Thương tặng các em ở mái ấm Nhật Hồng

“Mẹ cho em đôi mắt màu đen
để thương, để nhớ, để ghen, để hờn
đôi mắt em là cửa sổ tâm hồn…”

Có một bài hát đã bắt đầu như thế. Vâng, đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, nhưng phải chăng khi không còn đôi mắt thì thế giới tâm hồn của người ta cũng bị khép lại ? Phải chăng những khiếm khuyết trên cơ thể cũng để lại những khuyết tật nơi tâm hồn?


Tôi đến ngôi trường khiếm thị này với tâm niệm mình là người “tôi tớ làm chứng về lòng thương xót của Chúa”. Dầu chỉ mới có vài ngày ngắn ngủi, tôi thấy mình đã bị đánh động, bị chất vấn và day dứt thật nhiều.

Ngày đầu tiên, tôi nhìn thấy cái trớ trêu của cuộc đời hiện rõ trên khuôn mặt các em. Tại sao bên trên những nụ cười hồn nhiên như thiên thần lại là những ánh mắt thất thần vô cảm, những hốc mắt đỏ lòm sâu hoắm hay những đôi mi kèm nhèm luôn khép kín?.. Cảnh đời của các em dẫn tôi đi vào cái éo le ngang trái, và thậm chí là bạc bẽo của cuộc đời. Đâu là cơ hội và chân trời hy vọng cho cuộc đời của các em ?

Có một lần cùng các em tiếp phái đoàn đến thăm và cho quà, một lời động viên vô tình làm tôi cảm thấy ngột ngạt và nhoi nhói đau như chính mình bị xúc phạm : “chúng con ráng học giỏi để khỏi trở thành gánh nặng cho xã hội…”. Phải thừa nhận rằng điều ấy đúng, nhưng sao phũ phàng quá ! Phải chăng bằng những danh từ hoa mỹ như : khuyết tật, khiếm thị, kém may mắn… chúng ta đã vô tình giản lược các em vào cái thế giới “bậc hai”, bản chất vốn là những của nợ, những gánh nặng …? Cái tâm thức vô tâm ấy có góp phần tạo nên lớp vỏ bọc tự ti, mặc cảm và khép kín nơi các em không?

Một lần tôi nhận được lời tâm sự bằng thơ, những vần thơ vụng về đến buồn cười, nhưng lại thực và bi đát đến không ngờ !
“…Đau đớn nào thay
là sự bất hạnh
từ nay đến mãi
sống trong bóng tối…”
“…nỗi buồn của con
chẳng ai nào biết…”

Đứng trước nỗi đau của các em tôi thấy mình bất lực. Tôi không thể là người bù đắp – lấy gì bù đắp được những mất mát của các em chứ ! – tôi chỉ là người đến để xin được cùng san sẻ nỗi đau.

Đi vào thế giới tâm hồn của các em là đi trên Đất Thánh. Đó là “Đất Thánh” của những bí mật, những khắc khoải, những mặc cảm tự ti, những vết thương lòng không thể nguôi ngoai… khi ấy, làm sao chúng ta lại có thể đánh giá các em một cách giản lược, máy móc được chứ ! Các em vẫn là những con người bình thường, đầy đủ và trọn vẹn như bao nhiêu người khác, dù thiếu đôi mắt!

Những giờ đồng hành cầu nguyện với các em mỗi ngày trước Thánh Thể, tôi có cơ hội để học nhiều điều. Tâm hồn tôi đã không ngừng rung động trước những lời cầu nguyện chân tình và quảng đại biết bao khi chứng kiến các em có thể vượt ra khỏi nỗi bất hạnh của riêng mình để cầu nguyện cho nhiều người khác: “Lạy Chúa, hôm nay đi học về con nghe thấy tiếng xe cứu thương. Con không biết trong xe là ai, nhưng con nghĩ chắc họ đau lắm ! Xin Chúa thương gìn người bị bệnh để họ được bình phục và gia đình họ không đau khổ”… “Lạy Chúa, con cầu nguyện cho các bạn nhỏ như con phải làm lụng vất vả, phải lang thang suốt ngày ngoài đường để đi bán vé số, đi đánh giày kiếm sống”… “Lạy Chúa, con xin lỗi Chúa vì ngày nay con làm biếng học quá, có biết bao nhiêu bạn nhỏ mơ ước có điều kiện học hành được như con mà không được, còn con có điều kiện, được các sơ các Thầy dạy dỗ yêu thương mà con lại làm biếng không chịu nghe lời. Xin Chúa cho con mỗi ngày một ngoan ngoãn hơn”….

Được sống với các em, được chứng kiến các em săn sóc cho nhau, tôi mới thấm thía thế nào là yêu thương san sẻ. Một em mù dùng bàn tay sờ soạng tìm miệng của một em bé khác để đút cơm cho, hình ảnh ấy tầm thường nhưng sao lại đẹp lạ lùng ! Tình thương được san sẻ tạo nên nét đẹp, nhưng đẹp tuyệt diệu hơn nữa là tình thương của những em kém may mắn dành cho những em kém may mắn hơn. Những gì các em trao ban có giá trị như những đồng xu của bà góa nghèo dâng cúng cho Đền Thờ (Mc 12, 41-44; Lc 21, 1-4). Còn tôi, phải chăng tôi đang lấy ra để tặng ban từ cái kho tàng dư dật của mình?

Các em mời gọi tôi nhìn lại mình để thấy đôi mắt, nói riêng, và cả con người tôi, nói chung, là một quà tặng quý giá biết bao! Thế mà tôi đã vô tâm phung phung phí quà tặng ấy cách không ngờ. Tại sao người chịu thiệt thòi không phải là tôi mà là các em chứ ? Nếu có cơ hội để chia sẻ cho các em những may mắn của mình, và san sẻ với những mất mát của các em, liệu tôi có dám không?

Cám ơn các em yêu quý đã dạy tôi những bài học đắt giá, đã bắt tôi phải không ngừng tự vấn lương tâm mình và trở về với thâm sâu cõi lòng mình để nhận ra Chúa đã yêu tôi và dành cho tôi biết bao là ưu tiên, dù tôi hoàn toàn không xứng đáng.

Cám ơn những tấm lòng quảng đại, hào hiệp đã sẵn sàng dang rộng vòng tay chào đón, ôm ấp và yêu thương các em, dẫn các em về để tạo nên một mái ấm đầy tình người, tình Chúa.

Nguyện xin Chúa mãi là nguồn an ủi, chở che, và luôn là người bạn đồng hành cùng các em giữa những lầm than vất vưởng. Xin dẫn các em ra khỏi bóng tối của cuộc đời để trở về với Chúa là ánh quang, là nguồn sáng muôn đời.


“Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin” (Tv 33:4).


Đây là 10 bài học từ ông Nô-ê và con tàu:
1. Hãy nhớ rằng chúng ta cùng ở trên một con tàu hoặc chiếc thuyền.
2. Hãy có kế hoạch. Trời không mưa nhưng ông Nô-ê vẫn đóng tàu.

3. Hãy sống khỏe mạnh. Khi bạn 600 tuổi, có thể có người sẽ yêu cầu bạn làm việc quan trọng.
4. Đừng để ý lời chỉ trích, hãy để ý công việc bạn cần làm.
5. Hãy xây dựng tương lai trên nền tảng cao.
6. Vì mục đích an toàn, đừng đi một mình, mà hãy hãy đi cùng với người khác.
7. Tốc độ không hẳn là thuận lợi, đôi khi dục tốc bất đạt. Chậm mà chắc. Con rùa vẫn thắng con thỏ.
8. Khi căng thẳng, hãy thư giãn một lúc.
9. Hãy nhớ rằng con tàu của ông Nô-ê được làm bởi những người không chuyên nghiệp, thế mà lại vững bền. Tàu Titanic được thiết kế bởi những người chuyên nghiệp, thế mà lại tan vỡ và chìm.
10. Mặc dù giông tố thế nào, khi Thiên Chúa ở bên bạn thì sẽ có cầu vồng bình an.

Sự khôn ngoan thực tế khả dĩ tìm được trong các câu chuyện trong Kinh Thánh. Câu chuyện về ông Nô-ê là một ví dụ điển hình. Rất cần thiết để chúng ta kiên trì đọc Kinh Thánh, nhưng thực tế khôn ngoan hơn đó là nghiên cứu Lời Chúa. Khi tìm hiểu Kinh Thánh sâu xa, Thiên Chúa sẽ làm tăng khả năng hiểu biết cho chúng ta.

Lạy Đấng tạo nên sự sống, xin tạ ơn Ngài về tặng phẩm Lời Ngài và chân lý vĩnh hằng trong Lời Ngài. Xin ban cho con sự hiểu biết nhờ Thần Khí Ngài khi con đọc và nghiên cứu những điều Ngài nói với con qua Kinh Thánh.

(chuyển ngữ từ STRENGTH for SERVICE to GOD and COMMUNITY)


XIN GÌ TRONG NGÀY CHÚA ĐẾN



Có những ca khúc Giáng Sinh sống mãi với thời gian. Đó là những ca khúc mà khi vang lên đã gợi trong ta biết bao ký ức, bao nhiêu là hoài niệm. Hằng năm lúc những hàng cây bên đường trụi lá, khi những cơn gió mùa đông se lạnh ùa về, đó đây vang lên những giai điệu của những ca khúc Giáng Sinh quen thuộc. Cũng là những ca khúc Giáng Sinh nhưng mỗi nơi mỗi vẻ khác biệt. Nơi giáo đường nhạc được tấu lên bởi tiếng dương cầm du trầm bổng cùng dàn hợp xướng nhiều bè; Từ các xóm đạo nhạc là những ca khúc bình dân, gần gũi. Ở các trung tâm mua sắm nhạc nhộn nhịp, réo rắt theo những bước chân vội vã. Nơi quán xá vang lên những ca khúc trữ tình với lời nguyện ước chung đôi...


Trong những ca khúc ấy, bất kể tiết tấu nào, dù vui tươi hay lắng đọng thì vẫn thường chung một mẫu số, đó là nguyện ước bình an. Ta có thể thấy điều này trong ca từ của bài hát Joy To The World (Niềm vui cho thế giới) của G.F. Handel: “Tiếng muôn thiên thần hỉ hoan ca mừng. Lừng vang đồng xanh đêm vắng. Chúa sáng danh trên trời.Chúc thái an cho đời. Người người dạt dào niềm vui. Đất trời ngợp đầy hạnh phúc. Trong giờ phút linh thiêng. Chúa Con ra đời”. Hay ở điệp khúc trong bài Mary's Boy Child (Đi tìm Chúa tôi) của nhóm Boney M: “Vinh danh Chúa khắp ngàn tầng cao. An bình trần thế ngay lành. Hang lừa tối tăm trong máng rơm hèn. Đơn nghèo vua Trời Chúa ta”. Với Silent Night ( Đêm Thánh Vô Cùng) thì nguyện ước thẳm sâu ấy lại được thể hiện qua những giai điệu du dương, thánh thiện. Để rồi mỗi khi từng nốt nhạc ngân lên, trong ta như hiển hiện hình ảnh về một làng quê yên bình tận nước Áo xa xôi cách đây gần 200 năm trước. Dường như sự yên bình ấy đã khiến lòng người dễ dàng hướng đến Trời cao.

Với thánh ca Việt Nam, có lẽ nhạc sĩ Hải Linh đã tiên phong thể hiện triết lý này trong ca khúc Hang Bê lem vào thập niên 40 của thế kỷ trước: “Nửa đêm mừng chúa giáng sinh ra chốn nhân trần. Người đem ân phúc xuống cho muôn dân lầm than. Nơi hang Bê lem thiên thần sướng ca. Thiên chúa vinh danh chúng dân an hòa”. Ngày nay chúng ta có thể nhận ra chiều hướng sáng tác ấy qua các ca khúc như: Đêm Nay Noel Về của nhạc sĩ Xuân Thảo: “Ðêm nay Noel về, người ơi hãy vui lên. Hợp câu kinh tiếng hát, hợp lòng với thiên thần. Ðêm nay Noel về, người ơi hãy vui lên. Bình an cho nhân thế, người người sống tin yêu”; Ca khúc Mưa Hạt Cứu Rỗi của nhạc sĩ Thông Vi Vu: “Vinh danh Thiên Chúa khắp cõi Trời. An hoà nhân thế đời thảnh thơi. Ngày từng ngày niềm hạnh phúc đã khơi .Lòng hẹn lòng vun đắp đời đẹp tươi”; Và trong ca khúc Ngàn Ánh Sao Đêm của nhạc sĩ Lê Minh Hoàng: “Ngàn vạn tinh tú soi sáng khắp trần gian. Tình người bên nhau chia sẻ những lúc ưu phiền. Yêu mãi yêu từng lời cầu chúc nhau. Chúc nhân loại an lành vui mùa Noel”.

Chúa đã đến cách đây hơn hai ngàn năm và vẫn đang đến với mỗi người chúng ta trong từng biến cố của cuộc đời. Chính Chúa Giêsu đã để lại bình an của Ngài như lời đã hứa: "Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con." (Ga 14,27). Và trong thánh lễ ta nhận được nhiều lần lời chúc bình an từ linh mục chủ tế: “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”, “Lễ xong chúc anh chị em ra đi bình an”…Thế nhưng sao ta vẫn chưa thấy được bình an trong tâm hồn. Sao ta vẫn khắc khoải kiếm tìm ơn bình an trong cuộc sống?

Bởi lẽ bình an chính là thông điệp đầu tiên được các thiên thần tung hô trong một đêm lạnh giá ở Bê lem khi Con Thiên Chúa đã sinh ra làm người trong máng cỏ đơn sơ: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Bình an là khát vọng của loài người một khát mong vượt qua mọi lãnh thổ, mọi biên giới; vượt qua những khác biệt về màu da, về ngôn ngữ; vượt qua cả không gian và thời gian.

Thế nhưng cuộc sống hôm nay đã mang đến cho ta quá nhiều những nỗi bất an. Bất an bởi những lo toan cơm, áo, gạo, tiền; Bất an bởi ta bị cuốn theo những vòng xoáy tưởng chừng như vô tận của những toan tính nhỏ nhoi, những ước muốn ngông cuồng. Thế giới mỗi ngày vẫn ngập tràn những cuộc tranh chấp, xung đột đẫm máu. Không phải vô tình khi trên các nấm mộ người ta thường ghi dòng chữ R.I.P như lời cầu chúc “Hãy yên nghĩ trong an bình”. Nói khác hơn, người ta chỉ có thể có được sự bình an đích thực trong tâm hồn khi không còn ưu tư hay bám víu vào bất cứ một điều gì khác.

Không phải bất kỳ ai cũng có được sự bình an của Chúa khi Ngài đến, nhưng chỉ có những ai thành tâm, thiện chí mà thôi. Trước tiên, các mục đồng được bình an khi thấy rằng Đấng Cứu Thế không phải là người xa lạ, nhưng thật gần gũi với họ, khi Ngài chọn sinh ra trong nơi ở của súc vật. Chiêm ngắm Hài Nhi, các mục đồng có thể yên tâm rằng, Con Thiên Chúa chắc chắn cảm thông được thân phận bé nhỏ của họ, Ngài là người thuộc về họ. Con Thiên Chúa đã chấp nhận sinh ra trong cảnh nghèo và luôn trung thành với lề luật của Thiên Chúa. Còn chúng ta lại luôn than thở và trách móc, bất mãn về cảnh sống của mình. Thậm chí, chúng ta còn nhân danh cái nghèo để vi phạm lề luật của Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đã đi hết hành trình cuộc sống với tất cả nỗi buồn vui, âu lo và trăn trở. Chẳng ai hiểu chúng ta bằng Ngài. Ngài chẳng xa lạ với những gánh nặng của cuộc sống chúng ta. Ngài đến để cùng chia sẻ kiếp người với chúng ta, để có thể dẫn đưa chúng ta về với Thiên Chúa. Ngài đã sống trọn vẹn thân phận của một con người, chỉ trừ tội lỗi (x. Dt 4, 15). Không có gì của con người mà lại xa lạ với Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đã sống trọn vẹn từng phút giây của cuộc sống con người một cách bình an.

Hêrôđê đã mất bình an vì Chúa đến, thực ra là ông chưa hề có bình an và sự ra đời của tân vương mới của Ít-ra-en, càng khiến ông bất an. Để có được thứ “bình an giả tạo”, ông đã tắm máu biết bao trẻ nhỏ vùng Bêlem. Những ông bà chủ của những quán trọ đã từ khước sự bình an của Con Thiên Chúa khi chẳng muốn biến quán trọ của họ thành nhà hộ sinh vì Maria đã sắp lâm bồn. Con Thiên Chúa xuống thế làm người, dầu có ở trong hang đá máng lừa, vẫn còn may mắn hơn bao thai nhi vô tội ấy, khi Ngài có cơ hội mở mắt chào đời trong sự yêu thương và bảo bọc của mẹ cha.

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, Chúa đến và sẵn sàng ban bình an cho con người, nhưng chúng con không muốn đón nhận vì thích những bình an giả tạo từ tiền bạc, quyền lực, và dục vọng hơn. Xin cho chúng con cảm nhận thật sâu sự bình an đích thực của Chúa, sự bình an đến từ sự hủy mình ra như không, chỉ vì yêu. Chỉ khi cảm được sức nóng từ ngọn lửa tình yêu của Chúa, chúng con mới đủ can đảm nói không với những bất an phù phiếm và chóng qua ở đời này, để dám yêu Chúa và để Chúa yêu mình, ngõ hầu bình an đích thực của Chúa sẽ ngự trị cõi lòng chúng con Giáng Sinh năm nay.

Chung Thanh Huy
(Tác giả gửi bài về BBT)

Một lần nọ, sau khi ban Bí Tích Thêm sức cho một họ đạo xong, sau Thánh Lễ là phần chụp hình. Chả hiểu cung cách chụp hình như thế nào để rồi hôm ấy Đức Cha không vui.

Trong buổi gặp gỡ anh em linh mục trong giáo phận, Đức Cha cũng bày tỏ sự ái ngại về việc chụp hình. Đức Cha rất vui khi cộng đoàn tín hữu quý mến và chụp hình chung kỷ niệm. Thế nhưng chụp như thế nào và chụp để làm gì đó mới là điều đáng nói.



Không phải chỉ một Đức Cha đó, mà còn Đức Cha kia ngài cũng không vui khi giáo dân chụp hình. Có lẽ Ngài cũng đã hơn một lần “gặp nạn” nên từ ngày đó nói đến chuyện chụp hình với Đức Chà là chuyện không tưởng. Ai nào đó mon men đến gần để chụp là tự động Đức Cha lãng đi chỗ khác. Tế nhị không nói gì, không giải thích và đi chỗ khác cho nó lành. Nếu thật sự là kỷ niệm chắc có lẽ chẳng có gì đáng nói nhưng đàng này không phải là kỷ niệm mà là ... khoe mẽ.

Cũng tội nghiệp cho văn hóa của Việt Nam : “Một người làm quan cả họ được nhờ” hay là “nhất thân nhì thế” để rồi nhiều tấm hình vô tội vạ của các đấng các bậc được dung dăng dung dẻ chạy trên mạng.

Có chủ tiệm vàng, kéo được các đấng đến làm phép cho tiệm vàng của mình ở trung tâm thương mại lớn. Họ không nghĩ đó là vì vị nể, đó là ơn phúc mà lại cho ngay lên mạng xã hội để chứng minh đẳng cấp của mình. Chỉ đến khi có vài người không ngại giận hờn đã góp ý thì những bức hình đó được gỡ xuống.

Đã không ít lần, nhiều người vui vẻ khi chụp chung với Đức Cha này, Đức Cha kia trong bối cảnh hết sức tế nhị cũng cho lên mạng. Có lẽ vui, có lẽ vô tình chứ không cố ý nhưng chính vì sự vô tình hay không cố ý đó đã gây hại khôn lường. Chính vì thế, chuyện xin chụp hình với các đấng các bậc ngày hôm nay càng tế nhị hơn nữa.

Cũng tội nghiệp cho các Đấng lắm chứ! Không cho chụp thì bảo sang chảnh và chơi với đại gia và chỉ chụp với đại gia. Còn khi cho chụp thì chưa đầy 1 phút sau hình của mình nhan nhản bay trên mạng.

Trên mạng xã hội, đã không ít lần cộng đồng thấy được những tấm hình lẽ ra không nên thấy. Thế nhưng nó cứ như chọc vào mắt người ta để rồi bao nhiêu lời không tốt.

Còn nhớ một Thánh Lễ giỗ cho một bà kia, gia đình chả có con cháu đi tu gì cả, nhưng vì ân vì tình nên hiện diện trong Thánh Lễ đó hơn chục đức cha và ngoài một trăm cha. Thật ra Lễ đó như thế nào chả ai biết, chỉ trừ những người dự Lễ đó biết nhưng rồi cũng vì khoe mẽ nên những bức hình đó lan đi rất rộng. Để hiệp thông cầu nguyện đâu không thấy, chỉ thấy toàn những lời dèm pha và thậm chí cả những lời ai oán khi các đấng các bậc đồng tế quá đông với gia đình đó. Ngược lại, những gia đình nghèo thì chẳng đặng đừng các đấng mới đến. Rất tế nhị nhưng gia chủ dường như không chịu hiểu cái tế nhị đó và làm cho các đấng vào thế kẹt.

Và, nhiều người quên đi cái nguyên tắc và đạo đức truyền thông cũng như chủ sở hữu hình ảnh. Giả như mình chụp hình với ai đó mà chính bản thân người đó không thích xuất hiện trên mạng thì mình cũng không được đưa hình người đó lên mạng.

Đâu phải mình có hình người khác là cho họ lên mạng một cách vô tội vạ. Phải xin phép chủ nhân của hình trước khi tung lên mạng chứ không phải chuyện đùa. Tiếc thay có những người vô tư đến độ chụp lén cảnh sinh hoạt đời thường để đưa lên mạng mua vui cho người khác. Điều này cực kỳ tế nhị nhưng rồi một số người đã phạm phải.

Tưởng nghĩ cũng nên nhớ các Đấng là người của công chúng. Dù sao đi chăng nữa cũng phải giữ kẽ dùm cho các Đấng. Đừng thấy các Đấng giản dị bình dân mà “đè đầu đè cổ” và thậm chí coi thường.

Sẵn nói thì nói luôn, “của cho không bằng cách cho”. Nguyên lý sơ đẳng mà đứa bé được học trong tiến trình bắt đầu học làm người. Ấy vậy mà nhiều người quên béng đi bài học vỡ lòng ấy.

Cùng lắm chia sẻ cho cha đó, đức cha kia một quãng đường, ấy vậy mà cứ dong dõng la to : “Tôi nuôi cha đó đó ... tôi lo cho đức cha đó đó ...”. Có người thích đi mua cái mũ sọ cho các đức cha. Các đức cha đơn sơ nhận lấy vì lý do tế nhị và chẳng đặng đừng. Gặp ngay chủ nhân khéo nói :”tao nắm đầu các đấng ...”. Có thể là nói vui thôi nhưng phải giữ mồm giữ miệng và giữ thanh danh cho các Ngài.

Cũng người đó không ngại ngần nói : “Tôi bảo 2 cha đó lo cho Đức Cha đó trong 1 năm mà không lên 5 ký là tôi cách chức !”.

Lối ăn nói sống sượng chả ai chấp nhận được ấy vẫn cứ canh cánh bên một số Đức Cha. Vì lý do tế nhị hay chưa tiện nói để rồi người đó cứ mãi sống sượng và lên mày lên mặt vì ta đây có uy với các đức cha.

Hình ảnh, quà cáp ... tất cả những gì đụng đến các Đấng xin hãy vô cùng kín kẽ và tế nhị. Có gì thì để ta với ngài biết mà thôi, đừng khua chiên múa mõ hay đừng khoe mẽ những tấm hình lẽ ra không xuất hiện trên mạng để làm chi.

Những ước mong chúng ta trân quý các Đấng thì trân quý cho trọn, xin đừng để vài tấm hình hay chút quà biếu mà làm cho các Đấng phải bận lòng.

Nếu như không có chuyện khoe mẽ hình ảnh thì chắc chắn các Ngài không bao giờ khó chịu hay lãng đi nơi khác khi con chiên của mình đến xin chụp hình ...

BÀI HỌC VỀ SỰ DẬY MEN TIN MỪNG TẠI HÀN QUỐC
CHIA SẺ NHÂN DỊP TỔNG HỘI LEGIO MARIAE
NGÀY 05-12-2017 TẠI QUI NHƠN



Những chia sẻ của các đơn vị đa số đều tập trung vào việc đem lại bình an và hy vọng cho những người và những gia đình đã có một đôi chút quá khứ Công giáo nào đó. Chưa có mấy đại biểu nêu sáng kiến về việc trực tiếp loan báo Tin mừng cho lương dân. Thường thì khi gặp gỡ anh chị em lương dân, chúng ta dừng lại quá lâu với những nhập đề loay hoay với các lập luận nhân loại. Thế nhưng kinh nghiệm dậy men Tin mừng tại Hàn Quốc dạy chúng ta hãy mạnh dạn bắt đầu bằng chính lời Chúa. Đúng như lời trong thư gửi tín hữu Hipri: “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người” (Hr 4,12).


TIN MỪNG VÀO HÀN QUỐC


Vào năm 1603, Yi Gwang-jeong, nhà ngoại giao Hàn Quốc, từ Bắc Kinh trở về mang theo Kinh thánh và nhiều sách thần học của giáo sĩ Matteo Ricci, một nhà truyền giáo dòng Tên đang giảng đạo tại Trung Quốc. Ông phổ biến các thông tin trong sách và gieo những hạt giống đầu tiên của Kitô giáo trên đất Hàn. Năm 1758, tức là sau một thế kỷ rưỡi, vua Yeongjo chính thức cấm đạo Công giáo. 25 năm sau đó, năm 1785, một nhà ngoại giao khác là ông Yi Seung-hun được ơn thánh tẩy và hô hào phát triển Đạo, nhưng rồi đàn áp và bách hại lại xảy ra vào những năm 1801 về sau, và nhiều người đã được phúc tử vì đạo.

Nhà truyền giáo Tin Lành đầu tiên vào Hàn Quốc là Horace Newton Allen, năm 1884, sau ông Yi Gwang-jeong 281 năm.

CUỘC CHẠY ĐUA


Vào năm 1945 cả hai hệ phái (Công giáo và Tin Lành) chiếm khoảng 2% dân số. Sau đó họ tăng trưởng rất nhanh: Năm 1991, có 18,4% dân số (8,0 triệu) là Tin Lành, và 6,7% (2,5 triệu) là Công giáo. Giáo Hội Công Giáo đã gia tăng thêm 70% trong vòng mười năm qua. Anh Giáo ở Hàn Quốc cũng đã tăng trưởng đáng kể trong những thập kỷ gần đây...

Các Kitô hữu đã có ảnh hưởng quyết định trên nền giáo dục với 293 trường học và 40 trường đại học do họ điều hành, kể cả 3 trong số 5 tổ chức học thuật thế giá nhất.

Trước chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), hai phần ba Tin Lành Hàn Quốc sống ở miền Bắc, nhưng sau đó hầu hết chạy trốn vào Nam. Vào cuối những năm 1960 đã có khoảng một triệu người Tin Lành ở Hàn Quốc, nhưng trong quá trình giai đoạn bùng nổ kết thúc vào năm 1980, số người Tin Lành tăng nhanh hơn so với bất kỳ quốc gia nào khác. Năm 2005 điều tra dân số của Hàn Quốc cho thấy 29,2 phần trăm dân số là Ki tô hữu, tăng từ 26,3 phần trăm của mười năm trước đó.

Hàn Quốc hiện đang cung cấp số lượng nhà truyền giáo Kitô lớn thứ hai trên thế giới, qua mặt cả Hoa Kỳ. Trong năm 2000, đã có 10.646 nhà truyền giáo Tin Lành Hàn Quốc ở 156 quốc gia, cùng với một số các nhà truyền giáo Công giáo tương ứng. Một bài báo năm 2004 cho biết "Theo các tổ chức truyền giáo ở Hàn Quốc và phương Tây, Hàn Quốc đã cử hơn 12.000 người truyền giáo đến hơn 160 quốc gia so với khoảng 46.000 nhà truyền giáo người Mỹ và 6.000 nhà truyền giáo người Anh". Theo một bài báo năm 2007 "Hàn Quốc có 16.000 nhà truyền giáo đang làm việc ở nước ngoài, chỉ đứng sau Mỹ". Năm 1980, Hàn Quốc gửi đi chỉ mới 93 nhà truyền giáo nhưng vào năm 2009 đã lên đến khoảng 20.000 người.

ĐI TỪ CẢM NGHIỆM BẢN THÂN


... Kitô giáo tại Hàn Quốc đã bắt đầu như một phong trào giáo dân bản địa chứ không do một nhà truyền giáo nước ngoài đưa tới. Đây là một lợi thế bất ngờ. Đạo Chúa đã khởi đầu rộng khắp tại Hàn Quốc do nỗ lực của thường dân, cho nên nó lây lan trong dân chúng nhanh hơn hẳn việc rao giảng bắt đầu từ các giáo sĩ như các nơi khác.

Mọi việc xảy ra tương tự như khi người ta bất ngờ tìm ra một phương thuốc hữu hiệu vừa chữa lành vừa ngăn ngừa được một chứng bệnh đang hoành hành khắp trong dân gian. Chính những người được chữa lành đã loan truyền cho những người khác, hô hào những kẻ đang mắc bệnh nên mau đi tìm loại dược thảo ấy để chữa bệnh. Người ta còn vận động nhau gieo trồng thứ dược thảo ấy, nhân nó lên thật nhanh để đáp ứng kịp thời cho mọi người.

Như đã nói trên, trước sự kiện Nước Mặn của Giáo phận Qui Nhơn 15 năm, một nhà ngoại giao Hàn Quốc là ông Yi Gwang-jeong, từ Bắc Kinh trở về quê nhà, đem theo Kinh thánh và nhiều sách vở Kitô giáo khác, phổ biến các thông tin trong sách và gieo những hạt giống đầu tiên của Kitô giáo trên đất Hàn. Người ta đọc sách, cảm nghiệm, nghiền ngẫm, đem áp dụng vào đời sống, thấy nó rất ích lợi cho bản thân và gia đình cho nên hết người này tới người kia mách bảo nhau tìm đọc và học hỏi… Không phải mãi đến cuối thế kỷ XX mới có chuyện tại Hàn Quốc mỗi gia đình Công giáo nỗ lực đem về cho Chúa một gia đình mới. Kinh nghiệm ấy đã bắt đầu ngay từ đầu, hơn 400 năm trước đây, bằng cách phổ biến sách vở. Thế rồi sau đó đang khi người Công giáo lơ là với việc ấy thì cuối thế kỷ XIX, năm 1884, anh em Tin Lành đã khởi sự công cuộc rao giảng tại Hàn Quốc và lặp lại cùng một kinh nghiệm ấy, cách có kế hoạch và hệ thống hơn cho nên đã đạt kết quả nhanh hơn. Chỉ 107 năm sau, vào năm 1991, đang khi số tín hữu Công giáo chỉ mới được 2,5 triệu, số tín hữu Tin Lành đã lên tới 8 triệu người, chiếm gần 1/5 dân số Hàn Quốc!

CÔNG CUỘC CỦA THIÊN CHÚA


57 năm trước, tôi vào chủng viện Làng Sông thì được biết số tín hữu Công giáo chiếm 10% dân số người Việt. Hiện nay, tỉ lệ ấy tuột xuống dưới 7%. Chúng ta tuột dốc đang khi cộng đồng Kitô giáo Hàn Quốc tiến lên. Tại đâu? Tại vì hai bên theo đuổi hai đường lối trái ngược.

Người Hàn bắt đầu từ Kinh thánh và các sách dẫn giải Kinh thánh, nhờ đó họ gặp được Chúa Kitô và sống hạnh phúc trong Ngài, sau đó họ chia sẻ kinh nghiệm của mình cho người bên cạnh. Mãi lâu sau họ mới tìm cách bắt liên lạc với Hội Thánh Chúa, gửi thư sang Rôma xin Tòa Thánh sai linh mục đến giúp. Còn chúng ta thì ngược lại: Mời người ta vào Hội thánh nhưng không trao tặng kinh nghiệm gặp Chúa, chúng ta có nói về Chúa Kitô nhưng hình như chưa đặt nặng vấn đề giúp người ta thực sự gặp Chúa trong cầu nguyện, và họa hoằn mới nói về việc đọc và sống theo lời Kinh thánh.

Bắt đầu bằng việc lắng nghe và sống theo Lời Chúa, người Kitô hữu Hàn Quốc hưởng ứng công cuộc của Thiên Chúa chứ không theo đuổi một kế hoạch nhân loại. Còn chúng ta, khi bắt đầu bằng việc thuyết phục người khác vào Đạo, chúng ta vô tình biến công cuộc của Thiên Chúa thành công cuộc nhân loại. Chúng ta loay hoay thả lưới cả đêm vất vả, không bắt được con cá nào. Còn người Hàn nhờ biết vâng theo lời Chúa dạy mà bắt được cá đầy ắp, thuyền nào thuyền nấy đều gần chìm.

Văn hóa đọc đang tuột dốc, hiện nay số người đọc sách tại Việt Nam chỉ còn 1/10 dân số, khiến ta nản lòng không còn nghĩ tới việc chia sẻ đức tin bằng sách vở. Dù vậy, muốn cho việc loan báo Tin mừng là một công cuộc của Thiên Chúa, dứt khoát ta vẫn phải bám vào việc cổ võ đọc sách, trước hết là Sách thánh, bởi vì giáo lý mạc khải được ghi trong Biblos/Bible/Quyển Sách. Kinh thánh có nghĩa là Quyển Sách.

Ta thường than phiền về tiến độ quá chậm của việc loan báo Tin mừng tại Việt Nam hiện nay. Thế nhưng có lẽ cần nhìn lại cách làm việc của chúng ta. Hãy thể nghiệm lại tiến trình dậy men Tin mừng của Hàn Quốc ngay tại Giáo phận chúng ta. Chúng ta đã dành rất nhiều tiền cho việc xây cất cơ sở, tượng đài, tường rào, cổng ngõ, cho lễ hội, rước xách, tiệc tùng, nhưng chưa quan tâm đầu tư đủ cho việc phổ biến Kinh thánh và các sách vở Công giáo? Anh chị em sẽ hỏi ngay: Có ai đọc đâu cha? Hỏi như thế hoặc chỉ là do suy bụng ta ra bụng người, hoặc chỉ vì chưa đủ tin vào ơn Chúa. Hãy chân thành hỏi bạn hữu và hàng xóm: “Ai trong các bạn muốn có một quyển Tân Ước, xin cho biết. Chúng tôi rất sung sướng được trao tặng mỗi người một quyển.”

Trao Kinh thánh và sách vở Công giáo vào tay anh chị em lương dân là trách nhiệm của chúng ta. Còn chuyện họ đọc thế nào và bao giờ họ đọc là việc của Chúa. Sẽ đến lúc Thiên Chúa nhắc họ đọc và giúp họ cảm nhận. Hiểu ra rồi, họ sẽ òa lên sung sướng, chạy nhốn nháo khắp nơi la lớn lên rằng chỉ có Thiên Chúa mới là nguồn hạnh phúc đích thật, chỉ có Chúa Giêsu mới là Đấng Cứu thế giải thoát mọi người.

Bất cứ ai đích thân cảm nghiệm được thông điệp của Chúa trong Kinh thánh cũng đều lập tức trở thành Tông đồ. Đây là điều chúng ta chưa để ý đủ.

Chúng ta hãy quảng đại tặng sách và hãy tha thiết cầu nguyện cho người nhận sách để họ đọc và cảm nghiệm. Quan trọng hơn, muốn cho lời nguyện ấy được Thiên Chúa nhậm lời, ngay từ hôm nay, chính chúng ta hãy bắt đầu lại một chương trình đọc Kinh thánh hằng ngày. Mấy ai trong chúng ta trong năm qua đã tự nguyện đọc và nghiền ngẫm Tân ước và các sách vở Công giáo khác? Hãy bắt đầu từ chính mình rồi cầu nguyện cho anh chị em lương dân, nhất định chúng ta sẽ được Thiên Chúa nhậm lời.

Kinh nghiệm truyền giáo của Giáo hội Hàn Quốc, cả Công giáo lẫn Tin Lành, là kinh nghiệm bắt đầu từ chính mình. Chúng ta đã bắt đầu từ chính mình như thế nào? Thôi, đừng chần chừ nữa, hãy khởi sự lại ngay từ hôm nay.

Buồn vui chuyện ngồi tòa


Ngày nào con người chúng ta thôi đừng hùng hổ tìm cách ném đá vào đầu nhau, vào mặt nhau, vào đời nhau, nhưng ngược lại biết đến với nhau bằng tấm lòng biết xót thương như Chúa Giêsu vẫn luôn xót thương chúng ta, khi ấy xã hội chúng ta sẽ vui biết mấy, Hội Thánh chúng ta mừng biết mấy, còn cánh Linh Mục chúng tôi thì... khỏe hơn, đỡ khổ hơn biết mấy!


Những ngày cận kề Tam Nhật Thánh này, anh em Linh Mục chúng tôi xoay như chong chóng, đặc biệt là trong việc ngồi Tòa Giải Tội. Lo tại nhà, lại chạy đi các nơi hỗ trợ các Giáo Xứ bạn, “chia lửa” với các cha quen. Dùng động từ “chia lửa” nghe ghê quá, cứ như là đi đánh trận không bằng. Thế nhưng ngẫm nghĩ kỹ, quả thật, mỗi phiên ngồi Tòa Giải Tội, chúng tôi thấy căng thẳng quá, phải nghe bao nhiêu thứ tội lỗi của cuộc đời. Mệt không phải do ngồi lâu tê chân mỏi lưng, mà mệt vì... buồn, thậm chí gặp trường hợp kinh thiên động địa, bị ám ảnh, không khéo lại rơi vào khủng hoảng, chấn thương nội tâm và xói mòn ơn gọi Linh Mục!


Khổ nỗi, suốt 40 ngày Mùa Chay, người ta đi xưng tội rất ư là thưa thớt. Đến cuối Mùa Chay, sợ không còn kịp nữa, người ta đổ xô đến Nhà Thờ, xếp hàng hai kéo dài thành nhiều chuỗi trong Nhà Thờ, có khi tràn ra hành lang, ra cả ngoài sân. Ngồi trong Tòa, thỉnh thoảng thò đầu ra quan sát, thấy chuỗi người hình như chỉ có dài thêm ra chứ không thấy bớt đi. Đến khi đã được gần hai tiếng đồng hồ, tai ù không còn nghe rõ lời thú tội của người ta, cổ thấy khan vì khuyên lơn hướng dẫn đã nhiều, lại thò đầu ra lần nữa, lòng thầm hy vọng sẽ thấy chỉ còn độ chục người đổ lại, không ngờ mấy cha ở Tòa khác đứng lên về trước, thế là người ta dồn hết sang bên mình, phát hoảng!

Nhớ lại, hồi còn chưa đi tu, còn làm Giáo Lý Viên, tôi đã từng được nghe một cha DCCT đã rất “thoáng”, rất “nghệ sĩ” khi dạy về Bí Tích Hòa Giải cho cánh trẻ chúng tôi, ngài say sưa, thao thao bất tuyệt, đại để như thế này: “Các bạn hãy nhìn cái Tòa Giải Tội một cách gần gũi và bình dị, thân thương và lãng mạn, xin lỗi, không dám phạm thánh, bôi bác Bí Tích thiêng liêng, nhưng ta có thể ví đấy như một chiếc... "Ghế Đá Công Viên" giữa cuộc đời này, chứ đừng quen nghĩ như đó là một cái... "Tòa Án", nghe rùng mình ớn lạnh.

Kể ra các bạn thấy khiếp vía cũng phải, đứng ngoài khách quan mà nhìn, thấy rõ một bên là tội nhân thì phải run rẩy quỳ gối khấu đầu mà khai báo tội mình ra, bao giờ, bao nhiêu lần, như thế nào, với ai; còn bên kia là ông quan tòa ngồi bệ vệ trên ghế nghe không sót một tội nào, ngài mà thấy nghi nghi, vặn hỏi là phải khai cho bằng hết, rồi ngài sẽ luận tội và ra hình phạt răn đe trừng trị hoặc định mức đền bù bồi thường các tội đã phạm.

Không, các bạn hãy chọn cho cái gọi là “Tòa Giải Tội” một tên khác dễ thương hơn đi. Các bạn nghĩ không ra thì tôi xin đề nghị gọi đấy là... “Luca-mười-lăm” (*).

Ý là tôi muốn các bạn hãy đến với Bí Tích Hòa Giải như đến với một Điểm Hẹn mà chính Chúa Cha đã ngồi đó chờ đợi ta từ lâu lắm rồi, y như người cha mong đứa con bê bối bậy bạ chắc chắn rồi cũng sẽ có ngày phải trở về. Chúa Giêsu là người Anh Cả, không hề nhỏ nhen ganh tỵ và đố kỵ với thằng em, nhưng tận tụy lặn lội đi tìm nó giữa chợ đợi, gặp được rồi thì ân cần níu tay nó kéo về gặp Cha. Thế là gia đình sum họp vui vầy bên nhau thật hạnh phúc...”


Bây giờ hai mươi, ba mươi năm sau, chính mình lại là Linh Mục ngồi trong Tòa. Hình ảnh dễ thương của cái “Luca-mười-lăm” vẫn còn trong tâm tưởng, nhưng thực tế chua xót cay đắng và bẽ bàng lắm thay ! Trong hành lang Nhà Dòng, cha nào trông thấy một cha khác mặc áo Dòng hoặc áo Alba, tay khoác dây Stola tím, dáng vẻ ủ rũ phờ phạc, không cần hỏi cũng biết ấy là vừa mới ngồi... Ghế Đá Công Viên trở về đấy ! Vất vả, mệt mỏi thê lương đến nỗi, Nhà Dòng chúng tôi có một biệt đãi: cha Bề Trên ghi bên dưới lịch phân công “Ngồi Tòa”: anh em có nước ngọt giải khát để sẵn trong tủ lạnh ở phòng chung!

Chua xót và cay đắng, chúng tôi không dám nói quá lời, vì chỉ nghe riêng cái tội phá thai thôi cũng đã đủ buồn nản vô cùng. Tôi ngồi đó, tai nghe tội xưng ra mà lòng nhói đau, liên tưởng ngay đến những chiếc túi nylon màu đen thui nặng cả chục ký lô xác các cháu bé mỗi chiều vẫn được các anh chị em tình nguyện trong Nhóm Bảo Vệ Sự Sống khéo léo âm thầm xin được ở các bệnh viện và trung tâm phá thai, bé nào là con của cô gái, của chàng trai đang quỳ ở bên kia tấm màn xưng tội nhỉ?

Chua xót và bẽ bàng, lại vì có khi người đến xưng tội nói thẳng cho biết rằng sẽ lại phạm tội trọng ấy một lần, thậm chí nhiều lần nữa, sau khi hôm nay được xưng tội, được rước lễ. Họ bảo: “Vâng, con biết ngoại tình là tội trọng, con phải xưng thì mới được rước Lễ, nhưng nếu cha đã hỏi thật thì con cũng xin nói thẳng là con chưa... bỏ được cô ấy đâu!” Rồi khi thấy rõ họ “không giốc lòng chừa”, tôi khuyên họ chịu khó trở ra ngoài xét mình lại, thì họ cự nự gầm gừ, có khi buột miệng văng tục, mắng cho một câu rất nặng rồi đứng dậy bỏ ra!

Chua xót và gần như ngã lòng, khi hối nhân lại là một người... tu hành với những tội tày đình, thường là từ Giáo Phận khác chạy sang đất lạ xin xưng tội cho “an toàn”. Tôi đã hết sức nhẫn nại thuyết phục vị ấy can đảm trở về trình bày với Đấng bản quyền, với Bề Trên trực tiếp. Vì đây không còn là tội trót phạm do sa ngã yếu đuối, nhưng là tội phạm có hệ thống, kéo dài, càng ngày càng nguy hiểm hơn, chồng chất ba, bốn thứ tội trọng, đi xưng tội vì sợ phạm thánh nhưng không ngờ lại càng... phạm thánh nhiều hơn ! Thế mà... Không nhìn thấy mặt, chỉ nghe tiếng nhưng tôi hiểu được vị ấy đã chuyển từ năn nỉ sang tức giận hằn học, cuối cùng bật ra một lời: “Là Linh Mục cả với nhau mà ông không chịu thông cảm à?”

Lắm lúc bi quan nản chí quá, chúng tôi thấy sao người ta coi thường Bí Tích Hòa Giải đến thế, cứ như đó là một chiếc... máy giặt không bằng. Hễ mặc quần áo thấy dơ rồi thì đem bỏ vào máy, cho xà phòng, bấm nút. Giặt, vắt, sấy khô, xong rồi đem là ủi cho đẹp để lại mặc tiếp. Mặc bẩn lại bỏ vào máy. Giặt sạch lại mặc. Mặc dơ lại giặt... Cứ thế cho đến bao giờ nhỉ ? Vải tốt mấy cũng đến ngày phải sờn, phải rách, thì vứt đi mua cái khác sao ? Chẳng lẽ tâm hồn mình đến nông nỗi ấy sao ? Chẳng lẽ Bí Tích của Chúa Giêsu để lại không hơn gì cái máy giặt Misubishi để trong góc nhà tắm ư?

Nhưng thôi, cứ nói mãi chuyện buồn chuyện chán cũng không nên, nó làm ta nhụt nhuệ khí, không khéo lại ngã lòng trông cậy, mất niềm tin, mất cả ơn gọi thay mặt Chúa Cha để ra Điểm Hẹn “Luca-Mười-Lăm” ngồi Ghế Đá Công Viên thì uổng lắm !

Bây giờ xin kể những chuyện vui vậy. Ngồi Giải Tội mà vui à? Có chứ ạ ! Một lần ngồi giải tội Mùa Chay năm 2004 ở một Nhà Thờ tại California nước Mỹ, có một bà người Việt ước khoảng 60 tuổi vào xưng tội: “Thưa cha, con phạm tội không “tắc kè” cho ông xã nhà con...” Tôi chợt chia trí, không hiểu tội “tắc kè” với ông chồng là tội gì, cố gắng suy luận để còn khuyên và ra việc đền tội, đâm ra nghĩ bậy là... là...

Bên kia tấm màn bà cụ bắt đầu phân bua: “Mà thưa cha, khổ lắm cơ, con không chịu “tắc kè” ông xã con cũng là tại lỗi ông ấy mọi đàng, ông ấy đâu có chịu “tắc kè” con trước!” Nghe được một lúc, may sao, ơn khôn ngoan suy biết làm cho tôi sực tỉnh ngộ, thôi chết, “tắc kè” ở đây chính là cách nói Việt Nam bắt chước theo tiếng Anh là “ take care”! Hú vía!

Lần khác ở Việt Nam, một anh thú tội ghen mà đánh vợ 2 bạt tai rất mạnh. Anh ấy tỏ dấu áy náy ray rứt, cho biết đã ghen bóng ghen gió vậy thôi, chứ sau đó anh điều tra thì không có chi. Anh kể rằng thì là... cô ấy sau đó đã khóc suốt đêm! Tôi khuyên xong, ra việc đền tội: hãy mở lời xin lỗi vợ. Sau đó khi tôi vừa dứt lời tha thứ, chúc bình an, anh ta phản ứng, xưng tôi một cách rất gay gắt: “Cha cho việc đền tội gì mà kỳ cục thế ? Ai đời tôi là đàn ông mà lại đi xin lỗi vợ à? Cha tên gì? Rồi tôi sẽ tính chuyện với cha!” Tôi nói tên mình vừa xong là anh xô tòa bỏ đi.

Bẵng đi cả tháng, có chuông bấm đúng tên mình, tôi vừa ra phòng khách, một người đàn ông lạ mặt hỏi ngay: “Phải cha Uy đấy không ?” Hỏi vậy thôi, không cần đợi tôi gật đầu, anh tuôn ra một tràng. May quá, không căng thẳng “hình sự” tý nào, chỉ ra vẻ rất khổ tâm, lúc đầu còn xưng tôi, rồi sau đó chuyển sang xưng con hồi nào không biết: “Khổ quá cha ơi, cha ra việc đền tội ác quá ! Tôi về nhà hôm ấy, đã định không làm, dứt khoát không làm, tôi mà phải đi xin lỗi vợ à? Nhưng rồi tôi cứ nghĩ không đền tội thì chưa sạch tội, đành phải cố gắng ép mình mà xin lỗi vợ thôi... Chần chừ do dự mãi, một hôm tôi rào trước đón sau, mời vợ tôi ngồi xuống cho tôi được nói một câu... Vậy mà, cha coi, vợ con nó đâu có chịu cho con nói, cô ấy bảo: “Em biết anh định nói gì rồi. Thôi anh đừng nói chi cả. Em đã quên, đã bỏ qua cho anh ngay từ dạo ấy rồi mà !” Vậy là thưa cha, cho đến tận hôm nay con vẫn chưa đền tội được, có chết không cơ chứ, làm sao con hoàn tất việc xưng tội đây?!?”

Tôi thấy hay quá, nhổm dậy bắt tay anh ta và bảo: “Xin chúc mừng anh, anh có được một người vợ tuyệt vời đấy. Cô ta rất tế nhị ý tứ, đã không để cho anh là đàn ông mà phải hạ mình xin lỗi vợ đấy. Thôi, hôm nay tôi sửa việc đền tội lại cho anh nhé, bây giờ anh không phải xin lỗi chị nhà nữa, nhưng anh hãy nói với chị như thế này: “Em yêu quý, anh xin cám ơn em. Tạ ơn Chúa đã cho anh có được em là vợ anh !” Có ai ngờ, bây giờ đôi vợ chồng ấy gần như là bạn thân với chúng tôi, vẫn thường xuyên chia sẻ để chúng tôi lo cho mấy đứa bé mổ tim !


Tuần Thánh năm ngoái, 2009, chúng tôi lên giúp Tam Nhật Vượt Qua tại Trại Tâm Thần Trọng Đức, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, thuộc Giáo Phận Đà Lạt. Đang chuẩn bị cho nghi thức Vọng Phục Sinh, có một chị với đôi mắt lờ đờ, khuôn mặt vô cảm, lừ lừ tiến lại gần, thì thầm vừa đủ mình tôi nghe: “Xin cha giải tội cho con...” Tôi nghĩ thầm, trời đất ơi, điên làm sao mà xưng tội ? Bí Tích luôn đòi buộc người đón nhận phải trong tình trạng phải tỉnh táo sáng suốt cơ mà!

Tôi không biết từ chối cách nào nên lần lữa câu giờ: “Chị muốn xưng tội, nhưng chị đã xét mình chưa ?” Ai ngờ chị ấy trả lời ngon ơ: “Con xét mình từ lâu cha ơi, mấy tháng rồi bây giờ mới gặp được cha để xin xưng tội đấy !” Tôi ngạc nhiên lắm, lại hỏi: “Vậy chứ chị xét mình như thế nào ?” Chị vẫn nhỏ nhẹ nói với đôi mắt lờ đờ như đang mê ngủ: “Thưa cha, con xét mình dựa theo Kinh Thánh ! Chúa Giêsu bảo con phải sống như thế này như thế kia, mà con không sống đúng được như vậy, thì là phạm tội rồi còn gì ?!?” nghiệt ngã, số phận con người sao mà oái oăm khốn khổ như thế. Một nạn nhân của tội ác nạo phá thai ! Tôi đã vừa nói lời tha thứ và trao ban bình an của Thiên Chúa. Thế là tôi đã bị thuyết phục hoàn toàn để kéo chị ra một góc ngôi Nhà Nguyện và nghe chị xưng tội một cách trân trọng. Nghe đến đâu, tôi thấy bàng hoàng xót xa đến đó... Trong Thánh Lễ Vọng Phục Sinh sau đó, vẫn khuôn mặt vô cảm, đôi mắt lờ đờ, chị lừ lừ tiến lên cung kính đưa tay đón lấy Mình Thánh Chúa ! Ai dám “xem mặt mà bắt hình dong” để bảo chị ấy điên ?!?

Ấy là chuyện giải tội cho người lớn. Giải tội cho trẻ em mới... vui thật sự ! Nghe cứ như chuyện bịa, chuyện đùa ! Thật ra, các em cũng chỉ là... nạn nhân của người lớn, cha mẹ, thầy cô Giáo Lý Viên, các dì phước và có khi do cả các cha nữa. Khi các em được xưng tội lần đầu, hình như chúng ta chỉ mới lo cho các em tập tành về mặt nghi thức đi xưng thú trút bỏ tội lỗi cho đúng cách, chứ chưa giúp các em đi sâu vào mối tương quan quá tuyệt vời dễ thương giữa các em là đàn con và Thiên Chúa là Cha nhân ái của chúng.

Đương nhiên hậu quả bây giờ, lúc các em đã là thiếu niên mười mấy tuổi, thậm chí đã vào tuổi dậy thì giọng con trai ồ ồ, giọng con gái điệu đàng, mà vào Tòa cứ rút tờ giấy học trò viết sẵn ra y chang một khuôn một mẫu. Mười điều răn đổ đồng tội nào cũng như tội nấy. Ai đời một tháng chỉ có 4 hoặc 5 Chúa Nhật mà xưng tội 3 tháng bỏ Lễ Chúa Nhật đến 30 lần ! Bé xíu mà phạm điều răn thứ năm, thứ sáu và thứ chín đồng loạt đến 30 lần ! Lại còn thêm những tội phạm điều răn thứ... 11 và 12 nữa, ngủ gật hoặc chia lòng chia trí trong Nhà Thờ mà vẫn còn nhớ đếm chính xác được đúng 30 lần mỗi thứ!

Ở trên chúng tôi có mạn phép nhận xét: Giải tội cho trẻ em mới... vui thật sự! Ý là đang ngồi Tòa với người lớn, mệt và căng thẳng ghê lắm, chợt có một vài em vào xưng tội kiểu hồn nhiên như thế, cha nào cũng muốn bật cười, trong lòng tự nhiên thấy nhẹ nhõm hẳn đi, giải tỏa được cả khối stress, có mấy “cha tân Linh Mục mới”, còn rất trẻ, mới được Đức Cha trao năng quyền ngồi Tòa Giải Tội, thường được giao cho giúp thiếu nhi xưng tội, thế là được dịp nhớ lại, chỉ gần hai mươi năm trước thôi, chính mình cũng ngô nghê dễ thương y như vậy.

Thế đó, bao nhiêu buồn vui chuyện trao ban Bí Tích Hòa Giải. Mà cho dù buồn nhiều hơn vui, nhưng mỗi khi bắt lấy được một chuyện vui, cái vui ấy nho nhỏ thôi, lại đủ sức hóa giải cả cái khối buồn to đùng nặng trĩu. Các cha ngồi Tòa xong, nếu có dịp ngồi nghỉ bên nhau, được cha chủ nhà mời bát cháo cốc nước giải lao, thế nào cũng khoe: “Hôm nay con bắt được cho cha Sở mấy con cá to cực kỳ đấy nhé”. Cha khác nhận xét, thoạt nghe tưởng là chê hóa ra là khen: “Các cha có đồng ý với con không, chứ phần con đến giúp giải tội mấy ngày này ở đây, con thấy người ta xưng ra cái tội phá thai và đặt vòng nhiều lắm, chắc là cha sở đã cố gắng giảng rất nhiều, cảnh báo rất mạnh về những tội ác này?”

Mùa Chay năm nay, chúng tôi ngồi giải tội ở Nhà Thờ của mình, lại giải tội giãi vạ đặc biệt trong khi đi giảng các kỳ Tiền Phúc, Đại Phúc, Hậu Phúc ở các Giáo Phận miền Bắc, trở vào Sàigòn lại chạy đi “chia lửa” với các cha ở Nhà Thờ Chợ Quán, Nhà Thờ Công Lý.. Lại có hôm được Nhóm An Phong chuyên chăm sóc các bệnh nhân gọi đến Nhà Thờ Hợp An để giúp giải tội cho những nạn nhân HIV/AIDS... Tổng kết sơ sơ Mùa Chay này mà giật mình, có lẽ tôi đã tham gia giải tội được cho cả bảy tám trăm người!

Cứ ngẫm nghĩ thấy, trong khi ngoài thế gian duy vật vô thần, xã hội đất nước chúng ta bây giờ các phiên tòa hầu như đều để lại rất nhiều oan sai bất minh. Kẻ có tội thì chạy chọt hoặc núp bóng ô dù bao che để được trắng án, sau đó có khi còn được chuyển công tác và lên lương, trong khi người vô tội thì bị xử ép, không kêu vào đâu được, lạng quạng còn bị tăng án. Án xử được soạn sẵn, bỏ túi, cứ rút ra là toi đời dân thấp cổ bé miệng. Như thế rõ ràng, có tòa án, có giải án nhưng tội ác con người lại càng thêm chồng chất, oan khiên thấu đến tận trời xanh!

Tự dưng chúng tôi thấy lòng dâng lên một niềm tri ân Thiên Chúa: “Con cám ơn Chúa, dù con cũng là kẻ tầm thường tội lỗi, thế mà Chúa vẫn cứ chọn con làm Linh Mục, để con được vinh dự thay mặt Chúa mà ngồi các phiên tòa tuyên án tha bổng cho không biết bao nhiêu là tội nhân tưởng đã phải chịu chết đời đời, đem lại niềm vui bình an cho không biết bao nhiêu là những mảnh đời khốn cùng vì tội lỗi."

Xét ra, cái gốc nằm ở chỗ chính Chúa Giêsu đã chịu gánh lấy tất cả mọi tội vạ của con người chúng ta mà chết trên thập giá, từ đó mà chúng ta được Ngài “giải án tuyên công” ( theo cách nói của cha Nguyễn Thế Thuấn, DCCT ). “Tuyên công” không phải là tuyên dương công trạng gì ở đây, mà là tuyên bố được trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa và trước mặt nhau ! Không những trắng án mà con được phục hồi quyền làm con cái Thiên Chúa nữa chứ !

Để kết thúc, chúng tôi chợt nhớ mới đây khi đến Nhà Thờ Chợ Quán, quận 5 Sàigòn, sớm trước giờ các cha ra phụ giải tội, chúng tôi ngồi lẫn vào với đám đông cộng đoàn Giáo Dân bên dưới để dự một phiên hướng dẫn sám hối của cha Sở. Từng lời từng lời phát âm giọng miền Nam rất chuẩn rất sõi, trầm ấm, như ngấm vào lòng người nghe.

Cha Sở đọc đoạn Tin Mừng Gioan 8, 1 – 11 của Chúa Nhật 5 Mùa Chay năm C, rồi cứ nhỏ nhẹ mà nói: “Thánh Giáo Phụ Augustino chú thích cho đoạn Tin Mừng này: khi đám đông hùng hổ đói ném đá đã tự động rút lui giải tán, chỉ còn lại đó hai con người, Chúa Giêsu và người đàn bà bị bắt quả tang ngoại tình, một người giàu lòng xót thương và một người đang cần đến lòng thương xót...”

Cha Sở lại nhắc mọi người nhớ đến một câu ngạn ngữ của người Anh: “Chúng ta đang sống chung trong một ngôi nhà bằng kiếng, vậy thì xin đừng ném đá lẫn nhau!”

Vâng, ngày nào con người chúng ta thôi đừng có hùng hổ tìm cách ném đá vào đầu nhau, vào mặt nhau, vào đời nhau, nhưng ngược lại biết đến với nhau bằng tấm lòng biết xót thương như Chúa Giêsu vẫn luôn xót thương chúng ta, khi ấy xã hội chúng ta sẽ vui biết mấy, Hội Thánh chúng ta mừng biết mấy, còn cánh Linh Mục chúng tôi thì... khỏe hơn, đỡ khổ hơn biết mấy!

Và như thế, Tòa Giải Tội sẽ không còn được xem là "Tòa Án" nữa, nhưng thật sự là một "Luca-mười-lăm", một "Ghế Đá Công Viên" được chọn làm "Điểm Hẹn Yêu Thương" giữa Thiên Chúa và con người...

Lm Lê Quang Uy, DCCT


---

(*) Luca - Chương 15

Ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa
1 Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng.2 Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: "Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng."3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:

Dụ ngôn con chiên bị mất (Mt 18: 12 -14 )
4 "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?5 Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai.6 Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.7 Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.

Dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất
8 "Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được?9 Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.10 Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối."

Dụ ngôn người cha nhân hậu
11 Rồi Đức Giê-su nói tiếp: "Một người kia có hai con trai.12 Người con thứ nói với cha rằng: "Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng. Và người cha đã chia của cải cho hai con.13 Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.

14 "Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu,15 nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo.16 Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho.17 Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: "Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói!18 Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha,19 chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.20 Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.

21 Bấy giờ người con nói rằng: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. ..22 Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu,23 rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!24 Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy. Và họ bắt đầu ăn mừng.

25 "Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa,26 liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì.27 Người ấy trả lời: "Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ.28 Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ.29 Cậu trả lời cha: "Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè.30 Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!

31 "Nhưng người cha nói với anh ta: "Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.32 Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy."



Hôm nay, tôi vừa trải qua một ngày như mọi ngày, bận bịu lu bu đến mệt phờ từ sáng đến tối mịt. Tôi chỉ là một Linh Mục Dòng, lại không phải phụ trách Họ Đạo hoặc một loại Mục Vụ đặc biệt nào. Vậy mà cũng đủ căng thẳng.


Sáng sớm có tiếng đập cửa văn phòng Trung Tâm Mục Vụ, đó là mẹ một em bé bệnh tim đã được mổ tốt đẹp, khóc lóc xin mấy trăm ngàn tiền xe về lại Kiên Giang, đưa con đi tái khám ngẩn ngơ thế nào mà bị móc túi sạch. Xong, vội ngồi vào bàn vi tính, cố gắng hoàn tất khâu biên tập cho trang báo Ephata này, lại phải tổng hợp các trường hợp bệnh tật ngặt nghèo đã được trợ giúp nhờ các ân nhân Hội Bác Ái Phanxicô.


Làm được nửa chừng thì điện thoại gọi: một ca Bảo Vệ Sự Sống khẩn cấp, sắp phá thai, được đưa về từ bệnh viện, cần được tư vấn và giúp cho vào nương náu trong Nhà Tình Thương Giêrađô. Cũng phải mất gần một giờ mới giúp được cho nạn nhân bình tĩnh lại, tin được là còn có người tốt muốn giúp mình trên đời này, và tin được là còn có nhiều giải pháp cứu khỏi tình thế cheo leo.

Đang còn loay hoay ghi vào sổ tiếp nhận BVSS thì một cú điện thoại khác đem lại niềm vui và an tâm: một nữ công nhân lao động bên Nhật lỡ có thai đã 15 tuần, bị tất cả mọi người ép phải phá thai, đã nghe lời tôi mua vé máy bay bỏ về lại Sàigòn. Cô gái đã quyết tâm giữ lại em bé, thế là vui rồi, nhưng cũng còn phải lo để ý dọ hỏi tìm nhà thuê trọ cho cả gia đình cô gái, chỗ ở cũ không xong rồi.

Lại có tiếng đập cửa ầm ầm rất khó chịu, y như rằng, một nhóm ăn mày chuyên nghiệp lại đeo bám nhì nhằng, cố làm cho mọi người đến dự Lễ ở ngôi Nhà Nguyện bên cạnh văn phòng của tôi phải chú ý, nhờ đó buộc tôi phải giữ thể diện “ông cha” mà xì ra một ít tiền cho họ. Mà kinh nghiệm cho thấy, cho 5 ngàn chưa chắc thèm lấy. Tôi kiên quyết từ chối vì biết chắc chắn họ lại đi nhậu với đánh bài. Không ngờ có một “bà đạo đức” lạ mặt, chắc từ xa đến đây dự Lễ cưới, cố tình nói to cho tôi nghe: “Đây tôi cho các anh đấy nhé… Khiếp, cha bao nhiêu tiền mà không cho được lấy một xu !”

Hơn 10g, cha Bề Trên ghé qua trao đổi về Thánh Lễ tạ ơn và cầu nguyện dành riêng các chị em đang mang thai sẽ tổ chức tại Giáo Xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thứ hai 20 tháng 7 tới đây. Đa số là do đi xin một cha già Dòng Biển Đức cầu nguyện cho có con vì hiếm muộn, bây giờ nảy sinh nhiều tình huống rất phức tạp và tế nhị, phải làm sao giúp những chị em ấy và gia đình họ được bình an, tuyệt đối ký thác cho quyền năng yêu thương của Thiên Chúa. Cái khó là có đến hơn phân nửa các bà bầu sẽ đến dâng Lễ và cầu nguyện lại là người bên lương, họ tin cha, họ tin Chúa nhiều lắm, thành tâm lắm…

Một chị bác sĩ đến. Chị là cộng tác viên rất thân, giỏi và nhiệt tình của chúng tôi trong việc Bảo Vệ Sự Sống. Chị chuyển qua USB cho tôi vào máy vi tính nhiều tài liệu quý để tư vấn và giảng dạy liên quan đến dinh dưỡng thai nhi, ngừa thai tự nhiên, giáo dục giới tính… Nhìn đồng hồ, giật mình vì đã quá trưa, chị bác sĩ vui vẻ nhận lời cùng xuống ăn bữa cơm bình dị của Nhà Dòng, chỉ còn hai ba người với nhau trong nhà cơm thênh thang vắng lặng, âu cũng nhờ vậy mà có giờ để bàn với nhau thêm những chương trình sắp tới cho việc tư vấn Bảo Vệ Sự Sống.


Gần 14g trưa, chợp mắt được một nửa giờ trên chiếc ghế bố kê luôn trong văn phòng. Lại ngồi vào bàn vi tính, một loạt E-Mails ập đến phải trả lời. Nhiều nố hôn nhân đau cái đầu, nhất là những Mails than thở các cha xứ quá khó, dứt khoát không cho Lễ cưới, mà cũng không chịu giới thiệu cho cha nào nơi khác lo liệu. Đương nhiên có phần lỗi lớn của cô dâu chú rể, của gia đình cha mẹ hai họ, để nước đến cổ mới… bơi, nhưng lần này thì rõ ràng cha Xứ “gây khó dễ”, xách nhiễu đủ điều, tựu chung, chỉ vì… Khó nói quá, không biết khuyên họ thế nào đây, đành chỉ vẽ cho họ chạy về Đức Giám Mục, may ra… Mà phải dặn họ kín miệng, chứ không mai mốt cha xứ ấy oán giận bản thân mình thì sẽ kẹt cho nhiều anh em Dòng chúng tôi đang sống gần khu vực của ngài…

Lại tiếp tục ngồi gõ vi tính, đến lúc thấy mệt mệt, dừng tay, truy cập vào Internet, đọc lại lời Đức Thánh Cha gửi các Giám Mục sau đợt ad limina vừa qua, ngài nhắn nhủ đặc biệt các Giám Mục để lo cho các Linh Mục, nhưng cũng là căn dặn dạy dỗ chính các Linh Mục như chúng tôi như thế này:

“Năm Linh Mục cho chúng ta cơ hội làm sáng tỏ sự cao cả và vẻ đẹp của thừa tác vụ Linh Mục. Tôi vui mừng tỏ lòng biết ơn các Linh Mục Triều cũng như Dòng trong đất nước của anh em, vì họ đã hiến dâng đời sống cho Chúa và vì những cố gắng mục vụ của họ nhằm thánh hóa Dân Thiên Chúa. Anh em hãy lo lắng cho các Linh Mục, hãy hiểu biết các Linh Mục cách thấu đáo và hãy giúp đỡ các Linh Mục hoàn thành việc thường huấn. Để trở nên người dẫn đường chính thực và phù hợp với lòng Chúa ước mong cũng như với giáo huấn của Giáo Hội, Linh Mục phải đào sâu đời sống nội tâm và lo hướng tới sự thánh thiện như Cha Sở khiêm nhường của họ Ars đã cho thấy…”

Xập tối, một cuộc điện thoại xin đi xức dầu cho một bà cụ 83 tuổi, gia đình rất thân. Chạy vội vào bệnh viện 115, nhưng chờ hơn một tiếng mà vẫn chưa được vào phòng Cấp Cứu. Cuối cùng, đến khi ngỡ đã vô vọng, thì một anh y tá rất trẻ giọng người Hà Tĩnh, can thiệp được với các bác sĩ để tôi lọt vào bên trong. Cánh bảo vệ chặn lại, anh ấy đứng ra bảo lãnh, lại thoát vào sâu hơn. Đến khi xức dầu khẩn cấp cho cụ xong, cũng vẫn anh y tá chạy lại bảo nhỏ: “Cha cho bà cụ của ăn đàng”. A, thì ra anh ấy dân Công Giáo thứ thiệt. Một anh y tá khác tiến lại không cho tôi tháo cái mặt nạ dưỡng khí trên mặt cụ bà, vẫn anh y tá Công Giáo lên tiếng bằng một lời nhỏ nhẹ: “Đây là một Linh Mục…” Thế là tôi cho cụ được rước lễ trọn vẹn.

Trở về nhà được một tý thì một đôi vợ chồng tìm đến, mắt sưng húp, mặt buồn sầu tuyệt vọng. Chỉ cần họ thở ra câu đầu tiên, tôi biết ngay họ lại là nạn nhân khốn khổ của các bác sĩ nhân danh khoa học hiện đại để phán quyết một cách vô trách nhiệm và thiếu y đức: Phải phá thai ngay, đứa bé có nguy cơ Hội Chứng Down ! Cái lạ là đôi bạn này người bên Lương nhưng lại có được một sự tin cậy lạ lùng với một Linh Mục. Và nhờ vậy, chỉ trong khoảng 30 phút, họ đã có thể chào tôi ra về với một nụ cười mếu máo, một tia sáng hy vọng và hình như có cả một mầm Đức Tin vào Thiên Chúa ngang qua Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp nữa.

Có tiếng báo hiệu trên máy di động, hai tin nhắn mới được gửi đến. Tin nhắn thứ nhất của một người bạn thân từ hồi tiểu học: “Ông Uy ơi, vợ chồng nhà ( ... ) chúng nó ly dị mất rồi ! Làm sao đây ?” Một thoáng ngẩn ngơ, điều này chính mình đã mang máng ngờ ngợ từ lâu, cứ nghĩ sẽ lại đâu vào đấy, ai ngờ ! Thế là thêm một đôi Công Giáo nữa tan tành. Bạn thân làm Linh Mục như tôi cũng đành… bó tay.

Tin nhắn thứ hai là của một anh trong Nhóm Magnificat, nhóm vẫn trung thành cầu nguyện hằng đêm tại tượng đài Nữ Vương Hòa Bình, Nhà Thờ Chính Tòa Sàigòn suốt mấy năm nay từ dạo Mẹ khóc. Anh ấy biết tôi đang gặp thử thách căng thẳng với Nhà Nước về những bài viết trên mạng liên quan đến bất công xã hội, hủy hoại môi trường, gần như mỗi ngày anh đều gửi cho tôi một câu Lời Chúa. Tin Mừng lần này được chuyển cho tôi là: “Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính vì Nước Trời là của họ…”

22g30, một cú điện thoại bất ngờ từ xa: Cha Uy xuống phòng Bảo Vệ nhận… “quà”. Tôi hiểu ngay: “quà” ở đây một bào thai vừa bị phá cách đây mấy giờ thôi, một anh BVSS được gọi đến phòng mạch tư, lấy xác cháu bỏ trong một chiếc túi nylon màu đen, chạy xe mười mấy cây số mang về DCCT. Tôi mang cái xác tý hon ấy lên đến “Góc Xót Thương”, đặt cháu vào cái chậu to dưới chân tượng Đức Maria, Mẹ các Thai Nhi, thắp một ngọn nến, đốt một que nhang cầu nguyện.

Trở về văn phòng, tôi nhận được một Mail của một thầy Dòng Ngôi Lời từ Nhật với lời nguyện chúc cho tôi được ơn can đảm vững tin trong những ngày tháng thử thách này, ứng với Lời Chúa trong ngày hôm nay. Đọc đến đó tôi mới giật mình sực nhớ: Thôi chết, hôm nay lu bu suốt cả ngày, tôi chưa kịp… dâng Thánh Lễ theo bổn phận một Linh Mục ! Và tôi đã đọc đi đọc lại đoạn Lời Chúa ấy mà rướm nước mắt, nghẹn trong cổ họng, tôi công bố một “tin Mừng” cho chính tôi: “Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải làm gì… Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát”.

Dâng Lễ rồi, nhìn đồng hồ, kim vừa chỉ sang một ngày mới. Tôi định ngồi viết cho hoàn tất, nhưng không thể… Mệt rũ người, chỉ vừa nằm xuống ghế bố, tôi đã lịm vào một giấc ngủ sâu…

Hôm nay, lại một “hôm nay” nữa, một hôm nay như mọi ngày, đời Linh Mục của tôi lại tiếp nối. Tôi chợt nhớ một bài giảng Tĩnh Tâm của cha Tiến Lộc dành cho các thầy Phó Tế của Hà Nội sắp “thăng chức” Linh Mục, cha nhắc đến một lời độc đáo của cha Antoine Chevrier của Tu Hội Prado, hình như bây giờ ngài đã được tôn phong Chân Phúc rồi, ngài bảo: "Un prêtre, c'est un homme donné, un homme mangé" ( Tôi dịch liều, không biết đã sát nghĩa chưa: “Linh Mục, đó là một con người bị đem cho đem tặng, một con người bị ăn ngấu ăn nghiến” ).

Vâng, Linh Mục Giêsu đã để cho tôi được ăn ngấu ăn nghiến chính ngài, đến phiên tôi, là Linh Mục thì cũng phải như thế thôi…

Lm. QUANG UY, DCCT

Bài liên quan:



Kiên nhẫn không phải là điều gì đó thụ động. Kiên nhẫn giải phóng chúng ta khỏi tâm trạng thất vọng. Nó giúp chúng ta kiểm soát các cảm xúc của mình, tạo khoảng trống cho lý trí suy nghĩ, lượng giá và đưa ra các phán đoán sáng suốt.

Triết gia Hy Lạp Aristotle có nói: “Kiên nhẫn chịu đựng thì đắng cay, nhưng hoa trái của nó thì ngọt ngào”. Nhân vật có tầm ảnh hưởng bậc nhất trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, Isaac Newton, xác nhận điều này khi ông bảo, “Nếu tôi có khám phá ra những điều có giá trị, thì ấy là do bởi kiên nhẫn chăm chú quan sát nghiên cứu, hơn là do bởi tài khéo của mình”. Tác gia người Anh, Chaucer lại ca tụng tính kiên nhẫn như là “đức tính trổi vượt”.


Tuy thế, trong xã hội của chúng ta, một xã hội thay đổi đến chóng mặt, tính kiên nhẫn không phải là một đức tính dễ kiếm, dễ thấy. Công nghệ đã gia tăng tốc độ của việc tìm kiếm và tiếp cận thông tin (information highway). Thế nhưng, một trật, nó cũng triệt tiêu luôn cả tính kiên nhẫn của chúng ta. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, để tải xuống một video, hầu hết chúng ta sẽ chẳng đủ kiên nhẫn để đợi quá vài giây. Nhiều người thích thú chọn chơi các game tốc độ nhanh, cảm giác mạnh hơn là nhâm nhi thư thả đọc một cuốn sách. Chúng ta đã quá quen với các dịch vụ chuyển phát trong ngày và các loại điện thoại thông minh có thể kêu xe tức thì, đến độ càng ngày tính kiên nhẫn của chúng ta càng trở nên tệ hại hơn.

Công nghệ hiện đại thực sự là một phúc lợi đa chiều. Chúng ta có thể thu gom được cả núi sự kiện. Thế nhưng điều ấy không đồng nghĩa với việc chúng ta có thêm được sự hiểu biết. Ngay cả trong các mối liên hệ thân tình, cá nhân, công nghệ hiện đại vừa trợ giúp mà cũng vừa là cản ngại nữa. Với tốc độ ánh sáng, chúng ta có thể kết nối với bất kỳ ai trên trái đất này. Thế nhưng, việc kết nối tức thì này, nhiều lúc, lại khiến chúng ta quên mất, không tương tác gì với người ngồi cùng bàn ngay bên cạnh chúng ta.

Thật không may, vì muốn cái gì cũng phải được thoả mãn, đáp ứng tức thời, người ta rất dễ coi kiên nhẫn, kiên trì như là thứ phẩm chất quá đát, lỗi thời. Kiên nhẫn xem ra chỉ đơn thuần là một kỹ thuật để kiểm soát sự thất vọng của chúng ta, mỗi khi chúng ta không có được điều chúng ta muốn, vậy thôi. Kiên trì dường như chỉ là một cách để kềm hãm sự vui thú và trì hoãn ham hố của chúng ta lại mà thôi. Thế nhưng, tất cả những điều này chẳng đúng.

Kiên nhẫn không phải là điều gì đó thụ động. Kiên nhẫn giải phóng chúng ta khỏi tâm trạng thất vọng. Nó giúp chúng ta kiểm soát các cảm xúc của mình, tạo khoảng trống cho lý trí suy nghĩ, lượng giá và đưa ra các phán đoán sáng suốt. Thiếu kiên nhẫn, chúng ta sẽ đạp đổ tất cả, sẽ phá nát các mối liên hệ. Như hồng y Fulton Sheen có nói, “Kiên nhẫn là sức mạnh, là năng lượng. Kiên nhẫn không phải là sự thiếu vắng hành động; đúng hơn nó giống như một cuộc hẹn giờ. Kiên trì, kiên nhẫn chọn đúng lúc, đúng thời điểm để hành động, theo đúng các nguyên tắc lương thiện và bằng các cách thức tốt lành”.

Đức nhẫn quan trọng cho đời sống Kitô hữu của chúng ta đến độ, Giáo hội dành riêng ra một mùa trong chu kỳ phụng vụ để đào luyện chúng ta về điều này. Thiên Chúa đã dọn dẹp, chuẩn bị sẵn sàng đâu vào đó cho sự kiện vương quốc của Người hiển trị. Người đã sai Con Một của Người nhập thể, sinh bởi Đức Maria tại Bê-lem. Chắc chắn sẽ có một ngày cùng tận của dòng lịch sử. Khi ấy, Đức Kitô sẽ giáng lâm trong vinh quang, tỏ bày trọn vẹn vẻ uy hùng của Vương Quốc Thiên Chúa. Thế nhưng, chẳng ai, ngay cả các thiên sứ trên trời, cũng chẳng biết khi nào thì Đức Kitô sẽ lại đến một lần nữa. Bởi vậy, chúng ta phải đợi chờ – kiên nhẫn chờ đợi.

Trong Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta thấy gương của nhiều nhân vật, nhiều con người đã chờ đợi Chúa thực hiện lời hứa của mình. Bà Êlisabét đợi chờ ngày hạ sinh Gioan Tẩy Giả. Mẹ Maria và thánh Giuse đợi chờ ngày Giêsu ra đời. Ông Simêon và bà Anna ở gần đền thờ Giêrusalem, kiên nhẫn chờ đợi Đấng Mêsia. Các nhà chiêm tinh chờ đợi, ngóng trời ngóng đất tìm dấu, tìm giờ Vị Thượng Trí, Đức Khôn Ngoan hạ sinh. Giống như các vị, mỗi Mùa Vọng, chúng ta lại đợi chờ Đức Kitô hiển ngự.

Trải dài ánh nhìn tới tận mút cùng thời gian, chúng ta kiên nhẫn mong chờ Đức Kitô đến khi mút cùng cuộc đời, khi ngày đời chúng ta chấm dứt. Thế nhưng, thực sự Người đã bước vào dòng thời gian. Người đã có đó trong cuộc đời chúng ta rồi. Đừng nháo nhào nhảy từ hết việc nọ sang việc kia không dứt, nhưng kiên nhẫn, thực sự như thế cũng giúp lòng trí chúng ta nhận ra rằng, Đức Kitô đã ở đó, Người vẫn hiện diện cùng chúng ta. Và để giúp chúng ta ý thức hơn về sự hiện diện đầy ân sủng của Đức Kitô, Giáo hội đã chuẩn bị cho chúng ta nguyên một Mùa Vọng, như là trường dạy kiên nhẫn vậy.

Giám mục Serratelli, giáo phận Paterson, New Jersey

http://www.catholicnewsagency.com

Nguồn: http://gioanthienchua.net/cau-nguyen.html


Tôi chợt giật mình khi cánh cổng tu viện được mở bởi một Soeur lớn tuổi. Tôi ngượng ngùng buột miệng:
Chào Soeur, các em đâu hết rồi mà để cho Soeur mở cổng?

Soeur trả lời tôi lại càng giật mình hơn: "Con lớn tuổi chẳng làm được gì, cứ ngồi một chỗ hoài chán quá! Con xin được ra thay các em để vận động cho dãn xương dãn cốt, nhờ đó lại được gặp người này người kia có thêm nhiều niềm vui nữa cha ơi."


Nghe câu phân trần của soeur, tôi ngẫm nghĩ vào tuổi của Soeur nghỉ dưỡng chẳng ai dám nói gì. Nhưng mà Soeur không muốn trở thành người thừa, người ăn bám – dù Soeur thật là xứng đáng- nên Soeur đã cố gắng làm những gì mà Soeur có thể làm được cho Hội Dòng, thật là cao quý thay.

Trong cuộc sống cũng như nơi đời sống của Hội Dòng có rất nhiều việc phù hợp để Soeur thực hiện, tương tự như những nén vàng mà ông chủ trao cho người đầy tớ khi đi xa tùy theo khả năng của họ. Soeur đã lựa chọn để sinh ích cho Hội dòng cũng như đóng góp phần mình vào trong việc xây dựng trái đất này được tốt đẹp nhất theo thánh ý Chúa.

Bởi vậy, khi con người muốn có việc làm hữu ích, muốn trở thành người cộng tác vào chương trình sáng tạo của Thiên Chúa, muốn cộng tác để làm phát triển Hội Dòng là có ngay. Chỉ sợ con người ngại, sợ, hay sĩ diện... mà không dám bắt tay vào việc, nhất là những việc mà con người đánh giá là tầm thường, nhỏ bé.... như gác cổng chẳng hạn!

Dưới cái nhìn của con người thì đúng là như thế, nhưng trong con mắt của Thiên Chúa thì bất cứ một công việc nào, ta làm với tất cả tâm tình, tâm tình của đạo làm người, tâm tình của Thiên Chúa thì nó sẽ mang một ý nghĩa tốt đẹp, cao cả. Với tâm tình của một người mong muốn được phục vụ trong yêu thương thì không có chuyện nào là chuyện nhỏ, hay tầm thường, hoặc bỏ đi...mà sẽ đem lại những lợi ích vô cùng to lớn. Chính thánh nữ Têrêsa Hài Đồng đã biến đổi những việc tuy nhỏ bé, tầm thường có một giá trị lớn trước mặt Thiên Chúa và mọi người.

Vì vậy, trong chỗ đứng của ta, với những gì ta có được, ta hãy luôn cố gắng làm theo như ý Thiên Chúa mong muốn nơi con người “cai quản vũ trụ và làm cho chúng hoàn tất trọn vẹn” ngay hôm nay, ngay bây giờ. Như Chúa Giêsu quả quyết “Cho đến nay, Cha Tôi vẫn làm việc, thì Tôi cũng làm việc” ( Ga 5, 17). Và chỉ đến khi trên thập giá trước khi tắt thở, Chúa mới thốt lên “Mọi sự đã hoàn tất ” ( Ga 19,30)

Ý thức và nhận biết như vậy, ta sẽ không bao giờ hối tiếc khi ta được Chúa yêu thương đặt để ta trên trái đất, trong lúc này, và tại đây....



Ngày 9 tháng 7 vừa qua, chương trình Fox News có một đóng góp của Rick Stedman, vốn được mô tả là một người mê sách, một triết gia và là một mục sư, trong hai thập niên qua, vón lãnh đạo Adventure Christian Church tại Roseville, California, và tác giả của nhiều cuốn sách, trong đó có cuốn 31 Surprising Reasons to Believe in God: How Superheroes, Art, Environmentalism and Science Point Toward Faith.

Trong bài này, Mục Sư Stedman, tuy đặt tựa đề trên, nhưng chủ yếu, ông thuật lại câu truyện ông chinh phục được một nhà vô thần tôn thờ khoa học, chỉ nhắc qua các truyện xác chết thành người sống và các nghệ sĩ nhạc jazz.


Tôi ngồi xuống dùng bữa trưa với một kỹ sư vô thần và cảm thấy – lúng túng!

Vợ anh ta là người đề nghị chúng tôi gặp nhau vì anh ta hoài nghi tất cả mọi chuyện liên quan tới Thiên Chúa và Giáo Hội, những điều vợ anh ta bắt đầu dự phần.

Nhưng chúng tôi không có điều gì chung với nhau cả. Anh ta là một nhà khoa học còn tôi, theo cái nhìn của anh ta, chỉ là một anh gàn tôn giáo. Tệ hơn nữa, tôi còn là một anh gàn tôn giáo chuyên nghiệp, vì tôi là mục sư của một nhà thờ. Trong đầu óc anh ta, tôi được trả lương để phi lý.

Còn anh ta, trên tất cả những cái khác, là một nhà duy lý – và tự hào về nó.

Chúng tôi trao đổi những chuyện vui đùa hời hợt khi gọi món ăn, nhưng cả hai chúng tôi đều cảm thấy không thoải mái. Bởi thế, với một lòng tự tin ở bình diện sức mạnh kỹ nghệ, anh ta lập tức bóp cò điều tôi cảm thấy như một nhận định của kẻ cả.

“À này, vợ tôi đề nghị chúng ta ăn trưa với nhau và bàn về các nghi vấn của tôi đối với tính hợp lý của tôn giáo. Có lẽ ông chưa nghe kiểu nhận định này bao giờ trước đây, nên tôi hy vọng ông không phật lòng”.

Tôi than thầm trong lòng “Ôi, làm ơn đi, anh ta nghĩ anh ta đã làm tôi chết điếng chắc. Anh ta không biết mình từng học triết ở trình độ Ph.D tại một đại học thế tục hay mình từng nói chuyện với thật nhiều, thật nhiều, người hoài nghi trong nhiều năm qua. Hơn nữa, mình còn là một mục sư, nên lúc này mình cần phải kiên nhẫn hơn mới được, nên mình phải kiểm soát súc cảm và lắng nghe…”

Nhưng mục tiêu của tôi là trợ giúp vợ anh ta chứ không chọc giận anh ta, nên tôi chỉ nói, “Vậy thì anh hãy cứ tự nhiên nói đi”.

Thế là anh ta nói. Và nói. Về khoa học, về vụ nổ tạo ra vũ trụ (big bang), và về Bertrand Russell và việc anh ta gián mắt vào cây vả này.
Mục sư Rick Stedman


Nhưng đây không phải là cuộc đấu sức đầu tiên của tôi, nên tôi biết lý luận không dẫn tới việc thay đổi cõi lòng. Hơn nữa, tôi biết một điều mà anh ta không biết: cả hai chúng tôi đều thực sự đang tin và quan tâm tới nhiều điều y như nhau. Tôi từng học tập để tìm ra cơ sở chung với những người hoài nghi và vô thần, và thuc đẩy họ suy nghĩ sâu hơn những điều họ vốn trân trọng.

Nên tôi bắt đầu với khoa học. “Tôi rất vui việc anh yêu khoa học và luôn tìm cách đeo đuổi phương pháp khoa học. Tôi cũng yêu khoa học. Nhưng tôi nhận thấy có một số điều phương pháp khoa học không thể chứng minh”.

“Như điều chi?”

“Dạ, nhiều điều lắm, nhưng đây là điều hệ trọng: anh không thể chứng minh phương pháp khoa học bằng phương pháp khoa học”.

Im lặng. Một lần nữa - lúng túng.

Nên tôi hỏi “Những ai là nhà khoa học mọi thời được anh ưa thích?”

Anh ta trả lời “Galileo, Kepler, Newton, Einstein”.

“Tôi cũng thế. Những thiên tài lạ thường, mọi người họ. Và, nhân tiện, tất cả bọn họ đều tin vào Thiên Chúa. Nhất là Newton, người vốn viết nhiều trang sách về nghiên cứu Thánh Kinh hơn là về khoa học”.

“Tôi không biết điều đó”.

Tôi bảo “Thật đó. Vả lại, anh có biết phương pháp khoa học chỉ phát triển trong nền văn minh Tây Phương vì nó dựa vào các nguyên lý của Kitô Giáo không?”

“Điều đó không đúng”.

“Dạ, tôi có các bằng cấp hậu đại học về triết học và thần học, và có một số cuốn sách tuyệt diệu của các sử gia về khoa học kiểm chứng điều đó - một cuốn do Oxford mới xuất bản. Anh có thích đọc nó với tôi không, và bọn mình thảo luận các trang của nó trong khi ăn trưa?”

Anh ta kêu lên: “Tôi rất thích! Và cả vợ tôi nữa!”. Cả hai chúng tôi đều cười.

Trong các năm sau đó, tôi và anh ta đọc hàng tá sách với nhau. Và anh ta trở thành một người bạn thân – và, với thời gian, thành một người đồng đạo.

Từ đó, tôi đã có nhiều cuộc gặp gỡ với những người hoài nghi khác và luôn thấy rằng chúng tôi có nhiều điều chung với nhau. Chúng tôi yêu âm nhạc, bất luận là nhạc rock cổ điểnn hay nhạc jazz; chúng tôi thích phim ảnh và sách vở, từ khoa học giả tưởng tới các câu truyện xác chết thành người sống; và chúng tôi thích thể thao hoặc viện bảo tàng. Hơn nữa, chúng tôi mạnh mẽ chống đối mãi dâm ở đây và ở khắp thế giới, chúng tôi ghét những người tàn bạo với thú vật, và chúng tôi nghĩ Hitler và tên gian ác và xứng đáng bị đánh bại.

Nhưng ngạc nhiên hơn cả là khi tôi nhìn sâu hơn vào những điều thích và không thích đa dạng trên đây, tôi thấy mỗi điều đều chỉ về Thiên Chúa, theo cốt cách độc đáo riêng của chúng. Nghĩa là mỗi điều đều có nghĩa lý trong quan điểm hữu thần hơn là trong quan điểm vô thần.

Tôi đã học thấy Thiên Chúa quả có thực, nhưng Người ẩn mình trong những điều ta thích hay ghét sâu xa nhất, sẵn sàng mạc khải Người cho chúng ta trong những phần đời sống mà ta quan tâm nhiều nhất.

Vũ Văn An

“Hãy quay về hướng mặt trời, bạn sẽ không còn thấy bóng tối”. Hellen Keller

Thưa thầy,

Tuần rồi, sau khi đến thăm thầy, em có họp mặt với một số bạn bè cũ, đang theo những nghề nghiệp khác nhau. Hầu hết các bạn đều có những nhận xét hết sức bi quan về sự suy đồi của nền đạo đức xã hội hiện nay và gần như đổ tội cho các người đang làm công tác giáo dục, trong đó hẳn nhiên là có em. Sau buổi họp mặt, em rất buồn phiền nên đêm rồi, không ngủ được, em quyết định bày tỏ tâm sự với thầy.

Nhớ ngày xưa, được học với thầy, nhiều đứa trong chúng em đã thực sự hiểu được thế nào là nét cao đẹp của đời sống đức độ. Thầy đã gieo vào đầu óc chúng em sự tin tưởng rằng chỉ có nền giáo dục mới gầy dựng được đời sống đức độ đó. Chúng em không bao giờ quên được những câu chuyện đời thường nhưng có ý nghĩa sâu sắc trong quãng đời dạy học của thầy. Cảm động nhất là câu chuyện trong thời gian làm giám học, thầy bị người ta “dụ dỗ” tham gia vào đường dây làm chứng chỉ giả với món lợi kếch xù. Đi dạy trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, vật giá leo thang nên gia đình thầy phải sống trong cảnh thanh bần, do đó đề nghị trên đây làm cho lương tâm chức nghiệp của thầy bị lung lay. Với nỗi lòng xao xuyến, thầy đi một vòng quanh các lớp, nhìn vào thấy các học sinh với nét mặt vô cùng trong sáng đang chăm chú nghe thầy cô giảng bài. Hình ảnh đơn sơ nhưng tuyệt đẹp đó đã kéo lại lương tâm nhà giáo nơi thầy.

Những mẩu chuyện như thế đã làm cho em thực sự xúc động một cách sâu xa, dẫn đến quyết định hiến cả cuộc đời mình cho lý tưởng giáo dục. Trong những năm đầu, hàng ngày sống với những tâm hồn trong sáng thơ ngây, em được hưởng đầy đủ niềm vui tinh thần, nhưng dần dần em cầm thấy buồn phiền về sự xuống cấp của đạo đức xã hội và những lời phê phán gay gắt nền giáo dục hiện tại ở khắp nơi, đã bào mòn nguồn vui nghề nghiệp của em. Cao điểm là trong buổi họp mặt thường niên vừa qua của các bạn cùng lớp ngày xưa. Suốt trong buổi họp, các bạn đua nhau bới móc những hư hỏng về đạo đúc trong xã hội. Tham nhũng tràn làn khắp nơi, trong chính quyền, trong công sở, ngoài đường phố, vân vân…

Tin tức về nạn cướp giựt, hôi của gần như mỗi ngày đều diễn ra trong thành phố. Trong gia đình, cha mẹ không tính gầy dựng cuộc sống đạo đức cho con cái, mà chỉ bàn tính chuyện làm sao mai sau con cái chọn được nghề làm ra nhiều tiền. Trong bệnh viện, rất nhiều thầy thuốc đã đánh mất tính chất “từ mẫu” của mình để chạy theo lợi nhuận kể cả lợi nhuận bất chính. Tệ hại hơn cả là trong trường học, hầu hết thầy cô tìm cách mở lớp tại nhà để kiếm tiền. Nhiều người đã bán rẻ lương tâm giáo dục, trong trường thì dạy lôi thôi, học trò muốn hiểu bài đầy đủ thì phải đến nhà thầy cô để học thêm.


Tất cả những sự kiện trên đang tràn lan trên báo chí hàng ngày. Sau cùng, các bạn kết luận rằng tệ nạn xã hội phát sinh từ sự suy đồi đạo đức cá nhân do nền giáo dục hiện tại gây nên. Hơn ai hết các giáo viên phải chịu trách nhiệm trước xã hội, trước lịch sử, trước tiền đồ tổ quốc.

Em ngồi lặng thinh nghe các bạn kết án tập thể các nhà giáo trong đó dĩ nhiên có em. Có chị Huệ còn nhắc lại ngày xưa em học giỏi nhất khối và nếu em chọn một nghề khác thì chắc chắn hay hơn nghề giáo nhiều. Bây giờ, tóc em đã bắt đầu điểm sương, còn hai năm nữa em về hưu, nghĩa là em đã dành trọn cuộc đời mình cho công việc giáo dục vì muốn theo gương của thầy. Không lẽ em đã chọn nhầm nghề như lời chị Huệ phê phán hay sao ?

Lá thư nầy có thể làm buồn lòng thầy, nhưng em nghĩ rằng không nói lên tâm sự với thầy thì còn biết nói với ai?

Kính chúc thầy luôn luôn khỏe mạnh.

Tôi đã ngẩn ngơ cả một ngày sau khi đọc lá thư của Nghĩa và cuối cùng quyết định cũng dùng thư để bày tỏ ý kiến của mình đối với vấn đề làm em và nhiều người có lương tâm khác chán nản lẫn buồn phiền.

Em Nghĩa,

Tôi đọc thư của em đến hai lần và rất thông cảm nỗi buồn của em. Những điều các bạn phê phán sự suy đồi của đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội là hoàn toàn đúng. Điều cay cực nhất là sự suy đồi đạo đức lại xảy ra với những người thầy thuốc và những nhà giáo, những người được cả nhân loại xem là biểu tượng của đạo đức.

Tuy nhiên, tôi cũng khuyên em chớ nên bi quan một cách thái quá. Đạo đức ngày nay quả thực có suy đồi nhưng trong hàng ngũ giáo dục vẫn có những người còn giữ được lương tâm chức nghiệp như em chẳng hạn. Tôi kể cho em nghe một câu chuyện hoàn toàn có thật vừa xảy ra cách nay vài hôm trong một tiệm sách ở Thủ Đức.

Có một em bé theo mẹ vào mua sách. Khi bà mẹ đang trả tiền thì em bé móc túi lấy ra tờ giấy bạc 50.000 đồng nhét vào khe của “thùng từ thiện”. Người nhân viên của nhà sách trông thấy, ngạc nhiên đến sửng sốt, vội đứng dậy bước đến hỏi:
– Em có biết giá trị của tờ giấy bạc mà em vừa cho vào thùng từ thiện hay không?
Em bé ngẩng lên nhìn cô nhân viên với đôi mắt thật trong sáng:
– Dạ biết, tờ năm mươi ngàn đồng.
– Em học lớp mấy ? Ai cho em tờ giấy bạc này ?
Em bé mỉm cười:
– Con học lớp bốn. Sáng nay nhà trưởng thưởng cho con tờ giấy bạc này vì con được đề cử đi thi sơ cấp cứu cho người bị thương ở cấp quận.
– Tại sao em không dùng số tiền nầy để mua sách mà cho vào thùng vậy?
– Mẹ con có mua sách cho con rồi cho nên con dùng số tiền nhà trường thưởng để giúp cho người nghèo mua gạo ăn.
– Ai dạy em như thế?
– Dạ, cô con dạy như thế và dặn phải biết thương người nghèo.
Nói xong em bé cầm tay mẹ ra về.

Rõ ràng, đó là thành quả của sự giáo dục mà đứa bé nhận được ở cô giáo trong một lớp học ở bậc tiểu học tại Việt Nam hiện nay. Tôi kể tiếp cho em nghe hiệu quả của giáo dục ở nước ngoài. Đây cũng là một chuyện có thật một trăm phần trăm do thầy tôi kể lại khi tôi còn ngồi trên ghế của trường Đại học Sư phạm Sài Gòn.

Năm đó thầy được cử đi dự hội thảo về giáo dục tại Nhật Bản. Tại đây, thầy đã nhận được một bài học về giáo dục thật bất ngờ, không phải từ những vị tiến sĩ trong các cuộc thảo luận mà từ một đứa trẻ ngoài đường phố. Câu chuyện xảy ra thế nầy.

Một buổi chiều, hội thảo xong, thầy lững thững đi dạo phố, miệng phì phèo điếu thuốc. Hút xong, thầy thuận tay quăng cái tàn xuống vệ đường. Vừa lúc đó, có một đứa bé vừa đi ngang qua, ngược chiều với thầy. Một hai giây sau, thầy thấy đứa bé đi nhanh qua mặt thầy, tay cầm cái tàn thuốc vứt vào thùng rác bên vệ đường ngay trước mặt thầy. Thầy sửng sốt nhìn đứa bé, thấy nó thản nhiên bỏ đi. Rõ ràng nó không có ý chỉnh hay hạ nhục thầy mà vì thói quen thấy rác trên đường phố thì lượm vứt đi.

Chắc chắn em cũng đã đoán biết cái hành vi đầy tính đạo đức của đứa bé là do những bài học của thầy cô trong lớp học của bé. Xã hội Nhật Bản được nổi danh có đạo đức bậc nhất thế giới cũng là nhờ sự tận tâm của các thầy cô vậy.

Còn có biết bao nhiêu chuyện có tính giáo dục đã và đang diễn ra trong xã hội. Đạo đức của xã hội chính là do thành quả giáo dục của các thầy cô đứng lớp. Hiện nay, ai cũng có nhận xét đạo đức xã hội Việt Nam đang xuống dốc khá trầm trọng, trong khi đó các thầy phần lớn thiếu hăng hái vì không được đãi ngộ một cách xứng đáng với công sức của mình. Họ lại vấp phải sự khó khăn do làn sóng chạy theo lợi tức vật chất lấn át hẳn đạo lý. Nhưng xin các thầy cô đừng quá bi quan và chán nản, hãy can đảm nhận trách nhiệm nặng nề của xã hội, luôn luôn tin rằng vai trò của thầy cô thì tuyệt đối cần thiết cho tương lai của cả dân tộc.

Tôi kết thúc lá thư nầy với lời khuyên em hãy vui vẻ, lạc quan và hài lòng với công lao mà em đã đóng góp cho nền giáo dục của đất nước trong mấy chục năm qua.

Trích từ Chuyên đề Don Bosco số 30

Bài liên quan:
Bắt đầu từ chính mình (Bài chia sẻ thánh lễ ngày năm thánh cho các nhà giáo tại Giáo phận Qui Nhơn)
Một lớp học xưa 

Được tạo bởi Blogger.