ngỡ ngàng reo lên:

– Nhìn kìa, ông ngoại! Đám mây hình trái tim trên trời kìa!

Gã đưa mắt nhìn theo. Giữa bầu trời cao thăm thẳm, xanh ngăn ngắt, một đám mây trắng muốt, hình trái tim đang lững thững bay về phương đông. Con Kim Ngôn hỏi:

– Tại sao đám mây lại có hình trái tim, ông ngoại?

– Tình cờ thôi, đám mây có thể có nhiều hình thù khác nhau, con ạ!

– Tại sao lại tình cờ?

– Tại vì… tại vì… ông ngoại không biết.

– Tại sao ông ngoại không biết?

Gã biết mình không tài giỏi gì. Ngày ấy gã thi rớt tú tài một, nhưng nhờ là con trai độc nhất trong gia đình có cha mẹ trên sáu mươi tuổi, gã được hoãn dịch, sau đó là động viên tại chỗ vì lý do gia cảnh. Gã được cha xứ đồng thời là hiệu trưởng trường tiểu học tư thục Rạng Đông nhờ dạy một lớp, gã nghiễm nhiên thành thầy giáo. Sau 1975, gã được “lưu dung”. Thời gian đẩy đưa, gã tốt nghiệp phổ thông, rồi lấy được bằng cử nhân. Hôm nhận bằng, bạn bè gã đưa gã lên tận mây xanh. Riêng vợ gã thì nói nhỏ vào tai gã: “Em nghe người ta nói, dốt chuyên tu, ngu tại chức, có gì đáng tự hào đâu, anh?” Đang ở trên cao tận mây xanh, vợ gã lôi gã xuống tận mặt đất, làm gã giận vợ đến cả tháng trời. Nhưng bây giờ, muốn giận cũng chẳng có vợ đâu mà giận. Và đến bây giờ, gã mới nhận ra vợ gã có lý. Gã bụng bả dạ: “Mình dốt thật, ngu thật, đến câu hỏi tại sao của một đứa trẻ, mình cũng không trả lời được”. Gã tự an ủi: “Các nhà thông thái cỡ như Aristote, hay Socrate chắc gì đã trả lời được hết những câu hỏi của trẻ con”.

Thời gian cứ trôi. Cuộc vật lộn không cân sức giữa một ông già và một đứa trẻ với những nghèo túng, những nợ nần, những đồng tiền bát gạo đã đến hồi kết thúc. Hai ông cháu đã chiến thắng. Con Kim Ngôn thi đậu vào hai trường đại học trên Sài Gòn, đậu thủ khoa vào trường cao đẳng sư phạm Cần Thơ. Thâm tâm nó muốn học đại học, nhưng nó quyết định học cao đẳng, vì thời gian học ngắn hơn, vả lại nó đậu thủ khoa ngành sư phạm, sẽ có học bổng, ông ngoại nó bớt vất vả hơn. Với lại dù sao Cần Thơ cũng gần nhà hơn, nó có thể về thăm nhà dễ dàng hơn.

Ra trường, cô giáo Kim Ngôn may mắn xin được một chỗ dạy ở một trường phổ thông cơ sở gần nhà vừa lúc tóc ông ngoại cô đã bạc trắng, không làm ăn gì được nữa. Nhà chỉ có hai ông cháu. Người ta thì “trẻ cậy cha, già cậy con”. Nhưng ở nhà này thì phải sửa lại là “trẻ cậy ông, già cậy cháu”. Gã chỉ còn là một người nội trợ không hơn không kém: nấu cơm, rửa bát, quét nhà… và chăm sóc con chim gáy. Gã chưa một ngày vắng nhà, vì nếu chỉ vắng nhà nửa ngày thôi, cô cháu gái đi dạy về sẽ mệt mỏi vất vả quá. Và cũng vì con chim gáy nữa, ai sẽ cho nó ăn, ai sẽ tắm cho nó?…

Con chim gáy treo ở hiên nhà vẫn gáy “cúc cu, cúc cu…” liên canh bất chỉ. Gã khe khẽ gọi:

– Kim Ngôn, Kim Ngôn!

– Dạ!

– Con rót vào tách trà cho ông ngoại một ít nước sôi, chừng một cốc thôi nhé!

Gã nhìn nghiêng khuôn mặt cô cháu gái, buột miệng:

– Con đẹp quá, như mẹ con và bà ngoại ngày xưa, đẹp hơn hẳn ông ngoại đấy.

Cô gái cười khúc khích:

– Chắc chắn con “đẹp gái” hơn ông ngoại rồi…

Một ý nghĩ thoáng qua đầu óc gã. “Trước sau gì mình cũng mất nó. Con bé thế nào cũng đi lấy chồng. Phải chi có cậu con trai nào hiền lành phúc đức, nghèo cũng được, chịu ở rể nhà này, nhỉ?” Gã cười mỉm chi. Cô Kim Ngôn ngẩn ngơ:

– Ông ngoại cười gì vậy? Ông ngoại giúp con chuyện này được không?

Cô trải tờ giấy A4 trước mặt gã. Gã đọc thật nhanh:

ĐƠN ĐĂNG KÝ TÌM HIỂU

HỘI DÒNG MTG LONG XUYÊN

Kính gởi: Quý cha phụ trách hội dòng MTG-LX

Con là Immaculata Nguyễn Thụy Kim Ngôn

…………………………………………………………

– Con nhờ ông ngoại ký tên rồi vào xin cha xứ chứng nhận cho con.

Gã tức khắc nhận ra rằng con Kim Ngôn sẽ bỏ gã mà đi, nhưng theo cách này thì gã chưa bao giờ nghĩ tới. Gã biết ngay rằng bầu trời của nó là bầu trời cao xanh thánh thiện của tu viện cơ, chứ không phải ở đây, trong căn nhà tù túng này. Còn bầu trời của con chim gáy thì ở ngoài kia, không phải ở trong cái lồng sơn son thếp vàng chật hẹp này. Gã nghĩ tới những tháng ngày cô quạnh cuối đời, lòng thoáng buồn. Nhưng rồi gã phó thác: “Lạy Cha! Đó là việc của Cha, xin cho Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Gã bắt con chim ra, vuốt ve đôi cánh của nó lần cuối rồi tung nó lên cao. Gã cười, nhưng trong khóe mắt gã có một giọt nước mắt. Gã nói rõ to với con chim nhưng cũng là nói với cô cháu gái:

– Bay đi, bay đi, chim ơi!

——–


Giáo xứ đền thánh giuse an bình



Người bạn vai anh của tôi, một tác giả chuyên viết về các đề tài luân lý đạo đức trong đạo ngoài đời, bảo:
– Anh em mình già rồi, chắc phải nghỉ viết thể loại văn nghị luận thôi. Phải đọc nhiều, nghiên cứu nhiều mới viết được, mệt quá!
Tôi mở lòng:
– Con ong làm mật, con tằm nhả tơ. Nhà Phật bảo đó là “Duyên, Nghiệp”. Nhà Đạo nói đó là “Ơn Gọi”. Bác không bỏ được đâu. Bỏ thì bác suốt ngày hát “cuộc đời vẫn buồn tênh, tình yêu vẫn buồn tênh” hay sao?
Anh cười, cởi mở:
– Mình sẽ nhảy qua viết truyện ngắn. Viết truyện ngắn dễ ẹc ấy mà, cứ phịa ra là xong…



“Cứ phịa ra là xong”. Anh nói chí lý quá, làm tôi phát thèm. Tôi chợt nhớ tới đề từ của Vương Sĩ Trinh cho bộ Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh:

Cô vọng ngôn chi cô thính chi,
Đậu bằng qua giá vũ như ti.
Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ,
Ái thính thu phần quỷ xuớng thi.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu dịch:

Nói láo mà chơi, nghe láo chơi
Giàn dưa lún phún hạt mưa rơi
Chuyện đời đã chán, không buồn nhắc
Thơ thẩn nghe ma kể mấy lời.

Bộ Liêu Trai Chí Dị không phải là bộ truyện ngắn lưu danh kim cổ của Trung Hoa và của nhân loại hay sao? Vậy mà thủy chung toàn phịa là phịa, sách vở ngày nay gọi là “hư cấu” gì đó thì phải.

*
Câu chuyện tôi sắp kể dưới đây là chuyện thật, tôi cũng muốn “phịa” cho nhẹ nhõm, lại đỡ mang tiếng “thọc gậy bánh xe”, đụng chạm tới các bậc vị vọng, chánh phó trương trùm trưởng tân cựu. Nhưng người kể chuyện này cho tôi nghe là một tân tòng, đòi buộc tôi “có sao nói vậy người ơi”, không được hư cấu, sửa chữa, sắp xếp lại. Vả lại, biết mình chả là cái thá gì mà đòi học đòi Bồ Tùng Linh, vì thế nên tôi phải vâng lời, chả dám phịa, cứ “thật thà là cha mách qué” vậy thôi.
Chuyện như thế này:

Chiều hôm ấy, bà chánh thở dài thườn thượt, rụt rè nói với với ông chánh:
– Người ta thường nói: “Có mười thì tốt, có một vô duyên”. Cả cơ nghiệp nhà mình được mỗi một đứa con gái. Gần đây tôi thấy có gì là lạ, không khéo hỏng to.

Ông chánh gắt như mắm tôm:
– Cái gì mà “là lạ”, cái gì mà “hỏng to”?

Bà chánh càng lí nhí, rụt rè hơn:
– Ông là đàn ông, lại vô tâm vô mật, ruột để ngoài da, không để ý thì làm sao biết được. Ông thấy không? Thời gian gần đây, con Ngọc Minh nhà mình lên xuống, lục đục đi toilet suốt đêm, lại nôn ọe, ói mửa liên tục, ăn vặt cả ngày, lúc nào cũng lờ đờ uể oải buồn ngủ suốt. Tôi sợ…
– Sợ cái gì?

Ông chánh chợt nghĩ ngay đến điều tệ hại nhất:
– À, tôi biết rồi. Sợ nó không chồng mà chửa, chứ gì? Lạy Chúa tôi, nếu thế thì tôi giết nó mất.

Bà chánh lấy tay áo lau mắt:
– Ôi giời ôi! Cọp dữ không ăn thịt con, ông là người, đâu phải cọp, lại còn là chánh trương, cánh tay phải của cha xứ cơ đấy.

Ông chánh nổi giận đùng đùng:
– Sao bà lại vơ quàng vơ xiên, cài cha xứ vào đây. Bà không biết: trong lễ cưới, cha xứ thường xuống cuối nhà thờ rước cô dâu chú lên bàn hôn phối kê giữa nhà thờ, gần gian cung thánh. Nhưng ăn cơm trước kẻng ấy à? Đừng hòng. Có khi chỉ được làm phép giao trong buồng áo thôi. Đến như con của họ, đứa trẻ được sinh ra sau này, có tội tình gì đâu? Vậy mà có khi cha phạt hai, ba tháng mới cho rửa tội. Nhục lắm, nhất là mình lại là chánh trương, cả hàng xứ trông vào…

Ông nghiến răng nghiến lợi:
– Gọi con Ngọc Minh xuống, gọi nó xuống đây cho tôi.
– Nhưng mà ông không được nóng giận, phải nhẹ nhàng thôi, nhé!
*

Cuộc hỏi cung con gái được tiến hành ngay sau đó. Ông bà chánh dùng hết lời nói nặng nhẹ, chua ngọt, phải trái, được mất… hỏi con, nhưng cô Ngọc Minh không trả lời câu nào, chỉ bưng mặt khóc, khiến cho ông chánh nổi giận, không tự chủ được. Ông túm tóc con gái giáng vào mặt con một cái tát thẳng cánh tay. Phải như vậy, cô Ngọc Minh mới mở miệng:
– Bố ơi! Mẹ ơi! Con biết tội rồi! Xin bố mẹ tha tội cho con.

Có vậy thôi và chỉ vậy thôi, ngay tức khắc ông chánh nhận ra rằng điều tệ hại nhất đã xảy ra. Ông cảm thấy trái tim mình vỡ vụn tan tác và thấy bản thân ông yếu đuối ngoài cứng trong mềm, mềm như bún. Ông khóc rống:
– Lạy Chúa tôi! Chúa để cho tôi phải đi đến bước đường này sao?

Bà chánh bỗng dưng trở thành một nữ tướng, một người chỉ huy:
– Ông về phòng, nghỉ chút đi. Con Ngọc Minh cũng đi đi.

*
Đêm ấy bà chánh qua lại giữa phòng ngủ của chồng và phòng ngủ con gái như một nhà ngoại giao con thoi. Bà vừa nắm quyền ngoại giao, vừa nắm quyền nội vụ, vừa là trung gian hòa giải giữa hai bố con. Sáng ra, bà báo cáo với ông:
– Con bé nhà mình dại dột, ăn ở với thằng Khanh (Quang Khanh chứ không phải Sở Khanh đâu nhé!), bác sĩ hệ chính quy đàng hoàng, hiện là trưởng khoa Sản Nhi, bệnh viện huyện nhà. Chúng nó muốn lấy nhau, nhưng trở ngại duy nhất là khác đạo.

Ông chánh sòng sọc rít một điếu thuốc lào:
– Tôi gả ngay, nhưng nó phải giở lại đạo mới được. Ít nhất hai tháng học giáo lý dự tòng, hai tháng hội nhập làm quen thực hành nền nếp sống đạo, hai tháng học giáo lý hôn nhân, mất toi, đi đứt nửa năm trời. Lúc ấy con Ngọc Minh đẻ rồi còn gì. Không được, không được. Phải làm sao kín kẽ che mắt được cha xứ và cả giáo xứ. Cả đêm không ngủ tôi nghĩ rồi, chỉ có cách đi bệnh viện.

Bà chánh thở hắt ra:
– Giêsu Maria lạy Chúa tôi. Ý ông là đưa con bé đi phá thai phải không? Tội lòi con mắt ra. Tội giết người, vạ tuyệt thông tiền kết, ông biết không?
– Ai bảo là phá thai? Chỉ là đi hút điều hòa thôi. Mới chưa đầy hai tháng phải không? Ai dám bảo nó đã có linh hồn? Với lại mình phải kín kẽ, không để ai biết.
– Ông biết, tôi biết, chúng nó biết, và Chúa biết. Chạy trời không khỏi nắng đâu. Ông muốn nói gì thì nói. Từ bào thai ấy, một con người, một đứa trẻ, lại là cháu ngoại ông sẽ được sinh ra.

Ông chánh ho:
– Mặt mũi tôi thế này. Ra ngoài, từ cha xứ trở xuống ai cũng một điều cụ chánh, hai điều cụ chánh. Con Ngọc Minh chửa hoang, hóa ra mặt tôi mặt mo à. Mà cũng tại bà nữa. Tổ tiên ta ngày xưa không bảo: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” và “Phúc đức tại mẫu” là gì. Lần này, tôi đã quyết, bà phải nghe lời tôi. Gọi con Ngọc Minh xuống, tôi chở đi bệnh viện hút điều hòa.

*
Bác sĩ Quang Khanh biết tin nhờ cuộc điện thoại của cô Ngọc Minh từ sáng sớm. Anh đón cha con ông chánh từ lâu ngay trước công bệnh viện:
– Con xin thưa với bác! Hai đứa con trót dại. Con xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Con sẽ nhờ ba má con qua thưa chuyện với hai bác xin cưới em Ngọc Minh. Có điều con thưa trước, con là con một. Nói gia đình con theo Phật giáo cũng được, vì ngày sóc, vọng nào cả nhà đều ăn chay, đi lễ chùa. Nhưng con có được học hỏi, hiểu biết gì Phật giáo đâu. Đúng ra gia đình con theo đạo Ông Bà Tổ Tiên để lại, vậy thôi. Con không theo đạo được không? Con nhớ có lần chở em Ngọc Minh đi học giáo lý hôn nhân. Hôm ấy mưa to lắm không đi đâu được, con đành phải ngồi nghe cha xứ dạy về đề tài “Sinh sản có trách nhiệm”. Con còn nhớ như in, lời dạy của cha xứ: “Hút điều hòa là phá thai, là giết người, là tội ác.”

Ông chánh giật mình:
– Cái gì? Anh nói cái gì cơ?

Bác sĩ Khanh nhắc lại trong nghẹn ngào:
– Nghề của con, con biết. Người ta gọi là “hút điều hòa” cho nhẹ đi. Thực ra đó là một hình thức phá thai trực tiếp. Con trộm nghĩ: Bác đưa em Ngọc Minh về nhà đi, Con xin hoàn toàn tự nguyện chịu tất cả trách nhiệm của một người chồng, người cha. Nếu bác và em Ngọc Minh nhất quyết hút điều hòa thì con xin lỗi, hết tình, hết nghĩa, chẳng có chuyện cưới xin đâu. Con không thể làm chồng một mụ sát nhân, làm con rể của một tay giết người, mà kẻ bị giết chết lại là con, cháu, máu mủ, ruột thịt của mình…
*

Cha con ông chánh đưa nhau về, ông rí rủm nói với bà chánh, vẻ lập công:
– Con Ngọc Minh đòi siêu âm cho bằng được. Đứa bé được bảy tuần tuổi, bắt đầu có móng chân móng tay. Nghe theo lời bác sĩ (không, không thể gọi thằng Khanh là bác sĩ được, chú sĩ cũng không, tử sĩ càng không, con sĩ thì họa may), bố con tôi về. Thế là giã biệt thanh danh của tôi. Nào là ông chánh, nào là cụ chánh, nào là chủ tịch ban thường vụ hội đồng mục vụ giáo xứ, đều tan vỡ như bong bóng xà phòng.

Bà chánh nguýt dài:
– Vợ đạo gốc nói thì không nghe, đi nghe một kẻ chưa dự tòng. Thanh danh mà chi? Hay chỉ là hư danh? Danh không bằng của, của không bằng người. Ông sẽ đươc người, được một đứa trẻ gọi ông là ông ngoại. Sướng nhể?

*
Nghe đâu ông chánh nộp đơn từ nhiệm ngay trong tháng và đã được cha xứ đồng ý.



Được tin ông cố bị đau ruột dư, phải nhập viện mổ khẩn cấp, cha phó phải về nhà gấp. Bộ máy nhà xứ khởi động nhanh chóng, chạy hết công suất. Cha xứ móc hầu bao đưa cho cha phó một chiếc phong bì mỏng, chắc bên trong toàn giấy bạc mệnh giá lớn:

– Cha cho tôi gởi lời thăm hỏi ông cố. Sáng mai, tôi sẽ dâng lễ cầu nguyện cho ngài…

Cha phó đang lúng búng nói lời cám ơn thì ông chánh trương ân cần:

– Cha có muốn con đi theo, giúp cha được việc gì chăng?

Ông phó nội bận tâm về công việc:

– Chúng con xin làm hết sức mình để tiến hành dạy giáo lý tân tòng và giáo lý hôn nhân những ngày cha vắng mặt.


Ông phó ngoại thông báo:

– Con đã đặt vé xe giường năm cho cha. Ghế A5, tầng dưới, 18 giờ xuất bến Rạch Sỏi, họ dặn khoảng 45 phút sau sẽ đến đây.

Bà quản kiêm thư ký mẫn cán:

– Con để quần áo và đồ dùng cá nhân của cha ở ngăn dưới, áo lễ ngăn trên, thuốc uống và mấy gói thuốc lá ngăn ngoài, chai nước lọc ngăn bên hông. Chiếc samsonite của cha còn rộng chán, cha có cần đem theo gì nữa không?… Giêsu, lạy Chúa tôi, xin cho ông cố tai qua nạn khỏi, cho cha đi, về bình an.

Cha phó vụt hỏi bà quản:

– Còn chiếc lap top…?

– Con để ở ngăn giữa để tránh va chạm…

Bà thủ quỹ nói nhỏ:

– Tiền quỹ của ban thường vụ còn kha khá. Chúng con đã bàn nhau, tạm ứng cho cha mượn mười triệu, biết đâu cha có việc phải dùng đến.

Cha phó chạnh nhớ mẹ: “Các bà ấy chu đáo thật, y như mẹ mình. Đó không phải là bản năng bẩm sinh của đàn bà hay sao?” Cha cám ơn và xin mọi người cầu nguyện cho ông cố và cho cha. Lúc 18 giờ 30, tất cả đưa cha phó ra quốc lộ 80 đón xe. 19 giờ, xe chưa đến. Cha phó sốt ruột nói với ông phó ngoại:

– Ông phó sai lời rồi nhé. Nói 45 phút, bây giờ đã 19 giờ, trễ 15 phút rồi.

Ông phó ngoại có vẻ không vui:

– Nhà xe nói sao, con trình lại với cha như vậy. Cha không biết người ta vẫn nói: “Lái tàu, lái, lợn lái xe; trong ba lái ấy chớ nghe lái nào” hay sao?

Mọi người cười rả rích, trừ cha phó. Cha cúi nhìn những viên sỏi dưới chân: “Ông cố mình đang phải cấp cứu. Mình đang nóng ruột như lửa đốt đây, thế mà họ vô tâm cười cợt được”. Lúc 19 giờ 15, chiếc xe khách ấy cũng đến. Chú phụ xế đề nghị cất chiếc va li vào hầm xe, nhưng cha phó không đồng ý. Cha đâu có quên câu “Kho tàng các ngươi ở đâu, lòng các ngươi ở đó” (Mt 6,21):

– Cám ơn chú, nhưng tôi có việc cần dùng.

Cha có việc cần dùng thật. Cha lấy chiếc máy tính cá nhân ra. Như thói quen, cha mở email rồi hí hoáy trả lời thư. Sau đó, cha mở FB, nhấn “thích” hoặc bình luận về những bài viết, những hình ảnh, những status của những người thân quen. Rồi cha vào trang web giaophanlongxuyen.org của giáo phận nhà. Tới cầu Mỹ Thuận thì máy tính của cha hết pin. Cha có vẻ bực bội nhưng trấn tĩnh được ngay: “Cũng tốt thôi. Mình có thể đọc kinh cầu nguyện cho ông cố”. Đọc chưa được năm chục kinh thì mắt cha nhíp lại. “Ngày mai còn nhiều việc lắm, mình phải nghỉ ngơi, ngủ lấy một chút”. Nhưng ở trên xe, dù là xe giừơng nằm máy lạnh cũng đâu có dễ ngủ như ở nhà. Đầu tiên là cặp kính cận vướng víu khó chịu, cha gỡ xuống. Nằm nghiêng bên này, cái điện thoại cồm cộm. Nằm nghiêng bên kia, cái bóp da đựng giấy tờ tiền bạc cấn lên người. Cha lấy ra, cất tất cả vào va li. Cha cảm thấy dễ chịu hơn, chìm vào giấc ngủ chập chờn. Đến bến xe Miền Tây, cha nhìn đồng hồ. Đã 23 giờ 45. Cha gọi một chiếc ta xi:

– Về đường K số w/x/y/z.

Nhà ông cố ở đường K số w/x/y/z, nghĩa là ở trong một con hẻm của con hẻm của con hẻm của đường K, phường A quận B, Thành phố H. Vừa quẹo vào hẻm w, cha bảo bác tài xế:

– Gần đây có chỗ nào đi toa lét được không bác tài?

Người tài xế mau mắn:

– Nửa đêm rồi, với lại “Túng thế phải tùng quyền” thôi. Tôi ghé giàn râm bụt trước mặt cho anh đi, được không?

Cha đang hành sự ngay giàn râm bụt thì chiếc ta xi lao vù đi mất. Cha ú ớ, ngẩn tò te như người mất hồn. Tất cả tiền bạc, giấy tờ, điện thoại… tất cả, phải tất cả đều mất, mất hết cùng với chiếc va li. Ở nhà xứ, cha có thể thao thao bất tuyệt giảng dạy: Ông bà anh chị em phải, phải, phải… thế này, thế khác. Nhưng ở đây, bây giờ, cha không biết mình phải làm thế nào. Cha lấy tay áo lau mặt ướt đẫm mồ hôi, thẫn thờ thất thểu đi bộ về nhà ông cố. Cha không nhớ nổi lần cuối cùng cha phải đi bộ xa hơn cả cây số như hôm nay, ở đâu, bao giờ. Mệt quá, cha ngồi xuống bậc cửa thở lấy hơi. Rồi cha nhìn vào trong nhà. Trong nhà tối thui. Cha gõ cửa, gọi cửa, không ai lên tiếng. Chắc cả nhà đã đưa ông cố đi bệnh viện. Cha nhấn chuông, không nghe thấy tiếng chuông. Chắc chuông cửa bị hư hoặc hết pin. Vô kế khả thi, cha lại ngồi xuống bậc cửa, nói với chính mình: “Thôi, mình đành phải ngồi đây chờ sáng thôi. Chúa ơi! Con phó thác mọi sự trong tay Chúa. Mình phải cố chợp mắt lấy một tí”. Nhưng đàn muỗi không cho cha chợp mắt. Chúng vo ve bên tai, chích đốt cha kịch liệt, cha cởi áo sơ mi trùm mặt, chúng cũng chẳng buông tha. Có tiếng chân người, rồi có ai đó nói:

– Lại thêm một tay du thủ du thực ở đâu tới. Tụi tôi thuộc tổ dân phố. Cho coi giấy tờ.

Cha vắn tắt kể lại trường hợp của mình. Anh tổ trưởng dân phố hỏi:

– Anh có bịa ra không? Có nhớ số xe ta xi ấy không?

– Không. Anh làm ơn cho tôi mượn điện thoại gọi cho người thân được không?

Anh ta cười ha hả:

– Bộ anh là ông cố nội của tôi chắc? Bộ điện thoại của tôi là của chùa chắc? Không bắt anh lên công an phường là phước đức bảy đời nhà anh rồi. Ngồi đó, không được đi đâu, nghe không?

Không biết tại sao cha phó buột miệng cám ơn, và không biết cám ơn về điều gì. Không chợp mắt được, cha mặc áo sơ mi vào, bấm đốt ngón tay lần hạt.

Một thiếu phụ ăn mặc rách rưới, cái nón mê không che được khuôn mặt hốc hác, đen sạm, tay bế một đứa bé gầy guộc, oặt oẹo, tiến về phía cha:

– Ông rủ thương cho con xin chút tiền mua sữa cho cháu.

Cha chợt nghĩ: “Không một người mẹ nào trên thế gian này lại đày đọa con mình, vác con làm công cụ ăn xin suốt đêm như người đàn bà này… Có khi nào đây là cảnh chăn người như báo chí thường nói tới hay không?” Cha định nói một điều gì đó, nhưng trong túi không còn đồng bạc nào, cha lại thôi. Đi được vài bước chân, chị ta quay lại chửi:

– ĐM thằng cha trùm sò.

Một lúc lâu sau, một con bé mặt non choẹt, môi son má phấn lòe loẹt, mặc áo dây để hở ngực, quần ngắn hở đùi, tiến đến bên cha:

– Anh Hai có tâm sự buồn, bị vợ cắm sừng phải không? Buồn làm chi cho hao tổn tấm thân, đi nghỉ với em nhé. Em chiều anh tới bến. Chỉ 500 k, tới sáng luôn.

Cha phó lấy tay che mặt:

– Cám ơn (Cha phó lại buột miệng cám ơn, và không biết cám ơn về điều gì). Tôi là người công giáo, một linh mục công giáo.

– Ủa! Ông là ông cố hả? Con cũng công giáo nè. Con ở giáo xứ TT dưới Long Xuyên nè. Con bị cha dượng làm điều tồi bại, má con đuổi con ra khỏi nhà, hết đường về luôn, ông cố ơi!

Chắc là con có bé nói thật, cha phó cảm thấy lòng mình rạn vỡ: “Nếu em gái mình, cháu chắt nhà mình, các em thiếu nhi Thánh Thể dưới giáo xứ mình lâm vào tình cảnh này, mình có chịu đựng được không, có làm gì được không?” Cha cảm thấy lòng đau hơn cả lúc bị mất chiếc va li:

– Con cho cha số điện thoại, sau này cha có thể giúp gì cho con chăng. Nhớ đừng mất lòng tin nơi Chúa. Cha sẽ cầu nguyện cho con.

Nhìn con bé biến vào bóng đêm, cha thấy mình đã khóc từ bao giờ.

Đêm chờ sáng tưởng như dài vô tận. Cha phó nhìn đồng hồ, 4 giờ 15 sáng. Từng cặp trai gái ngả ngốn vào nhau, chắc họ vừa trải qua cuộc chơi thâu đêm suốt sáng. Trai ở trần, áo sơ mi vắt vai, người xăm trổ kỳ quái, gái cũng gần như ở trần, thần nanh đỏ mỏ. Một đôi tiến về phía cha:

– Ê! Anh bạn. Tụi này chơi chưa đã, anh bạn biếu chút bạc còm, tụi này bay tiếp coi.

Bay là chơi ma túy. Cha phó nói:

– Cảm phiền, tôi ở dưới quê lên, không còn xu teng các bạc nào cả.

Thằng con trai chỉ vào cổ tay cha:

– Vậy cái gì kia? Muốn dâng cúng cái coi giờ hay cái mạng cùi?

Thằng con trai thọc tay vào túi quần, nửa kín nửa hở khoe mũi dao Thái Lan sáng loáng, còn đứa con gái nhẹ nhàng cẩn thận nhưng chuyên nghiệp, khéo léo gỡ chiếc đồng hồ khỏi cổ tay cha. Nó cười mỉa mai:

– Cám ơn anh bạn nhà quê tốt bụng. Ô kê!

Có tiếng chuông nhà thờ. Cha phó lần mò đi về phía tiếng chuông. Trên những nẻo đường quen thuộc, người ta đang bắt đầu một ngày mới. Những chiếc xe đạp thồ nặng cả gánh rau muống, rau cần, những chị em vẫn còn dáng dấp nhà quê đội những mẹt xôi nếp xôi vò, củ khoai, củ sắn… Tiếng cốc cốc của xe hủ tíu gõ, tiếng rao bánh mì nóng giòn bắt đầu ồn ã… Cha phó thầm nghĩ: “Lạy Chúa! Có phải chính những người nghèo, bình dân, vất vả, lương thiện kia là tương lai của xã hội và giáo hội không?”

Xong lễ, cha phó vào nhà xứ. Từ đó, cha nối lại được những mối quan hệ đời thường. Cha vội vàng tới bệnh viện thăm ông cố. Ông cố đã qua ca phẫu thuật bình an, được chuyển xuống phòng hậu phẫu. Trong phòng, khá đông người thân quen. Nhìn thấy cha phó, mắt ông cố ánh lên niềm vui, nhưng ông nhỏ nhẹ nói như với một người xa lạ:

– Cám ơn cha đã về thăm.

Nhưng khi mọi người ra khỏi phòng, ông cố nắm tay cha phó:

– Gặp con, bố mừng lắm… Nhưng thế là đủ rồi. Con về đi. Chỗ của con không phải ở đây. Chỗ của con ở dưới Long Xuyên cơ. Chúa và mọi người đang chờ con ở đó.

Cha phó xúc động chảy nước mắt. Tuy vậy, năm ngày sau, ông cố được xuất viện an lành, cha phó mới trở về giáo xứ nơi cha phục vụ. Mọi người tíu tít chào đón, hỏi thăm. Cha phó hình như bẽn lẽn, bắt tay cám ơn từng người. Trong bữa cơm chiều hôm ấy, cha phó mở lòng với cha xứ:

– Từ ngày con còn nhỏ, rồi học tiểu học, trung học, đại học, rồi vào đại chủng viện, rồi chịu chức linh mục, con chỉ có việc ăn học, có khi nào con tưởng tượng được những cảnh đời kinh khủng đó đâu? Có bao giờ con biết cái cảnh vô gia cư khổ đến thế nào đâu? Có bao giờ con xuống đến đáy ngục tổ tông của trần gian (nơi Thiên Chúa ẩn mặt đi) như đêm hôm ấy đâu. Sau đêm chờ sáng ấy, con ngộ ra được một điều: Ai cũng có thể là thầy mình, cha ạ! Ai cũng có thể dạy bảo mình điều gì đó. Ai cũng có điều cho mình học hỏi. Con sẽ cố gắng siêng năng cầu nguyện, chuyên cần học tập hơn nữa, nơi Chúa, Đức Mẹ và các thánh, nơi kinh sách, nơi bề trên, nơi con người. Không phải để trở nên một linh mục khôn ngoan, thông thái, nhưng để là một con người biết cảm thông, biết cúi xuống, hạ mình xuống càng sâu càng tốt để phụng sự Chúa và tha nhân…

Cha xứ mỉm cười, một nụ cười sâu lắng, chan chứa yêu thương, nhưng không khỏi phảng phất một chút nghi ngờ về sự nhiệt tâm, có khi còn bồng bột của một linh mục trẻ tuổi:

– Cha chờ sáng, và buổi sáng đã đến. Tôi mừng cho cha lắm lắm…

Ngay tức khắc, cha phó đọc được nụ cười của cha xứ, đồng thời cũng ngay tức khắc, cha phó biết mình là ai:

– Vâng, con biết con yếu đuối, xin cha cầu nguyện cho con.

Có phải linh hồn cha lên tiếng không?

———–




Chiều hôm ấy, mấy năm rồi, tôi tỉ mỉ cắt xước mang rô cho mẹ. Cả tiếng đồng hồ sau, tôi lấy hết can đảm thủ thỉ:

– Mẹ ơi! Con lấy chồng.

Tôi chưa bao giờ thấy mẹ cười tươi đến thế:

– Hai mươi lăm tuổi đầu rồi, chứ còn bé bỏng gì? Thật lòng, mẹ mừng lắm. Mẹ chờ con nói câu ấy mấy năm nay rồi. Nhưng con lấy ai vậy? Sao không mời “người ta” đến nhà, ra mắt mẹ và ông nội?

– Mẹ có biết anh Ất con bác Giáp ngoài chợ không?

Mẹ mím môi, có vẻ suy nghĩ:

– Thằng Ất thì không, nhưng vợ chồng lão Giáp thì mẹ biết, giàu có, nhà cao, cửa rộng, nổi tiếng đại gia, chủ tiệm thuốc tây Từ Nhân ngoài chợ phải không?

Tôi gật đầu. Mẹ, mặt đỏ bừng, lắc đầu:

– Không được.

– Nhưng chúng con yêu nhau.

Cơn giận bốc lên ngùn ngụt, mẹ gào lên:

– Đã bảo không là không. Cha con mất sớm, trăm sự mẹ phải lo. Con lấy ai cũng được, bất cứ ai, miễn là không phải con cái nhà ấy. Mẹ nhắc lại, con có thể cưới bất cứ ai, dù cho đó là kẻ câm điếc đui què…


Từ nhà trong, có tiếng ghế đổ, ly vỡ gì đó. Ông nội chống nạng, khập khiễng bước ra. Ông nói với mẹ, không to tiếng, nhưng có một chút phiền muộn:

– Con muốn nói què quặt như bố cũng được chứ gì? Nhưng có gì thì cũng phải giải thích cho con nó biết chứ?

Mẹ có vẻ ngượng:

– Con xin lỗi bố. Con lỡ miệng. Vâng, bố biết rồi, chuyện như thế này.

* * *

Ông bác sĩ luống cuống:

– Thằng bé bị bệnh tả, thời kỳ toàn phát, bắt buộc phải khẩn trương bù nước điện giải sớm. Anh chị ra nhà thuốc Từ Nhân mua gấp hai chai nước và thuốc theo toa. Lẹ lên.

Anh đàn ông cắm đầu cắm cổ chạy đi. Anh trình toa thuốc, bà chủ tiệm thuốc mau mắn:

– Tétra, có. Natri cloride, có. 3 đồng 80 xu.

Anh đưa tờ giấy bạc mệnh giá 30 đồng. Bà chủ tiệm thuốc lắc đầu:

– Không có tiền thồi lại đâu. Chúng tôi chỉ nhận tiền nhỏ thôi… Cảm phiền, chú đi đổi tiền hoặc là đi chỗ khác mua vậy.

Lúc ấy, thuốc men ít ỏi. Cả nước mới đổi tiền xong, tiền đồng mệnh giá nhỏ, tiền xu cực kỳ khan hiếm. Nghe nói trên Long Xuyên, tờ tiền 10 đồng chỉ đổi được 7 hoặc 8 đồng bạc nhỏ thôi. Anh vội chạy đi. Hơn một tiếng đồng hồ, không đổi được tiền cũng không mua được thuốc, anh trở lại nhà thuốc Từ Nhân:

– Chị thương cho, con trai em bị dịch tả, cần cấp cứu, chị lấy cả 30 đồng cũng được.

Có tiếng chuông nhà thờ ban chiều vọng lại, chắc không xa lắm.

– Chú coi tôi là hạng người nào? 3 đồng 8, lấy 30 đồng, lỗi đức công bằng, trái phép đạo dậy. Chuông nhất rồi, cảm phiền chú đi cho, tôi đóng cửa ăn cơm tối, nhà còn phải đi lễ.

Cánh cửa sắt đóng sầm lại, đóng luôn cả cửa sống của con anh. Anh vội vã trở lại bệnh viện. Chỉ mới chưa đầy hai tiếng đồng hồ thôi, mắt thằng bé trũng sâu, lõm xuống, tay chân lạnh ngắt, đầu ngón tay nhăn nhúm teo tóp lại, nó thều thào, ú ớ nói không thành tiếng. Anh chỉ còn kịp nhìn nó co rúm người lại, vật vã, thở hổn hển, lịm đi, rồi chết.

Anh vừa dìu vợ đã lả người đi, vừa bồng xác đứa con xuống bến đò. Đi qua nhà thuốc Từ Nhân, anh nhổ toẹt một bãi nước bọt:

– Từ nhân gì? Ác nhân hay bất nhân thì có. Sát nhân mới đúng.

* * *

Mẹ lau nước mắt nhìn tôi:

– Con có một người anh trai, hơn con năm tuổi. Anh con đã chết như vậy đó.

Ông nội trầm ngâm:

– Thời buổi nó thế. Nhưng ở đời, có những điều không thể quên, có những điều nên quên, có những điều phải quên. Con có muốn nghe chuyện què chân của bố không?

* * *

Chị Nhiêu van vái:

– Lạy cụ Lý! Rước cụ lên giường ngồi, rồi con mới dám thân thưa ạ!

Cụ Lý mân mê hàng ria mép cá chốt, rồi lên chiếc chõng tre, ngồi chễm chệ:

– Được, xem chuyện gì nào.

– Không giấu gì cụ, thằng Tũn nhà con đã mười ba tuổi đầu, được nhờ rồi, nhưng vợ chồng con mới sinh thêm con Hĩm, xét mình không nuôi nổi nữa. Cúi xin cụ rủ lòng thương.

Cụ Lý đang cần một thằng ở để chăn trâu, điếu đóm. Nhưng cụ giả vờ:

– Lại thêm một miệng ăn, giữa lúc khó khăn…

– Con cắn cỏ lạy cụ…

– Thôi, cũng được, tao nhận cho. Nhưng tao nói trước, không được thì thôi ngay. Cái ăn thì con ăn kẻ ở ăn thế nào, nó ăn thế ấy. Cái mặc thì mỗi năm hai bộ quần áo vải dường bâu. Cấm mắt trước mắt sau, táy máy ăn cắp ăn trộm. Cấm nghỉ giữa chừng. Công việc thì nhẹ thôi: ngày, chăn trâu; tối, có việc gì lặt vặt thì làm…

Chị Nhiêu quỳ sụp xuống đất:

– Đội ơn cụ cho thằng bé nhà con được ăn mày miếng cơm manh áo nhà cụ. Đội ơn cụ cải tử hoàn sinh cho cháu, vợ chồng con xin kết cỏ ngậm vành…

Thế là thằng Tũn được đi ở, chăn trâu cho cụ Lý. Ông nhạc sĩ Phạm Duy viết bài Em Bé Quê: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ…” là ông viết tào lao, “ấm ớ hội Tề”, là lừa dối “giai cấp mục đồng” và lừa dối chính ông, là không biết gì về sự cực khổ, nhục nhằn của trẻ chăn trâu. Suốt ngày phơi người giữa trời bất kể nắng mưa. Chỉ vài vết chân trâu trong ruộng lúa của người, của nhà đến tai cụ Lý, đều được một trận đòn. Chưa kể những trận đánh nhau chí chóe, giành bãi cỏ với đám chăn trâu thôn khác. Tối về, chỉ cần hai lõm bên hai bạng con trâu không căng, cũng một trận đòn. Ấy là “thương cho roi cho vọt” đấy, còn không thương thì không biết thế nào.

Một buổi chiều đông rét căm căm, thằng Tũn dắt trâu vào chuồng, đóng cửa cài then lại. Nó vội vội vàng vàng đem bữa ăn của nó gồm nửa vắt cơm nắm, chút muối vừng, về cái ổ rơm trong chuồng trấu. Tấm thân gầy guộc của nó vừa làm ấm cái ổ rơm thì cụ Lý xuống tới, tỏ ra rất mực xót thương:

– Trời rét lắm phải không? Đi xay thóc đi, chỉ một cối thôi là người ấm ngay.

Trời lạnh cắt da, thế mà xay xong cối thóc, người thằng Tũn đổ mồ hôi hột. Nửa vắt cơm nắm chỉ cho nó đủ sức xay cối thóc kia thôi. Nó cảm thấy đói cồn cào. Chị Mẹo, người ở của cụ Lý đem mẻ thóc vừa xay đi sàng. Thằng Tũn quét quáy cối xay được dễ thường có đến một bụm thóc lửng. Không chống lại được cơn cám dỗ, nó bỏ vào cái mảnh nồi đất vỡ rang lên. Nó đang mường tượng sẽ được cắn chắt những hạt thóc rang thơm tho kia thì cụ Lý lù lù hiện ra:

– Biết ngay mà, mùi thóc rang xông lên đến nhà trên. Tũn! Mày đang làm gì vậy?

Nó lắp bắp:

– Con… Con… có làm gì đâu?

– Không làm gì à? Ăn trộm thóc, rang lên, sáng mai mang về nhà cho thằng bố mày đang ốm chứ gì?

Cụ hắt mấy hạt thóc rang còn nóng vào mặt thằng Tũn:

– Bay đâu. Trói thằng ăn cắp vào cót thóc cho tao.

Đêm ấy, thằng Tũn bị một trận đòn chí tử bằng đòn gánh. Nó bị đánh gãy chân. Sáng hôm sau, chị Nhiêu được gọi tới, cõng con về. Thằng Tũn bị lột hết quần áo, trần truồng, da thịt tím bầm, quặt quẹo trên lưng mẹ. Nó khóc, mẹ nó cũng khóc.

* * *

Ông nội buồn hiu hắt, nói với mẹ:

– Bố đã rắp tâm “Sống để bụng, chết đem đi”, nhưng đã đến nước này… Con biết thằng Tũn là ai không? Là bố đó. Còn cụ Lý là ông nội của con đó. Vì một nắm thóc lửng, ông nội con đánh bố què chân, tàn tật suốt đời. Rồi sau đó, cải cách ruộng đất, rồi di cư 1954, vật đổi sao dời, con là con dâu của bố, con thấy có khi nào bố có chút gì oán hận, đối xử không nên không phải với con không?

Rồi ông cười buồn:

– Chịu ơn thì không thể quên, làm ơn thì nên quên, oán thù thì phải quên. Bố nói vậy, con nghe có lọt tai không?

Mẹ im bặt một lúc lâu, nước mắt chảy dài trên hai gò má. Mẹ ôm tôi vào lòng:

– Mẹ cho phép đó. Con mời anh Ất ngày mai đến chơi, ăn cơm trưa với nhà mình.

Tôi mừng quýnh, mừng đến rơi nước mắt. Có phải mẹ đã quên điều phải quên không?





Người Nam bộ chúng tôi ít khi kêu tên khai sinh của nhau. Không biết từ bao giờ, chúng tôi kêu nhau bằng thứ, không có thứ nhất (cả) như ngoài Bắc, chỉ có thứ hai (lớn nhất), thứ ba, thứ tư… cuối cùng là thứ út. Ngày ấy, không có đôi vợ chồng nào bể kế hoạch, vì có kế hoạch đâu mà bể. Thế nên mới có những tên Đặng Văn Mười Một, Trần Văn Mười Hai, Nguyễn Văn Út Sót, Lâm Thị Út Mót, Lê Thị Út Em, Trần Thị Út Thêm, Huỳnh Thị Út Nữa…

Út Nữa là con của ông Út Tài Xế. Không ai biết tên thật của ông. Chỉ biết rằng ngày ấy ông chạy xe Lambro, rồi lên đời tậu con Daihatsu, chạy tuyến Sóc Ven – Minh Lương – Rạch Sỏi – Rạch Giá, nên người ta kêu ông là Út Tài Xế, từ đó ông chết tên luôn… Chị Út của Út Nữa chết sớm, nên cả nhà gọi Út Nữa là Út, vừa tiện, vừa gọn. Cha thứ út, con thứ út nên dù sinh sau đẻ muộn, vai vế của Út lớn lắm. Những đứa con của các anh Hai, chị Ba, anh Tư dù lớn tuổi hơn Út vẫn thuộc hàng con cháu. Không biết cả cái miền lục tỉnh này có vậy không, chứ riêng ở xã Định An, huyện Gò Quao này, hay ít ra ở nhà ông Út Tài Xế này, không có cô Út, dì Út, chị Út… mà chỉ có Út. Cha mẹ, các bác, cậu mợ, chú thím, dì dượng, hay các anh chị một điều Út, hai điều Út đã đành rồi, nhưng mấy đứa cháu lớn, nhỏ cũng chỉ kêu Út chỏng chơ thôi:


– Út à! Qua tía má con bàn công chuyện.

– Út đi Phú Quốc nhớ mua mực trứng về cho tụi con, ngheng!

– Út dạy con “Bài quên không ca”… Ủa! “Bài ca không quên” chớ!

Ngược lại Út cũng tự xưng là… Út:

– Con dạy Út bài toán này coi.

– Út nhờ con nói má qua cạo gió cho ngoại, ngheng?

– Chiều nay, mấy đứa chở Út đi nhà thờ với, ngheng?

Người ta kêu Út chỏng chơ, nhưng chan chứa yêu thương dành cho đứa con gái bé bỏng nhất nhà, và không phải vì thế mà thiếu sự kính trong. Mọi đứa cháu, và cả đám bạn của chúng, dù lớn tuổi hơn, cũng một điều Út, hai điều con. Chính Út cũng chấp nhận, coi đó là lẽ đương nhiên. Cho nên gần như Út không có bạn, nhất là bạn tri kỷ, tri âm. Có ai lại tâm sự riêng tư với đám con cháu bao giờ?

oOo

Thầy Tâm được bài sai đến giúp xứ kỳ hè. Thầy quê Vạn Đồn, người cao lớn, dễ thường có đến trên một mét bảy. Thầy mau mồm mau miệng, chào hỏi người già như cha mẹ, gần gũi giới trẻ như anh em, thân tình với thiếu nhi như con cháu. Thầy lăn xả vào công việc, mau mắn không chê vào đâu được. Có lần, ông Út Tài Xế nói đùa với Út:

– Bay coi! Phải nói là ông thầy Bắc Kỳ ấy nhanh nhảu mới đúng. “Nhanh” thì tía hiểu, nhưng “nhảu” là gì ta?

Gần như thầy Tâm được cả giáo xứ quý trọng. Cha sở cắt đặt thầy làm trợ úy xứ đoàn Thiếu nhi Thánh Thể. Khi sinh hoạt, thầy mặc áo trắng cộc tay đồng phục Thiếu nhi Thánh Thể, thắt khăn quàng trợ úy màu đỏ viền trắng, thánh giá trắng, coi mới trẻ trung, năng động làm sao. Các anh chị huynh trưởng quý mến thầy, có người coi thầy là thần tượng. Họ hài lòng về thầy, khen ngợi thầy nức nở. Riêng Út, cũng là một huynh trưởng, vắt óc mãi mới tìm được một câu nói về thầy, không biết có đúng không, nhưng Út cho là hay nhất: “Thầy mới uy nghi lồng lộng làm sao!” Rồi Út tự hỏi lòng: “Trên đời này, ngoài tía mình ra, có người đàn ông nào hơn được thầy Tâm không nhỉ?” Hình ảnh thầy lúc nào cũng lởn vởn trong tâm trí Út, nhất là trong lúc dỗ giấc ngủ, và cả trong mơ nữa. Có một thứ tình cảm mới lạ, nhẹ nhàng mà da diết, bâng khuâng mà tha thiết, ngọt ngào mà hiu hiu buồn trong lòng Út. Út bàng hoàng: “Hay là mình yêu? Thế có phải là tình yêu không?” Út giật mình: “Nhưng thầy Tâm đã được gọi làm linh mục cho Chúa. Mình tội lỗi quá! Lạy Chúa! Xin tha tội, thương xót và giải thoát con khỏi cơn u mê này”. Nhưng Út lại tự biện hộ: “Có gì đâu? Tình nghĩa thầy trò, anh em thôi mà”.

Nhân danh “tình nghĩa thầy trò, anh em” ấy, nhân dịp lễ kính Tổng lãnh Thiên thần Micae, bổn mạng thầy trợ úy, Út kín đáo cất công ra Rạch Giá mua một bộ đồ, áo Khataco, quần Việt Tiến, hết gần triệu bạc để tặng thầy. Buổi liên hoan mừng bổn mạng thầy xứ vui lắm, dù chỉ có bánh kẹo, nước ngọt. Anh chị em huynh trưởng tặng thầy một bó hồng bạch trắng muốt và tặng thầy những bài ca thấm đẫm tình Chúa, tình Mẹ, tình anh em. Thầy Tâm tặng lại mỗi người một xâu chuỗi. Cha sở, cũng là cha tuyên úy Thiếu nhi Thánh Thể, vốn là một nhà nho uyên bác, cũng là một nhà Phật học, tặng cho mỗi người phong bì nhỏ như bao lì xì ngày tết, trong đó có một mẩu giấy bé tí teo, viết một chữ như từ, bi, hỉ, xả, tâm, nhẫn, hiếu, đễ, trung, tín v.v… bằng chữ quốc ngữ theo kiểu thư pháp, kèm theo một câu Kinh Thánh. Thầy Tâm và Út cùng bắt được chữ BUÔNG và câu “Ai muốn theo Thầy, phải buông bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24). Mọi người vỗ tay như sấm. (Hình như cha sở sửa “từ bỏ” thành “buông bỏ”. Buông bỏ có vẻ dứt khoát hơn, gần ngôn ngữ nhà Phật hơn, mà đâu có sai?).

Xong tiệc liên hoan, mọi người đã ra về gần hết, Út rón rén gõ cửa phòng thầy xứ, lắp bắp:

– Thầy đừng chê ngheng! Con tặng thầy món quà nhỏ nhân dịp lễ kính thánh bổn mạng. Xin Thánh Micae gìn giữ thầy, cho thầy trung thành với ơn gọi…

Thầy Tâm sững người. Đây là lần đầu tiên trong đời, thầy được nhận một món quà như thế này, từ một người khác phái như thế này. Hơn nữa, thầy cũng đang cần một bộ quần áo mới. Xúc động đến run rẩy, thầy cũng lắp bắp:

– Cám ơn, cám ơn Út nhiều lắm…

Nhìn cô gái cao ráo, trắng trẻo, xinh đẹp, lúc nào cũng cười tươi, lại được tiếng hiền hậu, thùy mỵ, nết na đang ở trước mặt, thầy thầm nghĩ: “Phúc cho anh chàng nào được Chúa ban Út cho làm gia nghiệp”… Bốn mắt nhìn nhau, người này nghe được nhịp tim người kia, nhưng chẳng ai biết nói gì thêm. Họ đành vội vàng bắt tay chia tay. Có bóng một người đàn bà ngang qua khung cửa, hình như là bà Tám Dưa Lê.

Thầy Tâm khép hờ cánh cửa, lấy băng keo dán chữ BUÔNG ngay trên đầu giường, như một điều tâm niệm. Đúng lúc ấy thằng Chín, gọi Út bằng cô ruột, ào vào, hổn hển:

– Út ơi! Út à! Về, nội kêu. Ủa! Út có đây không, ông thầy?

Thầy Tâm nói:

– Út mới về xong. Tên thánh con cũng là Micae phải không?

– Dạ.

Một tia sáng lóe lên trong tâm trí thầy. Thầy đăm đăm nhìn vào chữ BUÔNG vừa dán trên đầu giường:

– Thầy có một món quà mừng bổn mạng con, được không?

oOo

Gặp ai, bà Tám Dưa Lê cũng bô bô:

– Mắt tôi nhìn thấy rõ ràng, con Út cầm tay thầy xứ. Còn sau đó ra sao, chỉ có Chúa biết. Ai cũng nói nó xinh đẹp, tài giỏi, thùy mị, nết na. Đâu ngờ nó là một con quỷ cái, sa tan sai tới cám dỗ ông thầy.

Cả câu chuyện và lời bình độc địa của bà Tám chưa đầy nửa trăm chữ, vậy mà nó lan ra khắp giáo xứ như một đám cháy rừng tràm. Người ta thêm mắm muối vào, rồi vẽ rắn thêm chân. Đến tai ông Út Tài Xế, những tưởng ông nộ khí xung thiên, nhưng không, ông dịu dàng bênh con:

– Con Út lớn rồi, nó tự chịu trách nhiệm về việc làm và về cuộc đời của nó. Không ai biết con hơn cha. Tôi mang cái đầu tôi bảo đảm con Út nhà tôi không bao giờ làm chuyện tầm phào, tầm bậy. Bắt tay thầy xứ là cái quái quỷ gì mà bà Tám Dưa Lê làm lớn chuyện dữ vậy?

Ông Út Tài Xế nói vậy, chứng tỏ ông thương yêu, hiểu biết và tin tưởng con gái út của mình xiết bao.

Khi đến tai thầy xứ, câu chuyện của bà Tám Dưa Lê đã thành một pho trường thiên tiểu thuyết. Thầy Tâm không biện hộ cho mình một câu nào. Tối hôm ấy, thầy quỳ hàng giờ trước Thánh Thể Chúa. Thầy xét mình, thầy cầu nguyện. Không ai biết thầy cầu nguyện những gì, được Chúa dạy bảo điều gì. Chỉ biết rằng, từ đó về sau, cứ bước ra khỏi phòng là thầy mặc áo dòng. Hình như thầy muốn nói với mọi người thì ít, nói với chính mình nhiều hơn, rằng: “Tôi đã chết, đã được tẫn liệm trong chiếc áo chùng thâm này. Tôi đã chết vì tôi không còn sống cho tôi, cho riêng ai nữa, mà chỉ còn sống cho Chúa, cho Giáo hội và cho tha nhân mà thôi”.

oOo

Thằng Chín sửa soạn đi đám cưới ngoài Sóc Ven. Nó chạy sang nhà ông Út Tài Xế, ông nội nó, kêu như cháy nhà:

– Út ơi! Út à!

– Có chuyện gì mà hớt ha hớt hải vậy?

– Út chụp cho con phô hình để con tặng thầy xứ.

Út nhìn thằng Chín từ đầu đến chân:

– Mau lớn dữ à! Phổng phao ghê ta! Đẹp trai đâu có thua gì ông nội ngày xưa. Ủa, mà ai may cho con bộ đồ mới vậy?

– Út không biết thiệt sao? Thày Tâm tặng con bữa mừng thánh bổn mạng Micae đó.

– Vậy sao? Hèn chi…

Út nhớ lại, “Hôm ấy mình lựa mãi mới ưng ý màu áo này, cái sọc ca rô này”. Bán tín bán nghi, Út lật cổ áo thằng Chín. “Khataco số 42”. Đúng y chang. Vậy là cái quần Việt Tiến khỏi kiểm tra. Đầu óc Út quay cuồng. Út giận trào nước mắt: “Mình mua cho ổng để ổng bận, chớ đâu phải để ổng cho người khác, lại cho ngay thằng cháu mình để dằn mặt mình. Ổng khi thường mình quá mất thôi”. Thằng Chín hỏi:

– Út sao vậy?

Út dối thằng Chín và dối chính mình:

– Út có sao đâu!

Đột nhiên Út nhớ tới chữ BUÔNG hôm nào. “Hơi đâu tức giận người dưng. Mình đã tặng thầy, là của thầy. Thầy muốn làm gì, cho ai là quyền của thầy mới phải chớ. Thôi thì mình vâng lời Chúa, buông bỏ hết cho thanh thản cõi lòng”. Út mím môi cười, dù chỉ là cười gượng.

oOo

Hết kỳ hạn giúp xứ ba tháng hè, thầy Tâm trở về đại chủng viện. Tiễn đưa thầy, đám ấu nhi và thiếu nhi khóc như ri; đám nghĩa sĩ, hiệp sĩ và huynh trưởng sụt sùi. Thầy Tâm bước ra khỏi cổng nhà thờ không một lần nhìn lại. Thầy “trong héo ngoài tươi” bỏ lại sau lưng tất cả, chỉ đem theo một chữ BUÔNG cha sở tặng thầy hôm nào.

Út không đi tiễn thầy. Út còn bận sống với chữ BUÔNG của riêng Út.

lão ngu



Con bé Minh Xuân toét mắt, thò lò mũi xanh ngày nào, hôm nay đẹp quá. Nó đẹp không phải vì suối tóc mây óng ả, chẳng phải vì cặp gò má phơn phớt hồng, cũng không phải vì đôi môi mọng đỏ như trái hồng đào cắt đôi, cũng không vì đôi mắt sáng long lanh, xanh biêng biếc, cặp kính cận 2,5 diop chẳng những không ảnh hưởng tới nhan sắc của nó mà còn có vẻ như tôn tạo nó thành người chững chạc, trí thức, có học. Nó đẹp, đơn giản vì nó vừa đến độ tuổi thanh xuân chín tới, trời cho như vậy, Chúa ban cho như vậy. Nó lại còn lộng lẫy vì hôm nay nó là cô dâu. Lúc cha chú rể cùng với mẹ cô dâu dẫn con đi chào bàn, chị Thùy mẹ nó hoan hỉ tới gần chỗ gã, nói với đôi trẻ cho mọi người nghe:

-Hai con chào ông ngoại đi. Không có ông, các con chẳng có ngày hôm nay đâu.

Thật ra giữa gã và mẹ con cô dâu không có chút máu mủ họ hàng nào. Gã pha trò:

-Thời nay, người Việt Nam mình ai cũng sính đồ ngoại. Trong khi lão, đồ nội 100%. Đương nhiên lão không là ông nội, cũng chẳng là ông ngoại. Ngại quá, ngại quá! Hay là cứ gọi lão là ông ngại được rồi… Con bé Minh Xuân được như hôm nay, lão mừng lắm. Mừng cho cháu Minh Xuân, cho hai cháu, cho hai họ và mừng riêng cho chị Thùy nữa.

Ồ nhưng mà, tại sao chị ấy lại nói: “không có ông, các con chẳng có ngày hôm nay đâu”? Gã chẳng cần nhớ lại, chẳng cần lục lọi ký ức, quá khứ cũng ào ạt hiện về.


Ngày ấy, lâu rồi, có đến hơn hai mươi năm, chị Thùy khóc vật vã như chưa bao giờ được khóc. Chị quỳ sụp xuống sàn nhà, ôm chân gã:

-Chú ơi! Con chết mất!

-Sao cơ? Ngồi lên, ngồi lên nào. Uống hớp nước đi. Bình tĩnh, bình tĩnh nào!

Gã đỡ chị dậy, rót cho chị cốc nước chè tươi:

-Sao nào, thế nào nào?

Chị Thùy lau nước mắt, vừa nấc vừa kể:

“Rằm tháng bảy ta là rằm lớn, lễ vu lan, ngày xá tội vong nhân, mùa báo hiếu phải không ạ? Mẹ con vẫn bảo: “Đi lễ cả năm không bằng ngày Rằm tháng Bảy”. Tro cốt mẹ con gởi nhà chùa. Con đi chùa thắp cho linh hồn mẹ con nén nhang, chú ạ! Lúc về, ông thầy bói ngồi ở lề đường, ngay cổng chùa vồ vập:

-Cô mới bị chồng bỏ phải không?

Khi đó gia đình con tan vỡ gần nửa năm trời. Con kinh ngạc:

-Sao thầy biết ạ?

-Đến đôi guốc, đôi dép còn có số má, nói chi con người? Để tôi gieo cho cô một quẻ. Tiền nhang đèn nhiêu nên nhiêu, dăm ba chục ngàn thôi.

Ông bảo con đặt tiền, gieo sấp ngửa âm dương, rồi xin xăm. Sau khi tra hỏi con kỹ lưỡng, lục lạo hết kinh này, quyển kia, ông kết luận:

-Tôi biết trước rồi, mà cũng như cô mới nói ra đó, cha cô trúng gió, anh chị em của cô, người thì gặp tai nạn, người thì bị tai biến, toàn chết bất đắc kỳ tử. Để coi, để coi, âm khí trên đầu trên trán cô nặng nề lắm, khuôn mặt cô u ám quá, tôi e rằng cô cũng chẳng hơn gì, cũng bất đắc kỳ tử thôi, khó lòng qua được con trăng này, cùng lắm con trăng nữa… Cô nói sao cơ? Muốn giải hạn này ấy à? Phải lập đàn cúng sao, để tôi chủ sự cho. Nhưng mà… Ui cha! Tốn kém đấy, không đùa được đâu.



Ông bấm đốt ngón tay, miệng lẩm bẩm:

– Trọn gói, hà tiện hết cỡ, rẻ nhất cũng phải hai mươi triệu, chỉ hai mươi triệu đồng thôi.

Con năn nỉ ỉ ôi:

-Đồng lương của con chưa bao giờ vượt qua mức một triệu một tháng, ông thầy bớt đi chút ít được không?

-Đâu có mặc cả, trả giá được. Mặc cả, trả giá, kì kèo bớt một thêm hai là bất kính, là vô lễ, xúc phạm tới quỷ thần, nghe không?”

*

Nghe chị Thùy kể, uất ức dâng lên làm gã nghẹn họng muốn ngộp thở. Gã lắp bắp trong bụng: “Quân sát nhân, thằng quỷ dữ! Hắn làm như hắn nắm quyền sinh tử trong tay, biết được, nắm trong tay ngày giờ sống chết của một con người. Trong khi quyền ấy ở trong tay Chúa. Mà cho dù hắn biết được ý trời chăng nữa hắn cũng không được quyền quên câu: “Thiên cơ bất khả lậu”. Vả lại đã là con người, hắn đâu được phép gieo tuyệt vọng vào lòng người phụ nữ đang nuôi con nhỏ này, để làm tiền…”

Gã quay sang chị Thùy:

-Chị có đồng ý để tôi coi cho chị một quẻ và giải hạn cho chị không?

Chị Thùy mừng như cha chết sống lại:

-Chú làm được ư? Hết bao nhiêu triệu hả chú?

Gã nghiêm nét mặt:

-Chị biết tôi là người Công giáo. Tôi sẽ xin một thánh lễ, xin Chúa ban cho cho hai mẹ con được hồn an xác mạnh. Nhưng chuyện thần thánh phải có lòng tin, phải trang nghiêm, không đùa giỡn được, bản thân chị cũng phải xin Ơn Trên phù giúp. Tôi sẽ nhận tiền của chị, năm trăm ngàn đồng thôi.

Gã nghĩ bụng: “Mình sẽ tìm cách gởi lại, bó buộc chị ta mua cái gì bồi bổ vì chị ta gầy yếu xanh xao quá.”

Rồi đóng vai một ông thầy bói, gã oang oang:

-Chị xòe bàn tay ra. Á đông mình thì nam tả nữ hữu, giai tay trái, gái tay mặt. Nhưng bên Tây bên U thì thuận tay nào tay đó là thiên mệnh, tay kia là nhân mệnh. Để coi, tay chị đầy đặn, dầy dặn lắm, nhiều thịt. Chị có số trường thọ. Gò thái dương sáng sủa thế này, thung lũng mặt trăng rõ ràng thế kia, các gò rãnh kim mộc thủy hỏa thổ đều tốt, các đường chỉ tay: Đường tình duyên hơi ngắn lại đứt quãng, không tốt lắm, chuyện vợ chồng phải biết nhường nhịn, có khi phải nhẫn nhục mới tránh được đổ vỡ. Còn đường sinh mệnh, đường học vấn, đường định mệnh, đường tử tức… đều tuyệt, siêu, rất… super. Tôi lấy cái đầu tôi cam đoan: chị có bị búa tạ đập cũng không chết, có nằm trên quốc lộ cả ngày xe cộ cũng không đụng đến… Ồ nhưng mà chị cũng vẫn phải tích đức đấy nhé! Đức thắng mệnh mà. Cụ thể chị làm cho tôi một việc, dễ thôi: hôm nay ở đây về, chị sắp xếp lại quần áo, giầy dép, sách vở. Món đồ nào đã mấy năm không dùng tới thì chị đem cho đi, cho người nghèo khó hoặc người thua kém mình, người mà mình từng ghét bấy lâu nay càng tốt, được không? Vừa rộng tủ, rộng nhà; vừa gom công góp đức.

Chị Thùy mừng tíu tít:

-Thật vậy hả chú? Chú đoán trúng được bao nhiêu phần trăm?

-Một trăm phần trăm. Nếu chị không tin, tôi xổ cho chị một quẻ bói Chu Dịch.

-Thôi, chú ạ! Con tin chú. Nhưng con sợ…

Chị nức nở:

-Con tin sinh tử có số. Nhưng con chỉ thương con gái con. Con sợ nếu con có bề nào, con bé Minh Xuân mới hai tuổi đầu sẽ ra sao, nương tựa vào đâu khi nó không còn một ai thân thiết trên cõi đời này?

Chị mở cái bọc ni lông đen ra:

-Con thú thật với chú: Đây là mấy ống thuốc diệt chuột Trung Quốc, không mùi không vị, con mới mua. Tối nay con sẽ đổ cho con bé Minh Xuân uống, xong rồi đến phần con…

Gã trừng trừng nhìn vào mấy ống thuốc, hai con mắt chữ o tròn nhưng mặt miệng méo xệch:

-Trời ơi! Đến nước này rồi sao? Chị ngốc nghếch đến thế sao? Chỉ chút xíu nữa thôi, chị trở thành một tên sát nhân, một con mụ giết người, lại giết đứa con mình cưu mang chín tháng mười ngày, mới rứt ruột đẻ ra, lại còn mấy năm bú mớm. Đưa mớ thuốc ấy cho tôi, và phải cam kết cố sống mà nuôi con, nghe không?

Còn chị Thùy ôm mặt, khóc rống:

-Vâng, con biết con có tội rồi. Chú ơi! Cứu con với.

*

Trên sân khấu, dàn nhạc đang hòa tấu thật nhẹ bài Ave Maria của Schubert. Chị Thùy đưa cho con rể ly rượu:

-Hai con chúc mừng ông ngoại đi. Hôm nào rảnh, mẹ dẫn các con đến thăm ông, nhờ ông coi cho hai con một quẻ, xem tương lai hậu vận thế nào. Đối với mẹ, ông là nhà tướng số vĩ đại nhất, tuyệt vời nhất, uyên áo nhất trên thế gian này, ông nhỉ?

Gã uống cạn ly rượu:

-Tôi nói thật nhá! Tôi chưa bao giờ coi tướng số cho ai cả. Ngày trước, tôi coi cho chị, chẳng qua tôi muốn giúp chị thoát khỏi cái bóng đè của tay thầy bói bất nhân ấy, và tôi muốn giúp chị vượt qua cơn khủng hoảng tâm linh tồi tệ lúc bấy giờ mà thôi. Hôm ấy, tôi chỉ là gã thầy bói bất đắc dĩ thôi.

Gã quay sang nói với cô dâu chú rể:

-Ngày cưới của hai con mà ông giảng moral thì chán chết, phải không? Nhưng ông bảo hai con này: Đừng tin vào bói toán, hãy tin vào bàn tay và khối óc của chính mình. Hãy nhớ: “Đời ta là do ta xây dựng”. Và hãy: “Nỗ lực rồi cậy trông”, các con ạ!


Được tạo bởi Blogger.