Lời giới thiệu: 

Ngày lễ Noel thường diễn ra trong tiết trời lạnh giá. Gia đình sum họp đem đến hơi ấm, niềm vui cho mọi người. Xin giới thiệu đến quý độc giả một số truyện ngắn hay về đề tài Giáng Sinh. 


Kính chúc quý anh chị em Giáng Sinh an lành. BBT VTCG



Câu truyện 1


Như thường lệ, mỗi mùa Giáng sinh, tôi đều nhận được quà từ anh trai của tôi. Giáng sinh năm ấy tôi cảm thấy vui nhất không phải chỉ vì món quà anh tôi tặng -một chiếc xe hơi - mà vì tôi đã học được một bài học rất thú vị vào cái đêm đông lạnh lẽo ấy...

Đã 7 giờ tối, mọi người trong công ty đã ra về gần hết, tôi cũng đang đi đến gara để lấy xe và về nhà ăn Giáng sinh.

Có một cậu bé, ăn mặc rách rưới, trông như một đứa trẻ lang thang, đang đi vòng quanh chiếc xe tôi, vẻ mặt cậu như rất thích thú chiếc xe. Rồi cậu chợt cất tiếng khi thấy tôi đến gần, "Đây là xe của cô ạ?". Tôi khẽ gật đầu, "Đó là quà Giáng sinh anh cô tặng cho". Cậu bé nhìn tôi tỏ vẻ sửng sốt khi tôi vừa dứt lời. "Ý cô là...anh trai cô tặng chiếc xe này mà cô không phải trả bất cứ cái gì? Ôi! Cháu ước gì...". Cậu bé vẫn ngập ngừng.

Tất nhiên tôi biết cậu bé muốn nói điều gì tiếp theo. Cậu muốn có được một người anh như vậy. Tôi chăm chú nhìn cậu bé, tỏ vẻ sẵn sàng lắng nghe lời nói của cậu. Thế nhưng cậu vẫn cúi gằm mặt xuống đất, bàn chân di di trên mặt đất một cách vô thức. "Cháu ước...", cậu bé tiếp tục "...cháu có thể trở thành một người anh trai giống như vậy". Tôi nhìn cậu bé, ngạc nhiên với lời nói vừa rồi. Bỗng nhiên tôi đề nghị cậu bé, "Cháu nghĩ sao nếu chúng ta đi một vòng quanh thành phố bằng chiếc xe này?". Như sợ tôi đổi ý, cậu bé nhanh nhảu trả lời: "Cháu thích lắm ạ!"

Sau chuyến đi, cậu bé hỏi tôi với ánh mắt sáng ngời đầy hy vọng, "Cô có thể lái xe đến trước nhà cháu không?". Tôi cười và gật đầu. Tôi nghĩ mình biết cậu bé muốn gì. Cậu muốn cho những người hàng xóm thấy cậu đã về nhà trên chiếc xe to như thế nào. Thế nhưng tôi đã lầm... "Cô chỉ cần dừng lại ở đây, và có phiền không nếu cháu xin cô đợi cháu một lát thôi ạ..."

Nói rồi, cậu bé chạy nhanh vào con hẻm sâu hun hút, tối om, tưởng chừng như chẳng có ai có thể sống trong ấy. Ít phút sau, tôi nghe thấy cậu bé quay lại qua tiếng bước chân, nhưng hình như lần này cậu không chạy như lúc nãy mà đi rất chậm. Và đi theo cậu là một cô bé nhỏ nhắn, mà tôi nghĩ đó là em cậu, cô bé với đôi bàn chân bị tật. Cậu bé đẩy chiếc xe lăn em cậu đang ngồi, một chiếc xe cũ kĩ, xuống những bậc tam cấp một cách rất cẩn thận, và dừng lại cạnh chiếc xe của tôi.

"Cô ấy đây, người mà lúc nãy anh đã nói với em đấy. Anh trai cô ấy đã tặng một chiếc xe hơi cho cô nhân dịp Giáng sinh mà cô chẳng phải tốn lấy một đồng. Và một ngày nào đấy anh cũng sẽ tặng em một món quà giống như vậy. Hãy nghĩ xem, em có thể tận mắt thấy những món quà, những cảnh vật ngoài đường phố trong đêm Giáng sinh, và anh sẽ không phải cố gắng miêu tả nó cho em nghe nữa!".

Tôi không thể cầm được nước mắt, và tôi đã bước ra khỏi xe, đặt cô bé đáng thương ấy lên xe. Ánh mắt cô bé nhìn tôi đầy vẻ cảm phục và thân thiện.

Ba chúng tôi lại bắt đầu một chuyến đi vòng quanh thành phố, một chuyến đi thật ý nghĩa và tôi sẽ không bao giờ quên, khi những bông tuyết lạnh giá của đêm Giáng sinh bắt đầu rơi.

Và cũng trong đêm Giáng sinh ấy, tôi đã hiểu được sâu sắc ý nghĩa một câu nói của chúa Giê-su: "Không gì tốt đẹp hơn việc làm cho người khác hạnh phúc".

Câu truyện 2


Chỉ còn 4 ngày nữa là đến Giáng Sinh. Không khí của ngày lễ chưa làm tôi nôn nao, cho dù bãi đậu xe của cửa hàng giảm giá trong khu nhà chúng tôi đã chật ních đầy xe. Bên trong cửa hàng lại còn tệ hơn. Các lối đi đầy ứ những xe đẩy hàng và người mua sắm vào giờ chót.

Tại sao tôi lại đến đây hôm nay? Tôi tự hỏi. Đôi chân tôi rã rời, đầu tôi đau buốt. Tôi đã có 1 danh sách một số người quả quyết rằng họ không cần quà cáp, nhưng tôi biết họ sẽ rất buồn nếu như tôi chẳng tặng quà gì cho họ!

Mua quà cho người mà cái gì họ cũng có để rồi lại hối tiếc vì đã tốn kém nhiều cho quà cáp, theo tôi mua quà chẳng có tí gì là thích thú cả!

Tôi vội vã cho những món hàng cuối cùng vào xe đẩy, rồi tiến tới những dòng người xếp hàng dài đăng đẳng. Tôi chọn hàng ngắn nhất nhưng có lẽ cũng phải chờ đến 20 phút.

Đứng trước tôi là 2 đứa trẻ - 1 cậu bé khoảng 5 tuổi và 1 cô bé nhỏ hơn. Đứa bé trai mặc một chiếc áo rách. Đôi giày tennis rách tả tơi, lớn quá khổ và dư thừa ra phía trước chiếc quần jean ngắn cũn cỡn của nó. Nó nắm chặt mấy tờ đô-la rách nát trong đôi bàn tay cáu bẩn của mình. Quần áo của đứa bé gái cũng giống y anh nó vậy.

Cô bé có một mái tóc xỉn màu với những lọn tóc xoăn. Trên khuôn mặt nhỏ nhắn của cô bé hiện rõ rằng cô bé đang mong chờ đến bữa ăn chiều. Trong tay cô là một đôi dép màu vàng bóng thật đẹp. Trong lúc tiếng nhạc Giáng Sinh vang lên từ hệ thống stereo của cửa hàng, cô khe khẽ ngân nga theo, dù lạc điệu nhưng rất hạnh phúc.

Cuối cùng cũng đã tới phiên chúng tôi, cô bé cẩn thận đặt đôi giày lên quầy. Cô có vẻ quý đôi giày như vàng vậy.

Người thu ngân in hoá đơn và nói: “Của cháu là 6,09 đô”. Cậu bé đặt những đồng tiền rách nát của mình trên mặt quầy và lục tìm khắp túi.

Cuối cùng cậu tìm được tất cả là 5,12 đô. “Cháu nghĩ chúng cháu phải trả đôi giày lại” - cậu lấy hết can đảm nói. “Lúc khác cháu sẽ quay lại, có lẽ là ngày mai”.

Nghe anh nói thế, cô bé bắt đầu nức nở:

“Nhưng Chúa Giêsu sẽ rất yêu thích đôi giày này cơ mà” - cô bé khóc.

“Thôi được, chúng ta về nhà và sẽ kiếm thêm, em à, đừng khóc nữa, rồi chúng ta sẽ quay trở lại mà” - Cậu bé năn nỉ em.

Tôi nhanh chóng đưa cho người thu ngân 3 đô. Hai đứa trẻ đã xếp hàng chờ đợi quá lâu, và dù sao cũng đang là mùa Giáng Sinh.

Bỗng nhiên, một đôi vòng tay ôm lấy tôi và giọng nói nhỏ nhẹ cất lên: “Cháu cảm ơn cô, cô nhé”.
“Ý của cháu là gì khi nói rằng ”Chúa Giêsu sẽ thích đôi giày này?“ - Tôi hỏi.

Cậu bé đáp: “Mẹ cháu bệnh và sẽ lên Thiên Đàng. Bố bảo mẹ sẽ về với Chúa trước Giáng Sinh”.

Cô bé nói thêm: “Giáo viên của cháu nói rằng đường phố trên Thiên Đàng vàng bóng, như chính đôi giày này đây. Mẹ cháu sẽ rất đẹp khi mang đôi giày này đi trên con đường ấy phải không cô?”

Nước mắt tôi tuôn trào khi nhìn thấy những giọt lệ lăn trên khuôn mặt cô bé.
Tôi đáp: “Đúng, cô tin chắc là mẹ cháu sẽ rất đẹp”.

Tôi lặng lẽ cám ơn Thượng Đế đã dùng những đứa trẻ này để nhắc nhở tôi về ý nghĩa đáng trân trọng của việc tặng quà.

Câu truyện 3


Tôi rảo nhanh chân đến cửa hàng địa phương để mua vài món quà giáng sinh vào phút chót lễ Giáng Sinh. Trên đường đi, tôi ngắm nhìn mọi người rồi tự nhủ, đáng nhẽ mình phải đi mua quà từ trước nhưng do bận nhiều việc quá. Lễ Giáng Sinh cũng là lúc để tôi có thể thong thả được một lúc. Có lúc tôi đã ước rằng mình sẽ ngủ một giấc dài qua cả mùa Giáng Sinh. Nhưng bây giờ là lúc tôi phải nhanh chóng đến cửa hàng đồ chơi.

Ðang tìm những thứ cần mua, tôi thấy một cậu bé khoảng 5 tuổi đang ôm một con búp bê rất dễ thương. Cậu bé ôm con búp bé rất âu yếm và đang vuốt ve tóc của nó. Tôi cảm thấy rất tò mò nên chăm chú quan sát cậu bé và tự hỏi không biết cậu bé đó định tặng con búp bê đó cho ai. Tôi nhìn thấy cậu bé quay sang nói với người cô đi bên cạnh “Cô có chắc là cô không đủ mua con búp bê này không?”. Người cô trả lời đứa cháu một cách không hài lòng “Cháu phải biết rằng cô không có đủ tiền để mua nó!” Người cô dặn đứa bé không được đi lung tung trong khi bà đi mua trêm vài thứ khác, và bà sẽ quay lại sau vài phút nữa. Rồi thì bà ta bỏ đi để lại thằng bé vẫn đang mải mân mê con búp bê.

Tôi tiến lại gần để hỏi xem thằng bé định mua con búp bê đó cho ai. Thằng bé trả lời “Cháu mua con búp bê này cho em gái của cháu, vì nó rất thích được tặng một con búp bê nhân dịp Giáng sinh và nó đoán rằng ông già Noel sẽ tặng nó một con”. Tôi bèn bảo thằng bé rằng có thể ông già Noel sẽ mang đến không biết chừng. Thằng bé đáp lại ngay “Ông già Noel không biết chỗ em cháu đang ở. Cháu sẽ đưa con búp bê này cho mẹ cháu để mẹ cháu chuyển cho em cháu”. Nghe như vậy tôi liền hỏi thằng bé xem em nó hiện giờ đang ở đâu.

Thằng bé ngước nhìn tôi với ánh mắt buồn rầu rồi nói, “Nó đã đi theo với Đức Chúa rồi”.

Bố của cháu bảo là mẹ của cháu cũng đang chuẩn bị đi cùng với em cháu rồi. Nghe những lời thằng bé nói, tôi cảm thấy tim tôi như có ai vừa bóp nhẹ. Nói xong thằng bé ngước nhìn tôi rồi nói “Cháu đã bảo với bố cháu khuyên mẹ cháu đừng đi theo em cháu vội. Cháu bảo ông nhắn với mẹ cháu rằng hãy đợi cháu đi cửa hàng về đã”. Sau đó thằng bé hỏi tôi có muốn xem bức tranh của nó vẽ không. Tôi bảo rằng tôi rất thích. Thằng bé liền rút vài bức tranh nó để ở quầy hàng đưa cho tôi rồi nó nói “Cháu muốn mẹ cháu mang theo những bức tranh này theo để mẹ cháu không quên cháu, cháu rất yêu mẹ cháu nên cháu không muốn mẹ đi đâu. Nhưng bố cháu bảo mẹ cháu phải đi cùng với em cháu”.

Tôi chăm chú nhìn thằng bé và cảm thấy dường như trong hình hài nhỏ bé kia thằng bé lớn lên rất nhiều. Trong khi thằng bé không chú ý, tôi vội lục tìm trong ví của mình để lấy ra một nắm tiền rồi tôi bảo thằng bé “Cháu có đồng ý là chúng ta sẽ cùng đếm số tiền này không?” Thằng bé vô cùng phấn khởi nó nói “Ðược ạ cháu hi vọng là đủ”, rồi tôi đưa cho thằng bé một ít để hai người cùng đếm. Trong khi đếm tiền thằng bé khẽ nói “Tất nhiên ở cửa hàng này có rất nhiều búp bê, cảm ơn Chúa đã mang cho con số tiền này”, sau đó thằng bé nói với tôi rằng “Cháu vừa mới ước được Đức Chúa ban cho cháu số tiền này, cháu sẽ mua con búp bê này để mẹ cháu mang nó cho em gái cháu. Và Ngài đã nghe thấy lời nguyện ước của cháu. Cháu cũng muốn ước rằng Ngài ban cho cháu đủ tiền để cháu mua cho mẹ cháu một bông hồng trắng vì mẹ cháu rất thích hoa hồng trắng nhưng cháu chưa kịp hỏi Ngài thì Ngài đã ban cho cháu số tiền đủ để mua cả búp bê và hoa hồng nữa”.

Ðúng lúc đó thì cô của thằng bé quay trở lại nên tôi đẩy xe hàng của mình đi. Lúc này đây, tôi có tâm trạng khác hẳn với lúc mới vào cửa hàng và tôi không khỏi nghĩ miên man về câu chuyện thằng bé kể cho tôi. Bây giờ, tôi mới nhớ ra mình có đọc thấy trên báo nhiều ngày trước đây có một tai nạn do một tài xế say rượu đã đâm vào một ô tô làm chết tại chỗ một bé gái còn mẹ của bé thì bị thương rất nghiêm trọng. Lúc đó, tôi nghĩ rằng tai nạn đó không phải là trường hợp của cậu bé đã kể.

Hai ngày sau, tôi đọc trên báo thấy đăng tin người phụ nữ xấu số đó đã qua đời. Tôi vẫn không tài nào quên được cậu bé và tự hỏi không biết hai câu chuyện này có liên quan gì đến nhau không. Ngày hôm sau, có chuyện gì cứ thôi thúc tôi khiến tôi bước ra ngoài và mua một bó hoa hồng trắng rồi đem đến nơi cử hành tang lễ cho người phụ nữ trẻ. Ở đó, tôi thấy người phụ nữ nằm trong quan tài trên tay ôm một bó hoa hồng trắng rất đẹp bên cạnh đó là một con búp bê và những bức tranh của cậu bé mà tôi đã gặp ở cừa hàng đồ chơi hôm nào.


Tôi đứng đó nước mắt tuôn trào, cũng từ đó tôi cảm thấy yêu quí người thân của mình hơn và biết trân trọng những tình cảm linh thiêng đó. Tình yêu của cậu bé dành cho em gái và mẹ của mình thật là quá lớn lao. Nhưng chỉ cần có một tích tắc vô trách nhiệm của gã lái xe say rượu kia đã tàn phá hoàn toàn cuộc đời của cậu bé tội nghiệp. Ai đó đã từng nói rằng: “Chúng ta sống được nhờ những cái gì chúng ta có, nhưng chính chúng ta tạo ra ý nghĩa cuộc sống của mình bằng những gì chúng ta chia sẻ với người khác”.

Truyện hay Giáng Sinh
ngoại quốc
(nguyễn thị hải hà dịch và giới thiệu)


Lời Giới Thiệu

Cả ba truyện ngắn, Giáng Sinh của Vladimir Nabokov, Hai Người Chưa Gặp của John McNulty, và Giáng Sinh ở Tokio đều được trích từ “Christmas at The New Yorker: stories, poems, humor, and art” xuất bản năm 2003. Nhiều truyện trong quyển này rất hay và của nhiều tác giả rất nổi tiếng như John Cheever, John Updike, Alice Munro, … .


Tôi dịch truyện Giáng Sinh của Nabokov trước nhất vì tôi yêu cái hình ảnh đầy tuyết êm đềm thơ mộng ở một miền quê của nước Nga. Sau đó tôi bị cuốn hút vào nỗi đau đớn của người cha khi nhớ lại cậu bé con của ông mới còn nô đùa bắt bướm giữa mùa hè mà đã lâm bạo bệnh và qua đời trước ngày Giáng sinh. Trong nỗi đau khổ và cô đơn tận cùng ông nghĩ đến việc đi tìm cái chết thì phép lạ hiện ra. Nabokov đưa tôi từ cái đẹp của băng giá mùa đông qua cái nồng ấm của mùa hè, cái tuyệt vọng của người cha bên cạnh cái thơ ngây yêu đời của đứa con, người cha chợt khám phá bí mật của cậu bé con rồi đến cái bí ẩn của sự sống. Còn gì hơn trong đêm Giáng sinh người ta khám phá ra sự nhiệm mầu của một sự sống vừa mới khởi đầu mà sự sống đó tưởng đã chết trong cái lá khô.

McNulty nói về những thiên thần luôn luôn có mặt chung quanh ta nhưng ta không biết sự hiện diện của họ. Hai thiên thần của nhân vật Eddie đã xuất hiện qua hình ảnh một người đàn bà có mặt trong khi cuộc đời của ông chìm dưới đáy vực thẳm và người kia là người quân nhân đã cứu mạng Eddie. Truyện rất thú vị ở chỗ Eddie kể chuyện một cách trân trọng còn Harry không lắng nghe. Ông chỉ chêm vài câu vớ vẩn như xem câu chuyện của Eddie là chuyện tầm phào. Độc giả cũng thấy được cái rộn rã mừng Giáng sinh ở ngay khu vực giàu sang của Manhattan.

Giáng Sinh ở Tokio của Max Hill là một hình ảnh đầy hy vọng giúp người ta chịu đựng gian nan những lúc định mệnh khắc nghiệt đưa đẩy người ta đến chỗ khốn cùng nhất. Giọng văn của Max Hill đầy lạc quan, bất khuất, và không kém phần khôi hài. Tuy ngắn nhưng rất thật; truyện Giáng Sinh ở Tokio cho thấy cây Giáng sinh là biểu tượng làm ấm lòng người tù.

Giáng sinh có khi lại là một ngày đáng buồn cho những người nghèo khổ thiếu thốn vật chất hay tình cảm. Bạn đọc hẳn còn nhớ truyện Cô Bé Bán Diêm của Hans Christian Andersen, vừa đói vừa lạnh, cô đốt tất cả những que diêm không để sưởi ấm mà để giúp cô nhìn thấy người bà đã qua đời. Nhà văn John Cheever có một truyện ngắn mang tựa đề Giáng Sinh là một mùa bất hạnh cho người nghèo. Nhân vật của ông, Charlie, là người gác thang máy, đã dùng câu nói này đánh thức lòng trắc ẩn của những người sống trong căn chung cư. Chú bé Duane trong truyện ngắn Món Quà Vô Giá của Stephanie Ray Brown không biết nói những lời khôn ngoan ẩn ý để đánh thức lòng trắc ẩn của người chung quanh như Charlie. Hoàn cảnh của chú tuy rất bất hạnh nhưng món quà chú tặng cho cô giáo thật là vô giá.

John E. Schlimm II trong truyện ngắn Âm Thanh và Tinh Thần Giáng Sinh đã khéo léo nhắc nhở chúng ta rằng ngày nào cũng có thể là ngày Giáng Sinh nếu ta biết mở cửa tâm hồn thưởng thức cái đẹp của cuộc đời như âm nhạc, nghệ thuật, thiên nhiên. Mary đã không để cái khuyết tật về âm thanh ngăn cản cô trong việc thưởng thức âm nhạc. Sự rung cảm của Mary với bài hát Giáng sinh đã làm cho mọi người chung quanh xúc động. Tôi tin là độc giả cũng sẽ yêu mến truyện ngắn này.

Món Quà Vô Giá của Stephanie Ray Brown và Âm Thanh và Tinh Thần Giáng Sinh được trích từ A Chicken Soup for The Soul Christmas. Chicken soup cũng giống như cháo gà ở Việt Nam được dùng để chữa những cơn cảm cúm. Có thể nó không có vị thuốc nhưng thường là sự săn sóc, tình cảm của người nấu cháo giúp người bệnh cảm thấy khỏe hơn. Jack Canfield và Victor Hansen đã tuyển chọn những truyện ngắn rất ngắn của tất cả mọi người chung quanh, có khi là nhà văn tốt nghiệp đại học như Schlimm II, có khi là một giáo viên dạy lớp một lớp hai như bà Brown.

Giáng sinh là của tất cả mọi người, và ai cũng có một mẩu chuyện nho nhỏ có khi vui có khi buồn để chia sẻ với mọi người. Độc giả cũng có thể bắt đầu viết một truyện về Giáng sinh để gửi cho vào năm sau nhé.

Nguyễn thị Hải Hà


Giáng Sinh
Tác giả: Vladimir Nabokov


Sau khi đi bộ từ trong làng trở về trang viên băng ngang cánh đồng tuyết sáng lờ mờ, Sleptsov ngồi vào trong góc nhà, trên cái ghế bọc nhung ông không nhớ đã từng dùng đến nó. Tương tự như những chuyện chúng ta thường thấy sau một cơn đại họa. Không phải anh em mà lại là một người quen sơ, ông láng giềng ở nông thôn bạn chẳng mấy khi để ý đến, lúc bình thường bạn chẳng buồn trò chuyện đến, lại chính là người an ủi bạn, rất khéo léo và hoàn toàn dịu dàng, nhặt hộ bạn cái mũ bạn đánh rơi sau khi tang lễ chấm dứt lúc bạn đang bị choáng váng trong nỗi đau khổ, răng bạn đang run lập cập, và mắt bạn đang mờ nước mắt. Người ta cũng có thể nói như thế về đồ vật. Bất cứ căn phòng nào, ngay cả những căn phòng ấm áp thân mật nhất và nhỏ đến vô lý nhất, trong cái chái nhà ít khi được sử dụng của một trang viên đồ sộ ở nông thôn cũng có một góc không ai lui tới. Và đó là cái góc nhà Sleptsov đang ngồi.

Chái nhà này nối liền, bằng một hành lang dài và hẹp bằng gỗ, đang bị cơn tuyết miền Bắc Nga lấp đầy, với phần chính của ngôi nhà, chỉ được dùng vào mùa hè. Không cần thiết phải đánh thức hay sưởi ấm nó; chủ nhân của ngôi trang viên đến từ Petersburg ở chỉ đôi ba ngày và chỉ cần dùng phần nối liền của ngôi nhà, chỗ này đơn giản chỉ cần nhóm cái bếp bằng sứ Hòa Lan.

Chủ nhân của trang viên ngồi trong cái góc nhà không ai qua lại này, trên cái ghế bọc nhung, như thể ông đang ngồi chờ trong phòng mạch của bác sĩ. Căn phòng trôi nổi trong bóng tối, và màu xanh thẫm của hoàng hôn lọc thấm qua chòm lông tơ pha lê của sương giá trên khung kính cửa sổ. Ivan, ông giúp việc bệ vệ và ít nói, mới cạo sạch bộ ria mép nên trông ông rất giống ông bố đã qua đời, trước là quản gia, mang vào một cây đèn dầu hỏa, lau chùi sạch sẽ và sáng rực. Ông đặt đèn lên cái bàn nhỏ và, rất êm ả, ông lấy cái chụp đèn lụa màu hồng rào vây chung quanh đèn. Trong một thoáng ngắn ngủi cái gương nghiêng phản chiếu ánh sáng lên lỗ tai và mái tóc bạc cắt ngắn của ông. Xong, ông thoái lui và cánh cửa kêu kẽo kẹt nho nhỏ.

Sleptsov nhấc bàn tay ra khỏi đầu gối, chậm chạp quan sát. Một giọt nến đã dính và đông cứng lại ở khoảng da mỏng giữa hai ngón tay. Ông xòe các ngón tay và lớp vảy mỏng màu trắng bị vỡ tan.

*

Sáng hôm sau, sau một đêm đầy những giấc mơ vụn vằn vô nghĩa hoàn toàn chẳng liên hệ với nỗi buồn khổ của ông, khi Sleptsov bước ra ngoài hàng hiên lạnh giá, nền nhà thoát ra tiếng kêu răng rắc như tiếng súng nổ vui vẻ dưới chân ông, và ánh phản chiếu của các ô kính cửa sổ nhiều màu sắc kết hợp lại thành những hình thoi đẹp tuyệt trần chiếu lên trên những cái ghế trắng không bọc nệm đặt cạnh cửa sổ. Thoạt tiên lớp cửa bên ngoài hơi khó đẩy, rồi thì nó chịu mở ra với tiếng kêu giòn giã răng rắc, và hơi băng giá choáng ngợp tạt vào mặt ông. Lớp cát màu đo đỏ được rải lên lớp băng che phủ những bậc thềm của hiên trước trông giống như bột quế, và các thỏi băng nhũ thật dày có màu xanh lơ pha lục treo lủng lẳng trên mái nhà. Lớp tuyết dày len lỏi vào tận trong mấy cái cửa sổ của phần nhà nối, xiết chặt dãy hành lang hẹp bằng gỗ gọn gàng này bằng gọng kềm giá lạnh. Cái khối màu trắng ngà, trước là nơi trồng hoa vào mùa hè, đã phồng to lên, hơi cao hơn mực tuyết của hàng hiên trước, và xa xa là ánh sáng lộng lẫy của rừng, nơi ấy tất cả các cành cây màu đen đều được viền ánh bạc, và những ngọn thông xanh dường như co rúm những cái vấu màu xanh lục bên dưới sức nặng đẫy đà sáng rực của chúng.

Mang đôi ủng nỉ và cái áo khoác ngắn bên trong lót bằng lông thú có cổ áo bằng lông cừu, Sleptsov bước chầm chậm dọc theo con đường nhỏ rất thẳng, con đường vỏn vẹn đã được dọn sạch tuyết chạy vào cánh đồng tuyết sáng đến lóa mắt phía đằng xa. Ông ngạc nhiên thấy mình vẫn còn sống, vẫn còn có thể nhận thấy cái sáng rực rỡ của tuyết, và cảm thấy đau buốt ở mấy cái răng cửa vì không khí lạnh. Ông cũng chú ý đến cái bụi cây bị tuyết phủ trông giống như một cái nguồn nước phông-tên, và con chó đã để lại trên bờ tuyết một chuỗi dấu chân màu vàng nghệ hằn sâu vào rìa của bờ tuyết. Xa hơn một chút nữa, những bộ phận chống đỡ cái cầu dành cho khách bộ hành thò ra khỏi tuyết, và Sleptsov dừng lại ở nơi ấy. Cáu kỉnh, giận dữ, ông xô lớp tuyết dày xốp phủ đầy lan can cầu. Ông nhớ thật sống động dáng dấp cây cầu vào mùa hè. Cậu bé con trai ông đi dọc theo những thanh gỗ cầu trơn trợt, lấm tấm điểm hoa dại, khéo léo dùng vợt bắt con bướm đậu trên thành cầu. Thế rồi cậu bé nhìn thấy ông bố. Đã mãi mãi mất rồi tiếng cười đùa trên mặt cậu bé, bên dưới cái vành nón rơm bẻ cụp xuống bị nắng rám đen; mấy món đồ chơi cầm tay và dây xích của cái ví da cột vào dây thắt lưng, đôi chân đáng yêu của cậu bé rám nắng nhẵn nhụi trong cái quần “sọt” vải và đôi săng-đan ướt đẫm như lệ thường đứng ở thế dạng chân rất vui vẻ. Chỉ mới đây thôi, ở Petersburg, sau khi say sưa ba hoa về chuyện ở trường, chuyện cái xe đạp, về mấy con bướm Á châu rất đẹp, cậu bé bỗng qua đời, và hôm qua Sleptsov đã mang cỗ quan tài – rất nặng nề, dường như nó chứa sức nặng của cả cuộc đời – về làng, đưa vào nhà mồ riêng của gia đình ở gần nhà thờ trong làng.

Không gian yên vắng như chỉ có thể yên vắng đến thế này trong một ngày sáng sủa và lạnh giá. Sleptsov nhấc chân lên, bước ra khỏi lối đi, và để lại những vết lõm sâu màu xanh lơ trong tuyết, tạo lối đi giữa những thân cây trắng lạ lùng đến nơi cánh rừng bắt đầu rẽ xuống hướng bờ sông. Phía dưới thật xa, những khối băng tỏa ánh sáng lấp lánh gần một cái lỗ bị cắt thủng trong một màu trắng mịn bao la, và, ở bờ bên kia mấy cột khói màu hồng đứng thẳng bên trên mái nhà phủ đầy tuyết của những căn nhà được xây bằng thân gỗ tròn. Sleptsov cởi cái mũ lông cừu đứng tựa lưng vào thân cây. Ở phía xa thật xa, nông dân đang bổ củi – âm thanh của mỗi nhát búa vang vọng lên không trung – và ở bên ngoài làn sương mỏng màu bạc bao phủ rặng cây, bên trên những túp lều gỗ đang ngồi xổm, ánh mặt trời chiếu sáng vẻ thư thái của cây thánh giá trên nhà thờ.

Ông sẽ đến nơi ấy sau bữa ăn trưa bằng cỗ xe trượt tuyết cũ kỹ có chỗ dựa lưng rất thẳng. Tiếng vó của con ngựa màu đen nện mạnh mẽ trong không gian lạnh băng, các chòm lông trắng của những cành cây thấp là đà trượt phía trên đầu, và dấu bánh xe ở phía trước lấp loáng màu xanh lơ có ánh bạc. Khi ông đến nơi, ông ngồi độ một giờ đồng hồ bên cạnh mộ, đặt đôi bàn tay đeo găng bằng len dầy nặng lên trên những thành cầu bằng sắt, hơi lạnh xuyên qua lớp len làm bỏng rát bàn tay ông. Ông về nhà với một nỗi thất vọng nhẹ nhàng, như thể để con trong nhà mồ càng làm xa cách với ông hơn là chỗ này, nơi để lại vô số dấu chân thoăn thoắt của cậu bé đã được bảo toàn bằng lớp tuyết bao phủ.

Chiều tối, bất chợt bị nỗi buồn mãnh liệt tràn ngập, ông bảo mở cửa gian nhà chính. Khi cánh cửa mở toang với tiếng kêu buồn phiền như tiếng khóc, thoang thoảng có một mùi đặc biệt, tươi mát chứ không mốc meo như mùi của mùa đông, thổi từ tiền sảnh có chấn song sắt, Sleptsov lấy ngọn đèn với tấm phản chiếu bằng thiếc từ tay người gác cửa rồi vào nhà một mình. Nền nhà bằng gỗ kêu răng rắc đầy vẻ rùng rợn dưới bước chân của ông. Từ phòng này sang phòng khác trong ánh sáng vàng vọt, và những vật dụng trong nhà được che phủ bằng những tấm vải trông rất xa lạ; thay vì tiếng rung lanh canh của cái đèn trần là một cái bao im lìm treo trên trần nhà, và cái bóng khổng lồ của Sleptsov, chậm chạp duỗi cánh tay, bồng bềnh trôi trên tường và bên trên những cái hình vuông xám của những bức tranh đã được phủ che.

Ông vào phòng cậu con trai đã dùng làm phòng học lúc mùa hè, để ngọn đèn lên bệ cửa sổ, rồi làm gãy móng tay khi ông cố mở cửa sổ, mặc dù ngoài kia chỉ toàn là bóng đêm. Trên tấm kính màu xanh, ngọn lửa vàng của cái đèn hơi bị khói ám hiện ra, và bộ mặt to lớn, râu ria của ông xuất hiện trong chốc lát.

Ông ngồi xuống ở cái bàn trống trải và nghiêm nghị, chau mày khám xét giấy dán tường màu nhạt viền quanh là những dây chuỗi hoa hồng xanh; một cái tủ hẹp thường được dùng ở các văn phòng với những ngăn kéo từ trên xuống dưới; một cái ghế nệm dài và mấy cái ghế bành được che trùm lại; rồi bất thần, gục đầu lên trên bàn, ông bắt đầu lắc mạnh, mê mải, mãnh liệt, ồn ào, áp đôi môi và sau đó đến gò má đẫm ướt vào cái mặt gỗ lạnh lẽo đóng đầy bụi và nắm chặt mấy góc bàn.

Trong ngăn bàn ông tìm thấy quyển vở, cái bảng, mấy cái kim găm màu đen, và một hộp bánh bích-qui bằng thiếc trong đó có chứa một cái kén rất lạ mắt trị giá ba rubles. Sờ vào, nó mỏng manh như giấy và dường như nó được làm bằng một chiếc lá màu nâu cuộn tròn. Cậu con của ông đã nhớ đến nó lúc cậu bé đang nằm bệnh, hối tiếc là mình đã bỏ nó lại ở nhà nhưng tự an ủi với ý nghĩ là con nhộng bên trong có lẽ đã chết rồi. Sleptsov cũng tìm thấy một cái vợt lưới đã mòn: một cái túi bằng vải mỏng như mút-xơ-lin đặt lên trên một cái vòng có thể xếp lại (và lớp vải này vẫn còn mùi của mùa hạ với mùi cỏ nóng vì ánh mặt trời).

Cúi gập người xuống thấp hơn, rồi thấp hơn nữa, ông khóc nức nở rung chuyển cả thân hình, rồi ông bắt đầu kéo ra từng chiếc ngăn có nắp đậy bằng kính trong cái tủ đứng. Trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn, những vật làm mẫu được sắp xếp ngay ngắn, chiếu sáng như lụa bên dưới lớp kính. Ở đây, trong phòng này, trên bàn ấy, con ông đã dang đôi cánh những động vật cậu bắt được. Trước tiên cậu dùng kim găm cắm con côn trùng đã được cẩn thận giết chết lên cái khe rãnh có đáy bằng gỗ xốp của cái bảng trưng bày, ở giữa những lát gỗ mỏng có thể điều chỉnh được và ép nó xuống cho thật phẳng bằng kim ghim trên những mảnh giấy lên đôi cánh vẫn còn tươi và mềm mại. Bây giờ thì chúng đã rất khô và đã được chuyển vào trong cái tủ đứng này – loài bướm Đuôi Én tuyệt mỹ, loại bướm hiếm màu Đồng và màu Xanh, và các loại bướm quí khác, một vài con bướm được gắn lên bảng ở vị thế nằm ngửa để trưng bày trứng bướm. Con ông từng đọc tên Latin của những loại côn trùng này với giọng than thở một cách đắc thắng hay rẻ rúng. Và lũ bướm, lũ bướm Diều Hâu Aspen đầu tiên xuất hiện hồi mùa hạ của năm năm trước.

Đêm có màu xanh của khói và trăng rất sáng; mây mỏng lác đác trên trời nhưng không vệt mây nào chạm đến mặt trăng kiêu sa và mỏng manh. Rừng cây, những mảng dày băng giá màu xám, rải bóng đen trên tuyết, lấp lánh chỗ này nơi kia một thứ ánh sáng của kim loại. Trong cái ghế bọc nhung, gian phòng sưởi ấm áp của đoạn nối hai dãy nhà, Ivan đã đặt một cây thông cao chừng sáu hay bảy tấc trong một cái chậu đất sét nung lên bàn, và chỉ cắm một ngọn nến lên chân nến hình thánh giá khi Sleptsov từ gian nhà chính quay về, lạnh lẽo, mắt đỏ hoe, bụi xám còn dính đầy trên má, dưới nách cặp theo cái hộp gỗ. Nhìn thấy cây Giáng Sinh trên bàn, ông hỏi lơ đễnh, “Cái gì đây?”

Đỡ cái hộp gỗ trên tay ông, Ivan trả lời bằng giọng rất nhỏ nhẹ, dịu dàng, “Ngày mai là ngày lễ.”
“Không, mang nó đi chỗ khác,” Sleptsov nói với vẻ cau có, trong đầu thì suy nghĩ, “Có thể nào là đêm Giáng Sinh? Tại sao ta có thể quên chứ?”

Ivan dịu dàng giữ ý kiến, “Nó đẹp và xanh mướt. Cho nó đứng ở đây một thời gian.”
“Làm ơn mang nó đi,” Sleptsov lặp lại, cúi người trên cái hộp gỗ ông mang về. Trong đó ông đã mang hết đồ dùng của con trai – cái vợt bắt bướm có thể gấp lại được, hộp bánh bích-qui bằng thiếc với cái kén hình quả lê, cái bảng để giăng cánh bướm, những cây kim găm trong cái hộp sơn mài, cuốn vở màu xanh. Phân nửa trang đầu tiên đã bị xé đi, và phần còn lại chứa một phần bài chính tả tiếng Pháp. Sau đó có những bài nhật ký, tên của những con bướm bắt được, và những hàng ghi chú khác:

Đi ngang một vùng đầm lầy xa mãi tận Borovichi . . .
Hôm nay mưa. Đánh cờ với bố, sau đó đọc Frigate của Goncharov, cuốn sách chán kinh khủng.
Một ngày nóng tuyệt vời. Chạy xe đạp buổi chiều tối. Một con bọ bé xíu rơi vào mắt tôi. Cố ý đạp xe ngang ngôi nhà nghỉ hè của cô bé ấy hai lần, nhưng không gặp cô bé . . .

Sleptsov ngẩng đầu lên, nuốt cái gì đó rất nóng và to lớn. Con ông viết về ai thế?

Chạy xe đạp như thường lệ. Chúng tôi nhìn nhau. Cục cưng của tôi, người yêu ơi …

“Chuyện này không thể tưởng tượng được,” Sleptsov thầm thì. “Tôi không bao giờ biết. . .”
Ông lại cúi người xuống, tập trung cố giải mã nét chữ trẻ con hết nghiêng người đứng lên lại bẻ cong xuống lề quyển vở.

Nhìn thấy một loại bướm mới của giống Mỹ Nữ Camberwell hôm nay. Điều đó có nghĩa là mùa thu đã đến. Mưa lúc chiều tối. Cô bé có lẽ đã về thành phố rồi, chúng tôi chưa có dịp làm quen với nhau. Giã biệt, người yêu dấu. Tôi cảm thấy rất buồn. . . .

“Nó chưa bao giờ kể tôi nghe những chuyện như thế này . . .” Sleptsov cố nhớ lại, xoa trán bằng lòng bàn tay.

Trên trang giấy cuối cùng có một bức họa vẽ bằng mực: cái nhìn từ phía sau của con voi – hai cái cột to xù, góc cạnh của hai lỗ tai, và cái đuôi bé xíu.

Sleptsov đứng lên. Ông lắc đầu, cố gắng tự kềm chế những tiếng nức nở khủng khiếp cứ chực trào ra.
“Tôi–không-thể-chịu-đựng-được-nữa,” ông lè nhè giữa những tiếng rên, lặp lại càng chậm hơn, “Tôi–không-thể-chịu-đựng-được-nữa . . .”

Ngày mai là ngày Giáng sinh, điều nhắc nhở đến bất chợt, và tôi sẽ chết. Dĩ nhiên. Đơn giản thế thôi. Chính đêm nay . . .

Ông rút cái khăn tay ra và lau khô đôi mắt, gò má. Những vết đen dính lại trên khăn tay.
“. . . cái chết,” Sleptsov nói nhỏ nhẹ như thể kết luận một câu dài.

Tiếng đồng hồ gõ nhịp. Những mô hình sương giá trùng lặp lên nhau trên tấm kính xanh của cửa sổ. Quyển vở mở được chiếu sáng rực trên bàn, bên cạnh nó ánh sáng xuyên qua lớp vải mút-xơ-lin của cái vợt bắt bướm, sáng lóng lánh ở một góc của cái hộp thiếc mở nắp. Sleptsov nhắm chặt mắt, mơ hồ cảm thấy sự sống của trần thế trước mặt ông, hoàn toàn trơ trụi đơn giản và buồn thảm khủng khiếp, vô lý vô dụng đến nhục nhã, tuyệt tự, thiếu vắng phép nhiệm mầu.

Ngay lúc ấy bỗng có tiếng nứt – âm thanh mỏng manh như tiếng sợi dây cao su bị căng thẳng rồi bị đứt. Sleptsov mở mắt. Cái kén trong hộp bánh bích-qui bằng thiếc đã vỡ ra ở phía trên đầu, và một con vật nhăn nheo màu đen to cỡ một con chuột sơ sinh đang bò lên trên tường phía trên bàn. Nó dừng lại, cố bám vào mặt tường bằng sáu cái chân cuống quít và bắt đầu phập phồng một cách lạ thường. Nó xuất hiện từ cái kén bởi vì người đàn ông vật vã trong nỗi đau khổ đã mang cái hộp thiếc vào căn phòng ấm áp của ông, và hơi ấm đã thấm vào cái vỏ kén bằng lá và lớp tơ dày chắc của nó; nó chờ đợi giây phút này từ lâu, gom góp tất cả sức lực, và giờ đây, đã nở, thoát ra, nó từ từ và đầy nhiệm mầu nở to lên. Dần dần những mảnh vỏ nhăn nheo, những đường viền nhung nở ra; những sợi gân hình quạt xếp trở nên cứng cáp hơn khi nó chứa đầy không khí. Nó trở nên loài vật có cánh, không thể nào tưởng tượng nổi, có khuôn mặt trưởng thành và trở nên rất xinh đẹp. Và đôi cánh – vẫn còn yếu ớt, và ướt át – tiếp tục lớn lên và mở ra, và bây giờ chúng phát triển đến mức toàn vẹn nhất mà Tạo Hóa đã xếp đặt, và nơi đó, trên vách tường, thay vì là một cái khối nhỏ của cuộc đời, thay vì là con chuột đen, là một con bướm Attacus như những loài có thể bay như chim, vòng quanh ngọn đèn trong những buổi hoàng hôn bên Ấn Độ.

Và rồi đôi cánh dày và đen ấy, với các đốm sáng ngời như đôi mắt trên ấy với một đóa hoa màu tím, nó xoa những cái chân trước vào nhau như phủi bụi, hít một hơi đầy bên dưới sự thôi thúc rất dịu dàng, khao khát, rất giống với hạnh phúc của loài người./.

Dmitri Nabokov dịch từ bản tiếng Nga với sự góp ý của tác giả.


___

Vladimir Nabokov (1899 – 1977) nhà văn Nga biết rất nhiều thứ tiếng. Ông viết chín tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Nga rồi nổi tiếng trên toàn thế giới là nhà văn lớn chuyên viết tiếng Anh với văn phong tuyệt vời. Tác phẩm Lolita của ông ra đời năm 1955 là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông. Lolita, Pale Fire, và Speak, Memory là những tác phẩm nằm trong danh sách Modern Library 100 Best Novels và Nonfiction (100 quyển tiểu thuyết và các thể loại khác như ký, phê bình, tiểu luận hay nhất của Thư Viện Hiện Đại).


GIÁNG SINH ĐẶC BIỆT CỦA NGƯỜI THỢ GIÀ



Đôi nét về tác giả, tác phẩm


Đại văn hào Nga Lev Tolstoy (1828-1910) là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong lịch sử văn học thế giới. Ông còn là nhà triết học, một nhà cải cách xã hội, người theo đuổi chủ nghĩa hòa bình với những tư tưởng về luân lý và tôn giáo đã gây ảnh hưởng sâu đậm trong lý tưởng của thế kỷ XX. Cuộc đời ông trải qua nhiều thăng trầm, biến cố và có một sự nghiệp văn chương vĩ đại với hàng chục bộ tiểu thuyết đồ sộ, nhiều bút ký, truyện ngắn, dịch thuật, tác phẩm chính luận… Đặc biệt trong đó hai kiệt tác Chiến tranh và hoà bình và Anna Karenina được xem là đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực.



Truyện ngắn Giáng Sinh của người thợ già đã tái hiện chân thực và sinh động về ông lão thợ giày với một mơ ước giản dị đêm Giáng Sinh. Truyện cũng là một lát cắt đầy cảm động về những người nông dân nghèo khó song luôn có một đức tin tha thiết với Thiên Chúa và những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Và rồi điều kỳ diệu đã đến bởi chính trái tim thiện lương và những điều tốt đẹp mà ông đã cho đi.






Đó là đêm trước Giáng Sinh. Và dù trời hãy còn trưa song những ngọn nến đã bắt đầu nhấp nháy trong các cửa hàng, ngôi nhà của làng quê nhỏ bé nước Nga này, báo hiệu cho một ngày đông ngắn ngủi sắp kết thúc. Lũ trẻ con háo hức lon ton chạy giỡn vang nhà. Khắp nơi giờ chỉ còn nghe thấy thanh âm rầm rì không rõ hòa quyện của tiếng nói, cười thoát ra từ những cánh cửa chớp đã đóng kín.

Bác thợ già Panov, người thợ đóng giày của làng mà mọi người vẫn thường gọi là Già Panov, bước ra ngoài cửa tiệm và nhìn xung quanh lần chót. Những âm thanh của hạnh phúc, nhiều ánh đèn sáng bừng và biết bao mùi thơm nức ngon lành của các món ăn nấu nướng dịp Giáng Sinh bỗng gợi lên trong ông bao kỷ niệm về những thời khắc Giáng Sinh quá khứ, khi vợ ông vẫn còn sống và mấy đứa trẻ hãy còn bé. Giờ thì họ chẳng còn bên cạnh ông nữa. Khuôn mặt thường ngày vui vẻ, luôn nở nụ cười hiền hòa nhăn nheo đằng sau đôi mục kỉnh vuông bằng thép, bỗng chốc buồn thiu. Nhưng ông lão đã quay trở vào nhà bằng những bước vững chãi, sập cửa chớp lại đoạn lấy một ấm cà phê đun nóng lên trên bếp than củi. Sau đó, ông thở dài, ngồi vào chiếc ghế bành lớn của mình.

Già Panov đã không còn đọc sách thường xuyên, nhưng đêm nay ông bê một quyển Kính Thánh lớn, cũ kỹ của gia đình xuống, chậm chầm dùng ngón tay trỏ lần từng dòng một. Ông đọc lại những câu chuyện kể về lễ Giáng Sinh. Ông đọc câu chuyện kể về chuyến hành trình đầy mệt mỏi đến Bethlehem của Đức Mẹ Mary và Thánh Joseph. Họ đã chẳng tìm được một quán trọ nào để nghỉ chân và rồi Mẹ Mary phải hạ sinh hài nhi trong một máng cỏ nơi chuồng bò.

“Ôi Chúa ơi!”, Già Panov thốt lên: “Giá mà họ đã đến đây! Ta sẽ dành cho họ chiếc giường của ta và sẽ bao bọc, sưởi ấm cho hài nhi trong chiếc mền bông ấm áp!”

Ông lại đọc về những mục tử, những nhà thông thái, đã đến ngắm nhìn Chúa Hài Đồng và mang dâng tặng Ngài những món quà quý báu. Khuôn mặt người thợ già lại trở nên trầm ngâm. “Ta chẳng có món quà nào để dâng lên Ngài cả”, ông buồn bã nghĩ.

Những bỗng nhiên một ý nghĩ bất chợt thoáng quá khiến khuôn mặt ông bừng sáng trở lại. Ông đặt quyển Kinh Thánh xuống, đứng lên và với đôi tay dài của mình lên chiếc kệ cao trong căn phòng nhỏ. Ông lấy xuống một chiếc hộp con con, bụi bặm và mở nó ra. Bên trong là một đôi giày da nhỏ nhắn tuyệt đẹp. Già Panov mỉm cười hài lòng. Đây là đôi giày tốt nhất mà ông nhớ – một đôi giày hoàn hảo nhất mà ông từng đóng. “Ta phải dâng Người tặng vật này,” ông cả quyết rồi đặt chúng một cách nâng niu về chỗ cũ đoạn lại ngồi xuống ghế.

Bấy giờ ông đã cảm thấy mệt và càng cố đọc thì cơn buồn ngủ lại càng ập tới. Những con chữ in trong quyển kinh bắt đầu nhảy múa trước mắt, thế nên ông nhắm mắt lại một chút. Nhưng trong khoảnh khắc, Già Panov đã hoàn toàn chìm vào giấc ngủ.

Và khi ngủ ông mơ. Ông mơ rằng ai đó vào phòng mình và ngay lập tức ông biết ngay ai đang xuất hiện trong giấc mơ của mình. Đó là Chúa Jesus. “ Hỡi Già Panov, ông luôn ước ao sẽ được gặp Ta phải không?”, Người từ tốn nói. “Thế thì hãy tìm gặp Ta ngày mai. Mai sẽ là ngày Giáng Sinh và Ta sẽ đến thăm ông. Nhưng hãy xem xét cẩn thận nhé vì Ta sẽ không cho ông biết Ta là ai đâu.”

Khi Già Panov bừng tỉnh dậy sau giấc ngủ ngon lành, những tiếng chuông đang reo vang và một luồng ánh sáng mỏng manh xuyên qua những cánh cứa chớp. “Chao ôi!” Giọng ông lão tràn đầy phấn chấn. “Giáng Sinh đến rồi!”

Ông đúng dậy và duỗi tay chân hơi tê cứng sau giấc ngủ dài. Khuôn mặt ông ngập tràn hạnh phúc khi nhớ lại giấc mơ đêm qua. Sau tất cả, đây sẽ là một Giáng sinh rất đặc biệt bởi Chúa Jesus sẽ đến thăm ông. Ngài trông thế nào nhỉ? Ngài sẽ đến trong hình dáng của một hài nhi như Giáng sinh đầu tiên? Hay Ngài sẽ trong hình hài của một người trưởng thành- một người thợ mộc hay một vị Vua vĩ đại như ngôi vị của ngài – con trai của Thiên Chúa? Ông chắc hẳn phải xem xét cẩn thận cả ngày để có thể nhận ra dù Ngài đến bằng cách nào chăng nữa.

Già Panov pha một ấm cà phê đặc biệt cho bữa sáng Giáng Sinh, kéo những cánh cửa chớp lên và nhìn ra ngoài cửa sổ. Con đường vắng tanh, chưa có ai qua lại ngoài người phu quét tuyết. Ông ta trông khốn khổ và bẩn thỉu như tự bao giờ! Ai lại muốn làm việc vào ngày Giáng Sinh, nhất là trong sương mù giá buốt và cái lạnh tê tái của một buổi sớm như thế này?

Già Panov mở cánh cửa tiệm, khiến một luồng gió lạnh ùa vào. “Hãy vào đây!” ông kêu lớn vẳng qua phía bên kia đường bằng một giọng vui vẻ. “Vào nhà và dùng chút cà phê nóng chống lại cái lạnh nào!”

Người thợ quét tuyết ngửng lên, không thể tin vào tai mình. Ông ta vui sướng đặt cây chổi xuống đất và bước vào căn nhà ấm áp. Bộ đồ cũ mèm cùa ông tỏa ra những làn hơi nước nhè nhẹ khi ngồi kế bên bếp lò sưởi ấm áp và ông cứ siết chặt đôi tay đỏ quạch quanh chiếc cốc nóng hổi khi đang nhấp từng ngụm cà phê.

Già Panov nhìn ông một cách hài lòng, nhưng cứ chốc chốc ông lão lại đảo mắt ra ngoài cửa sổ. Ông chẳng bao giờ muốn bỏ lỡ cơ hội gặp gỡ vị khách đặc biệt của mình.

“Già chờ ai đó à?” cuối cùng người phu quét tuyết hỏi. Thế là Già Panov kể cho ông ta nghe về giấc mơ của mình.

“Vâng, tôi hi vọng Ngài sẽ đến.” người phu quét tuyết thốt lên. “Già đã cho tôi Giáng sinh thật vui mà tôi chẳng hề mong đợi. Và Già xứng đáng có để có giấc mơ thành sự thật.” Ông mỉm cười một cách thực thà.

Sau khi ông ta đã đi khỏi, Già Panov lại nấu một nồi súp bắp cải cho bữa tối, sau đó lại đi ra cửa, rảo mắt nhìn ra đường. Ông lão chẳng thấy ai. Nhưng ông đã lầm. Có ai đó đang tới.

Một cô gái đi bộ chậm chạp và lặng lẽ, cô đi men theo những bức tường cửa các cửa hiệu và ngôi nhà bên vệ đường. Phải mất một lúc Già Panov mới trông thấy cô. Cô gái đang mang theo thứ gì đó và trông rất mệt mỏi. Khi cô tiến đến gần hơn, ông lão mới nhận ra đó là một đứa bé quấn trong chiếc khăn choàng mỏng manh. Một nỗi buồn hiển hiện trên khuôn mặt cô và gương mặt bé bỏng tê buốt của đứa bé, khiến trái tim ông se thắt lại.

“Sao cả hai không vào nhà!” ông gọi đoạn bước ra ngoài “Cô và đứa bé cần một chỗ nghỉ ngơi ấm áp cạnh lò sưởi đấy.”

Người mẹ trẻ theo ông trong nhà và ngồi thoải mái trong chiếc ghế bành. Cô thở dài sườn sượt như để tìm niềm khuây khỏa.

“Ta sẽ hâm một ít sữa cho đứa bé.” Ông Panov nói, “ Ta cũng từng nuôi con mọn nên có thể cho đứa bé ăn giúp cô.” Nói đoạn, ông lấy sữa ra khỏi bếp lò và cẩn thận dùng thìa bón cho đứa bé cùng lúc hơ ấm đôi chân tí hon bên cạnh chiếc bếp lò.

“Cô bé cần một đôi giày”, người thợ già nói.

Nhưng cô gái đáp lại rằng: “Cháu không có tiền mua giày. Cháu cũng chẳng có chồng để nương tựa. Cháu đang trên đường đi qua làng bên để tìm kế sinh nhai Già ạ.”

Một suy nghĩ bất chợt lóe lên trong tâm trí Già Panov. Ông lão nhớ lại đôi giày nhỏ ông đã mang xuống đêm qua. Nhưng ông luôn nghĩ mình sẽ giữ chúng để làm tặng vật cho Chúa Jesus. Ông lại nhìn đôi chân bé xíu đang giá buốt và nhanh chóng quyết định.

“Cho cô bé thử đôi giày này xem!” ông nói, trao đứa bé và đôi giày của mình cho người mẹ. Đôi giày nhỏ xíu xinh đẹp và hoàn toàn vừa vặn với đứa bé. Cô gái mỉm cười hạnh phúc và bé gái líu ríu đầy vui thích.

“Già quá tốt với chúng cháu,” cô gái nói, khi cô đứng dậy đỡ lấy đứa con để tiếp tục lên đường. “Cầu cho mọi điều ước đêm Giáng Sinh của Già thành sự thật!”

Nhưng Già Panov bắt đầu tự hỏi liệu Giáng sinh rất đặc biệt của ông còn có thể thành sự thật hay không. Có lẽ nào ông đã bỏ lỡ vị khách của mình? Ông lão lo lắng nhìn xuống đường. Có rất nhiều người đang qua lại song tất cả đều là những khuôn mặt ông nhận ra. Họ là những người hàng xóm sắp sửa về nhà. Họ gật đầu chào và mỉm cười chúc ông một Giáng Sinh vui vẻ. Thỉnh thoảng, đó lại là những người ăn xin và Già Panov luôn tất bật chạy vào nhà để lấy cho họ súp nóng và một khoanh bánh mì thật to, đoạn lại vội vã đi ra ngoài vì ông sợ lỡ mất người khách lạ quan trọng của mình.

Khi Già Panov một lần nữa trở ra cánh cửa chính và cố căng mắt nhìn, ông chẳng còn thấy bóng dáng một khách qua đường nào nữa. Hầu như giờ này, mọi người đều đã ở trong nhà cả rồi.

Cuối cùng, ông lão chậm chạp quay vào trong nhà, đóng mấy cánh cửa chớp lại rồi mệt lử ngồi xuống chiếc ghế bành. Cuối cùng thì nó cũng chỉ là một giấc mơ. Chúa Jesus đã không đến.

Nhưng bất thình lình, ông nhận ra rằng mình không còn ở trong phòng một mình.

Đây không phải là mơ vì ông hoàn toàn tỉnh táo. Thoạt đầu, ông dường như trông thấy một dòng người dài nối nhau gồm những người đã đến với ông trong suốt ngày hôm nay. Ông đã thấy người quét tuyết già nua, người mẹ trẻ và đứa con của cô, cả những người ăn mày đã được ông bố thí thức ăn. Khi đi ngang qua ông, mỗi người đều thì thầm thốt lên: “Ông có nhận ra tôi không, Già Panov?”

“Thế quý vị là ai?” Ông thốt lên đầy hoang mang.

Sau đó, bỗng nhiên một giọng nói khác đáp lời ông. Đó là tiếng nói trong giấc mơ của ông đêm trước – tiếng nói của Chúa Jesus.

“Ta đã đói và ông cho Ta ăn,” Ngài nói. “Ta đã trần truồng và ông mặc cho Ta. Ta đã lạnh và ông làm cho Ta ấm. Ta đến với ông hôm nay trong tất cả những người ông đã giúp đỡ và chào đón.”

Sau đó tất cả bỗng yên lặng và tĩnh mịch trở lại. Chỉ còn lại thanh âm của chiếc đồng hồ lớn đang tích tắc đếm giờ. Một đêm yên bình và hạnh phúc vô biên dường như lan tỏa khắp căn phòng, tràn ngập trái tim của Già Panov đến nỗi ông chỉ muốn cất tiếng hát ca, bật cười và nhảy múa trong niềm sướng.

“Cuối cùng thì Ngài cũng đã đến!” ông lão chỉ thốt lên có thế.

Ngọc Vân
(Dịch theo bản tiếng Anh “Papa Panov’s Special Christmas”)


KINH NGUYỆN ĐƠN GIẢN


Truyện kể về một khách hành hương người Nga, ông đã trải qua nhiều tai ương khốn khó: người vợ và đứa con yêu quí qua đời, nhà cửa bị cháy. Thế là ông quyết định từ bỏ mọi sự và dành hết quảng đời còn lại để đi hành hương các nơi thánh. Ông lên đường với hành trang vỏn vẹn là một túi xách, trong đó có một cuốn Kinh thánh và ít lương thực.


Mỗi lần đọc Kinh thánh, ông gặp lời mời gọi cầu nguyện liên lỉ, cầu nguyện không ngừng. Ý tưởng đó ăn sâu vào tâm trí ông. Ông bắt đầu tìm kiếm một người có thể dạy ông cầu nguyện liên lỉ.


"Làm cách nào để cầu nguyện liên lỉ?" Ông đã gặp gỡ nhiều người và với câu hỏi ấy, ông đã nhận được những câu trả lời khác nhau. Nhưng vẫn không làm ông thỏa mãn.

Người thì nói: "Chỉ có Thiên Chúa mới có thể dạy ta cầu nguyện liên lĩ mà thôi." Kẻ khác bảo "Ông hãy luôn luôn sống theo thánh ý Chúa. Một người làm như thế là luôn luôn cầu nguyện rồi vậy."

Không có câu trả lời nào làm ông hài lòng, vì ông hiểu lệnh truyền "cầu nguyện không ngừng" theo nghĩa đen. Ông tự nhủ làm sao có thể cầu nguyện từng giây phút, dù thức hay ngủ, trong khi có bao nhiêu công chuyện này nọ chiếm hết đầu óc của tôi.

Vấn đề nằm ở chỗ người hành hương này cho rằng cầu nguyện là chuyện của đầu óc. Vì vậy, ông cần phải học để cầu nguyện bằng tâm hồn.

(Có 3 cách cầu nguyện: Cầu nguyện bằng lời, suy niệm Kinh thánh, cầu nguyện bằng tâm hồn thinh lặng.)

Ngày nọ, người hành hương gặp một đan sĩ, vị này hỏi ông đi đâu và tìm kiếm điều gì. Ông đáp lại: "Tôi đi hành hương từ đền thánh này đến đền thánh kia. Tôi mong tìm được một người có thể dạy tôi cầu nguyện không ngừng."

Tin chắc mình có phương pháp này, vị đan sĩ liền nói: "Này anh bạn, hãy hết lòng tạ ơn Thiên Chúa, vì Ngài đã sai đến cho anh một người có thể chỉ cho anh cách cầu nguyện liên lỉ." Mời anh đến đan viện của tôi.

Khi đến đan viện, vị đan sĩ mời người hành hương nghỉ trong một căn lều nhỏ, rồi trao cho ông một xâu chuỗi và nói: "mỗi ngày, anh hãy đọc lời kinh sau đây 500 lần 'Lạy Chúa Giesu, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.' "

The Angelus

Người hành hương mau mắn đọc xong số lần đã chỉ định. Mặc dù vẫn còn nhiều thời giờ, nhưng ông không đọc thêm, vì không dám làm sai lời thầy mình. Ít ngày sau, vị linh hướng yêu cầu ông đọc tăng thêm số lần mỗi ngày: 1 ngàn, 2 ngàn, 3 ngàn..., và cứ thế tăng thêm mãi.

Sau một thời gian dài, người hành hương đã tập được thói quen đọc lời kinh kì diệu hàng ngàn lần mỗi ngày. Rồi một ngày kia, vị đan sĩ già yếu và qua đời. Người hành hương tội nghiệp ấy đưa xác thầy mình ra nghĩa trang. Ông cảm thấy đau buồn vì từ nay không còn được gặp con người thánh thiện mà Thiên Chúa đã phái đến dạy ông cách cầu nguyện liên lỉ

Lúc này, người hành hương không còn lí do để lưu lại đan viện. Ông thu xếp hành lí, tiếp tục cuộc hành hương từ đền thánh này đến đền thánh kia. Lần này, trong túi xách còn có thêm cuốn Philokalia, tức cuốn sách chứa văn liệu của các giáo phụ nói về lời kinh được người Hi Lạp gọi là "kinh nguyện Chúa Giesu".

Mỗi ngày, người hành hương Nga đọc một đoạn trong cuốn sách và sốt sắng làm theo những chỉ dẫn trong đó. Nhờ vậy, ông tập được cách liên kết "kinh nguyện Chúa Gie-su" với nhịp thở. Khi hít vào, ông đọc "Lạy Chúa Giesu, Con Thiên Chúa"; khi thở ra, ông đọc "xin thương xót con là kẻ tội lỗi".

Thế rồi, ngày qua ngày, nhờ một kĩ năng lạ lùng không được nói đến trong sách này, người hành hương đã ghi khắc "lời kinh Chúa Gie-su" vào trái tim. Trái tim ông đã đón nhận lời kinh ấy. Ông đã đọc lời kinh ấy liên lỉ, không ngừng, dù thức hay ngủ, ăn uống hay nói năng, đi lại hay nghỉ ngơi. Trái tim ông cứ thế tự động đọc lời kinh ấy, độc lập với tâm trí, giống như nhịp đập của nó suốt ngày.

Thế là cuối cùng người hành hương đã học được bí quyết cầu nguyện liên lỉ.

Máu Chúa Giêsu


Một buổi tối nọ, trong giờ cử hành phụng vụ, một cô gái cảm thấy Lời Chúa đánh động lòng mình. Cô đáp trả tiếng gọi của Chúa cách tích cực và tin nhận Đức Giêsu là Chúa và là Đấng cứu độ.


Cô ta vốn có một quá khứ tồi tệ: nghiện ngập, ma tuý và mãi dâm. Nhưng sự thay đổi trong cô thật rõ ràng. Thời gian trôi qua, cô trở nên một tín hữu nhiệt thành của giáo xứ. Cô tham dự vào việc dạy giáo lý cho trẻ em và các hoạt động mục vụ khác.


Không lâu sau đó, cô gái nhiệt thành này đã lọt vào mắt xanh của cậu con trai vị mục sư. Và mối quan hệ giữa họ ngày càng khăng khít tới mức họ chuẩn bị tổ chức lễ cưới.

Tới đây thì rắc rối bắt đầu xảy ra: Phân nửa giáo dân trong giáo xứ chống lại cuộc hôn nhân này, vì họ không thể tưởng tượng được rằng cô gái với một quá khứ như thế lại thích hợp với con trai vị mục sư. Giáo dân bắt đầu tranh luận về vấn đề này; và cuối cùng họ quyết định triệu tập một cuộc họp. Khi mọi người đã đưa ra ý kiến của mình thì cuộc tranh luận đến hồi căng thẳng không thể kiểm soát nổi.

Cô gái cảm thấy lúng túng và đau buồn, vì tất cả quá khứ của mình bị đưa ra bàn cãi, và cô bắt đầu khóc.

Đứa con trai của vị mục sư không thể chịu đựng được nỗi đau mà người ta gây ra cho hôn thê của mình. Anh ta đứng lên và nói: “Quá khứ của hôn thê của tôi không phải là đối tượng xét xử ở đây. Điều mà quý vị đang đặt vấn đề là liệu máu Chúa Giêsu có khả năng rửa sạch tội không. Vậy, máu Chúa Giêsu có thể rửa sạch tội lỗi được không?”

Tất cả mọi người có mặt bắt đầu khóc khi họ nhận ra rằng chính họ đã phỉ báng máu Chúa Giêsu. Thậm chí người Kitô hữu chúng ta vẫn thường dùng quá khứ như một vũ khí để chống lại anh chị em mình.

Sự tha thứ là một phần rất căn bản của Tin mừng Đức Giêsu Kitô. Nếu máu Chúa Giêsu không hoàn toàn rửa sạch tội lỗi của người khác thì cũng không hoàn toàn rửa sạch tội lỗi của chúng ta. Nếu quả thực là như thế thì tất cả chúng ta đều gặp rắc rối.

Vậy lấy gì để rửa sạch tội lỗi của tôi?

Thưa không có gì khác ngoài máu Chúa Giêsu.



Bài liên quan



11. SỨC MẠNH CỦA SỰ QUYẾT ĐỊNH


Ngôi trường nhỏ ở vùng quê ấm lên nhờ cái lò than kiểu cũ. Một bé trai có nhiệm vụ mỗi ngày đi học sớm để đốt lò làm ấm phòng học trước khi giáo viên và các học sinh khác tới.

Một sáng nọ, người ta thấy ngôi trường bị cháy. Họ kéo cậu bé ra khỏi đám cháy, nửa sống nửa chết, vết phỏng đầy người. Và họ đưa cậu bé đến bệnh viện gần đó. Cậu bé nằm trên giường nửa tỉnh nửa mê nhưng vẫn nghe được bác sĩ trao đổi với mẹ mình. Bác sĩ nói với người mẹ rằng con bà chắc không sống nổi, vì vết phỏng quá nặng, cả nửa người dưới bị cháy.


Nhưng cậu bé can đảm đó không muốn chết. Nó quyết phải sống. Quả thật, nó đã sống trước sự ngạc nhiên của mọi người. Khi qua cơn nghuy kịch, nó lại nghe bác sĩ thì thầm với mẹ mình. Bác sĩ nói rằng vì lửa cháy nhiều phần cơ thể dưới, sống cũng khổ vì nó sẽ tật nguyền, không vận động đôi chân được. Một lần nữa, cậu bé can đảm lại quyết sống. Nó sẽ không tật nguyền. Nó sẽ đị lại được. Nhưng từ phần eo xuống không còn khả năng cử động.

Rồi cậu bé cũng được xuất viện. Hằng ngày, người mẹ xoa bóp chân cho con trai, nhưng đôi chân nhỏ bé vẫn không có cảm giác, bất động. Cậu bé vẫn quyết chí sẽ đi lại được như trước. Khi không nằm trên giường, nó phải ngồi xe lăn. Một hôm, người mẹ đẩy xe cho con ra sân hít thở không khí trong lành. Nó không chịu ngồi, nó chồm dậy và bò trườn trên cỏ với đôi chân sóng soài. Nó trườn tới hàng rào. Với nỗ lực hết mình, nó bám vào hàng rào và cố đứng dậy. Nó đi men theo hàng rào với ý chí là sẽ đi được. Hằng ngày nó cứ tập đi như vậy.

Nhờ hằng ngày người mẹ vẫn xoa bóp chân cho con, với ý chí sắt đá quyết tâm là đi được, nó dần dần đứng được và đi được từng đoạn đường. Rồi nó đi lại bình thường và chạy nhảy bình thường. Nó bắt đầu đi học. Khi học đại học, cậu thành lập nhóm chạy đua. Cuối cùng, cậu bé bại liệt đó trở thành người chạy nhanh nhất thế giới. Đó chính là Tiến sĩ Glenn Cunningham.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)

12. TỰ ĐÁNH MÌNH 

(tác giả Linda Neukrug, báo Daily Guidepost)


“Linda, nếu tự đánh mình là một môn thể thao Olympic thì bạn sẽ đoạt huy chương vàng đó”. Cô bạn thân Annabel nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên sau khi tôi nói về cách xử lý lúng túng của tôi với một học sinh lớp Ba mà tôi đang dạy thay thế. Tôi nghĩ: “Mình không nên để cậu bé sang học lớp con trai. Đó là lỗi của mình làm cậu bé gặp rắc rối với lớp trưởng. Thật ngớ ngẩn!”.

Bạn tôi bật cười rồi bình luận kiểu Olympic. Sau khi suy nghĩ lại, công nhận là cô ấy nói đúng. Tôi thấy xấu hổ. Hôm trước tôi tự gọi mình là “đồ tồi” vì đã để giấy tờ bừa bộn trên bàn, là “xấu xa” vì ra ngoài mà không ăn mặc đàng hoàng, và là “ngu xuẩn” vì ra ngoài tìm việc làm gấp mà không soạn giáo án khẩn cấp.

Ra chiều suy nghĩ, Annabel nói: “Mình đã từng đi học ở chỗ có một giáo viên nữ bắt tụi mình viết ra những chuyện vụn vặt tụi mình nói với nhau”. Tôi hỏi: “Bạn liệt kê mấy điều?”. “Mười lăm điều”, Annabel nói, “nhưng lúc đó giáo viên nói tụi mình xoay qua nhìn người bên cạnh và đọc những gì mình ghi như thể đang nói chuyện vậy”. Tôi tỏ vẻ tức giận: “Bạn đã làm gì?”. “Không làm gì. Không ai làm gì. Tụi mình cứ ngồi im. Mình tự nhủ không nói gì với ai hết. Rồi giáo viên nói rằng nếu không thể nói với ai thì không thể nói với chính mình”.

Bạn tôi cũng có lý. Tôi sẽ không bao giờ làm tổn thương một người con nào của Chúa. Tôi cũng là con của Chúa mà. Lạy Chúa, hôm nay xin cho con biết tử tế với chính mình như thể con tử tế với người khác là con của Chúa vậy.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)


13. NGƯỜI ĐÀN ÔNG KHÁC THƯỜNG


Một ngày bất thường trong tháng Năm. Mùa Xuân đã qua mà mọi thứ vẫn sống động qua màu sắc. Nhưng cái lạnh từ miền Bắc đã đưa cái lạnh của mùa Đông trở lại khu của người Ấn độ. Tôi ngồi với 2 người bạn trong một nhà hàng cổ ở một góc phố. Đồ ăn ngon và người ăn cũng ngon. Khi chúng tôi nói chuyện, bên ngoài kéo sự chú ý của tôi, ở bên kia đường. Một người đàn ông đang bước đi với vẻ nặng nhọc, rất buồn và thất vọng. Lòng tôi chùng xuống. Tôi nói bạn tôi nhìn, và tôi thấy những người khác cũng nhìn về phía đàn ông kia. Chúng tôi tiếp tục ăn nhưng hình ảnh người đàn ông kia cứ lởn vởn trong đầu tôi.

Ăn xong, ai về nhà nấy. Tôi cứ nhìn ra ngoài với hy vọng gặp lại đàn ông kia, nhưng không thấy. Tôi lo lắng. Trong tâm trí tôi luôn vang tiếng nói: “Đừng quay trở lại”. Với chút lưỡng lự, tôi quay lại. Tôi thấy anh ta đang ngồi trên bậc thềm một ngôi thánh đường. Tôi dừng lại, nửa muốn nói gì với anh ta, nửa muốn đi. Tôi xuống xe, lại gần anh ta và hỏi:

- Anh muốn gặp mục sư hả?

- Không hẳn vậy.

- Anh ngồi nghỉ hả? Hôm nay anh ăn gì chưa?

- Tôi ăn hồi sáng rồi.

- Anh ăn trưa với tôi nha? Anh có việc gì cần tôi giúp không?

- Không có việc gì.

- Tôi thường đi qua đây, nhưng tôi muốn mời ông ăn trưa.

Anh ta cười: “Được”.

Khi cùng ăn, tôi hỏi:

- Anh đi đâu vậy?

- Đi St. Louis.

- Anh từ đâu đến?

- À, từ khắp nơi, thường là từ Florida.

- Anh đã đi bộ bao lâu?

- Mười lăm năm.

Tôi biết mình đang gặp một ngườ khác thường. Chúng tôi ngồi đối diện nhau. Anh tên Daniel, có mái tóc dài và bộ râu được tỉa gọn gàng. Da rám nắng. Nhìn mặt khoảng gần 40 tuổi. Có vẻ già trước tuổi. Mắt đen và sáng. Ăn nói hoạt bát và rõ ràng. Anh ta nói:

- Chúa Giêsu là câu chuyện không kết thúc.

Câu chuyện của anh bắt đầu mở ra. Anh đã chọn lựa sai và lặp lại hậu quả. Mười bốn năm trước, trên bước đường lãng du, anh đã dừng lại trên một bãi biển ở Daytona. Anh và mấy người khác dựng căn lều với ít dụng cụ để cứu hộ những người tắm biển. Nhờ đó anh hiểu rõ cuộc đời mình hơn. Anh phó thác cuộc đời cho Chúa. Anh nói:

- Không gì giống nhau kể từ đó. Tôi cảm thấy Thiên Chúa bảo tôi cứ đi bộ, và tôi đi bộ hơn 14 năm rồi.

- Anh có nghĩ mình sẽ dừng chân không?

- Thi thoảng, khi tôi cảm thấy cần. Nhưng Thiên Chúa cho tôi ơn gọi này. Túi xách tôi có cuốn Kinh thánh. Tôi làm việc để có tiền sinh sống và mua Kinh thánh. Tôi tặng người khác khi Thánh Thần soi sáng.

Tôi ngồi lặng người và ngạc nhiên. Người bạn vô gia đình của tôi không hề vô gia đình. Anh đang có sứ vụ và sống theo cách mình đã chọn. Tôi hỏi:

- Điều đó như thế nào?

- Cái gì chứ?

- Vào thành phố với ba lô trên lưng và thể hiện dấu hiệu của anh thế nào?

- Ồ, mới đầu thấy mắc cở. gười ta nhìn và đàm tiếu. Có lần người ta ném cho tôi mẩu bánh mì ăn dở và tỏ vẻ khinh thường. Bị coi thường và tôi thấy Chúa dùng tôi để làm người ta tỉnh ngộ và thay đổi cuộc đời những người như tôi.

Cuộc đời tôi cũng đang thay đổi. Chúng tôi ăn xong. Ra đến cửa, anh nhìn tôi và nói:

- Hỡi người được Chúa Cha chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc đã được chuẩn bị cho bạn. Vì khi Tôi đói, bạn đã cho ăn, khi Tôi khát, bạn đã cho uống, Tôi là khách lạ mà bạn đã đón tiếp.

Tôi thấy mình như ở trên đất thánh. Tôi hỏi:

- Anh có thể dùng lời Kinh thánh khác?

- Tôi đã đọc hết cuốn Kinh thánh 14 lần.

Anh mỉm cười. Tinh thần của anh tỏa sáng sự chân thật. Trên đường về, trời đổ mưa. Chúng tôi dừng lại nơi chúng tôi gặp nhau. Anh nói:

- Ông ký tên vào sách tôi được không? Tôi muốn giữ sứ điệp của những ngườ tôi đã gặp.

Tôi viết trong cuốn sổ của anh rằng việc anh tuân giữ ơn gọi của anh đã làm tôi xúc động. Tôi khuyến khích anh cứ vững mạnh. Tôi chia tay anh với câu Kinh thánh: “Ta biết những dự định của Ta dành cho ngươi, những dự định làm phong phú ngươi chứ không làm tổn hại người. Những dự định đó cho người tương lai và hy vọng” (Jeremiah 29:11).

- Xin cảm ơn. Chúng ta sẽ gặp lại nhau như những người lạ, nhưng tôi yêu ông.

- Tôi hiểu. Tôi cũng yêu anh.

- Thiên Chúa tốt lành.

- Đúng. Ngài tốt lành.

- Hẹn gặp lại ở thành thánh Jerusalem mới.

- Hẹn gặp lại.

Anh lại tiếp tục bộ hành. Chợt anh quay lại nói:

- Khi có điều gì làm ông nhớ đến tôi, hãy cầu nguyện cho tôi nhé!

- Tôi hứa. Xin Chúa chúc lành cho anh.

*******

Đây là chuyện có thật do Richard D. Ryan viết lại và đăng trên báo Christian Reader Magazine. Bạn có thể liên lạc với Richard D. Ryan qua email: onevoice_47112@yahoo.com

TRẦM THIÊN THU (lược dịch)


14. ÂM NHẠC TRONG ĐÊM


Bạn có bao giờ nghe tên Ludwig van Beethoven, nói ngắn gọn là Beethoven, một ngưo27i mê say âm nhạc. Ông là một trong các đại nhạc sĩ thiên tài bậc nhất thế giới, ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc ở Đức. Thuở nhỏ, hằng ngày ông đã dành nhiều giờ để luyện tập... Lúc 11 tuổi, Beethoven đã có thể soạn nhạc và chỉ huy dàn nhạc. Gần 20 tuổi, ông đến Vienna (Áo) để học thêm về âm nhạc.

Một buổi chiều, ông ra ngoài đi dạo, ông đi qua căn nhà của người thợ sửa giày và nghe có người trong đó đang chơi bản nhạc của ông. Khi dừng lại nghe, ông nghe giọng cô gái nói rằng cô muốn nghe chính tác giả chơi đúng bản nhạc đó. Beethoven vào nhà, ông thấy một cô gái mù đang chơi đàn, ông đề nghị chơi đàn cho cô nghe. Ông chơi đàn hơn một giờ…

Trời bắt đầu tối, nến trong phòng đã cháy hết. Ánh trăng sáng dọi vào phòng qua cửa sổ, nơi Beethoven đang chơi đàn. Nhờ sự cảm kích âm nhạc của cô gái và vẻ đẹp của ánh trăng dọi vào phòng mà Beethoven đã làm nên kiệt tác Moonlight Sonata (xô-nát Ánh Trăng, xô-nát là bản nhạc soạn cho độc tấu piano hoặc song tấu piano và violon). Chính Beethoven cũng có một kiệt tác khác là bản Định Mệnh mà ông đã sáng tác khi thấy mình có triệu chứng bị điếc. Từ đó, ông sáng tác mà không nghe được âm thanh, ông chỉ có những âm thanh trong đầu mà thôi…

Beethoven là một thiên tài âm nhạc, nhưng ông khiêm nhường. Ông thổ lộ: “Cảm ơn Chúa tôi có thể viết nhạc, ngoài ra tôi chẳng làm được gì khác”. Có đúng vậy không? Beethoven rất cô đơn nhưng ông đã cố gắng vượt qua chính mình.

Bạn có bao giờ cảm thấy những mơ ước của bạn bị tan vỡ và cảm thấy cô đơn trong bóng đêm của sự tuyệt vọng? Chắc là có, không chỉ một lần... Thiên Chúa đang NÓI và HÀNH ĐỘNG trong chính nỗi cô đơn ấy để trao cho bạn ƠN CỨU ĐỘ. Khi cuộc đời của chúng ta phó thác cho Đức Kitô thì ngay trong “bóng đêm của linh hồn”, Thiên Chúa vẫn không ngừng hành động để giúp chúng ta hiểu biết hơn về cuộc sống và lòng trắc ẩn đối với tha nhân. Và theo thời gian, âm-nhạc-đích-thực sẽ đi vào cuộc đời chúng ta…

TRẦM THIÊN THU


15. DẤU CHÂN


Có một người ngủ mơ thấy mình đi trên đường đời, khi vui mừng thì thấy hai dấu chân, nhưng khi sầu khổ thì anh ta chỉ thấy một dấu chân. Anh ta không hiểu và có ý trách Chúa nên anh ta hỏi: “Chúa ơi! Khi con vui mừng, thành công và phấn khởi thì con thấy có hai dấu chân trên đường đời, nhưng khi con sầu khổ, cô đơn hoặc thất bại thì con chỉ thấy một dấu chân. Tại sao vậy? Chúa có thương con không? Có phải Chúa bỏ mặc con?”.

Chúa ôn tồn: “Con yêu dấu! Cha không bao giờ bỏ con, Cha vẫn yêu con từ ngàn xưa và trước sau như một. Khi con vui, con thấy hai dấu chân là con và Cha cùng song hành. Còn khi con sầu khổ, con chỉ thấy một dấu chân, đó là dấu chân của Cha. Lúc đó Cha cõng con nên con không thấy hai dấu chân”.

Từ đó, niềm tin nhân lên, anh ta luôn cố gắng. Thật vậy, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Không có Thầy thì các con không làm được gì”. Thánh Têrêxa Avila nói: “Tin mình được Chúa thương thì không là kiêu ngạo, nhưng tưởng mình được Chúa thương thì là kiêu ngạo”. Chính thánh Phaolô đã khuyên: “Dù thất vọng cũng đừng bao giờ tuyệt vọng”. Và thánh Augustinô đã có kinh nghiệm: “Ngài có đó khi ta tưởng mình đơn côi, Ngài nghe ta khi chẳng ai đáp lại, Ngài thương ta khi tất cả hững hờ”.

TRẦM THIÊN THU
http://vietcatholic.com/News/Html/84071.htm

Bài liên quan


6. DƯỚI ĐÔI CÁNH CỦA NGÀI


Một bài viết trên báo National Geographic đưa ra một hình ảnh về đôi cánh của Chúa. Sau hỏa hoạn ở Công viên Quốc gia Yellowstone, người ta tìm lối vào cảnh hoang tàn đó. Người ta thấy một con chim cháy thành tro à vẫn đứng bên gốc cây. Người ta gõ vào nó thì thấy có 3 chim con cháy thành than dưới đôi cánh chim mẹ. Chim mẹ biết nguy hiểm nên đưa con tới bên gốc cây và ủ các con dưới đôi cánh.


Chim mẹ có thể bay đi an toàn, nhưng nó không nỡ bỏ con mình. Khi lửa cháy đến nơi, dù nóng nhưng chim mẹ vẫn kiên quyết bảo vệ con mình, có chết thì mẹ con cùng chết. Thánh vịnh 91:4 viết: “Ngài che chở bạn dưới đôi cánh…”.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)

7. DANH HỌA VAN GOGH


Danh họa Vincent Van Gogh đã từng sống với những người Thiên Chúa giáo Bỉ ở vùng Borinage năm 1897. Ông thấy các thợ mỏ ở đó phải làm việc cực nhọc mà lương thấp. Gia đình họ phải vật lộn với cuộc sống hằng ngày. Ông thấy có vẻ bất công vì ông được sống an nhàn.

Một chiều tối lạnh lẽo, ông thấy một người đàn ông bước đi khó nhọc đến chỗ mình. Van Gogh đưa ông già nằm lên giường, rồi lấy quần áo cho ông già. Van Gogh cũng đã giúp nhiều phụ nữ và trẻ em bị bệnh. Có người cho ông ở trong căn phòng sang trọng nhưng ông từ chối. Ông nói đó là cơn cám dỗ mà ông phải vượt qua để sống vì người nghèo. Ông cho rằng nếu muốn người ta tin mình thì mình phải chia sẻ với họ. Hành động có sức lôi cuốn hơn lời nói suông.

Thánh Phan-xi-cô khó khăn thường nói với các thầy dòng: “Đi nơi đâu cũng cứ rao giảng. Hãy dùng lời nếu cần”. Người ta luôn cẩn thận “lắng nghe” những hành động của bạn. Bạn “nói” gì với họ?

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)

8. MÓN QUÀ GIÁNG SINH


Đầu thập niên 1980, một cậu bé khoảng 14 tuổi tên là John sống trong trại mồ côi ở Old England (cổ Anh Quốc) với NHỮNG trẻ mồ côi khác. Mồ côi nghĩa là bị bỏ rơi và không được yêu thương. Hằng Ngày chúng còn phải làm đủ thứ việc từ sáng tới tối, nhưng ăn uống lại khem khổ, cuộc sống thiếu thốn. Chúng vẫn chấp nhận và biết ơn vì chúng “được” dịp làm việc…

Lễ Giáng sinh là ngày đặc biệt trong năm, vì trẻ em được nghỉ làm việc và nhận quà. Quà đặc biệt nhất là được ở trong Trại Mồ Côi. John đã ở trại mồ côi từ lâu, đủ để mơ về một ngày lễ Giáng sinh. Trong nước Anh thời xưa, một trái cam là “vật quí hiếm” đối với trẻ mồ côi. Nó có mùi vị đặc biệt vào dịp Giáng sinh. Trẻ em quí đến nỗi giữ nó và mân mê, vài ngày sau mới dám ăn – thậm chí cả tháng sau mới dám ăn, nhưng...hư rồi còn đâu! Chúng chỉ bóc vỏ để “thưởng thức” mùi thơm mà thôi. John thường ôm gối, nghĩ về mùi cam. Mùi thơm làm nó cảm thấy bình an. Nó nghĩ về tương lai tốt đẹp…

Năm đó, John vui mừng vì lễ Giáng sinh đang đến. Nó đã lớn. Nhưng nó sẽ để dành cam đến sinh nhật nó vào tháng Bảy. Đó là thói quen tốt của… trẻ mồ côi. Nó chỉ muốn thưởng thức mùi-thơm-tuổi-thơ. Giám đốc trại mồ côi nói: “John, năm nay không có cam cho con”. Nó rất buồn, trái tim như vỡ tung. Nó về phòng và khóc một mình…

Có tiếng mở cửa và hưng đứa trẻ mồ côi ùa vào. Elizabeth vừa cười vừa bước tới, mắt ướt đẫm, và nói: “John nè, của anh nè”. John rất xúc động. Đó là một trái cam đã lột vỏ và được chia làm tư… Nó nhận thấy mọi sự đã an bài. Mọi người đã chia sẻ với nó. John không bao giờ quên sự chia sẻ chân thành yêu thương vào dịp Giáng sinh đó. Sự bắt đầu đơn giản nhưng mang ý nghĩa quan trọng đối với sự trưởng thành và thành công của cuộc đời John.

Mỗi năm, để ghi nhớ ngày này, John gởi cam cho trẻ em ở khắp nơi. John mong không trẻ em nào không có quà đặc biệt của Chúa Giêsu Hài Đồng vào dịp lễ Giáng Sinh. Xung quanh chúng ta còn biết bao người sống thiếu thốn…

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)

9. TẶNG PHẨM YÊU THƯƠNG


Một sáng thứ Sáu, khi sắp sửa đi làm thì Bình nói với vợ rằng anh quyết định xin tăng lương. Cả ngày hôm đó Bình cảm thấy bồn chồn và lo lắng, không biết sếp có đồng ý hay không. Bình đã làm việc chăm chỉ 18 tháng qua, cũng đáng được tăng lương lắm.

Nghĩ đến việc gặp sếp mà Bình thấy chùn bước, vì sếp có tiếng là keo kiệt. Cuối chiều hôm đó, Bình lấy hết can đảm đi gặp sếp. Bình vừa vui vừa ngạc nhiên vì sếp đồng ý cho tăng lương ngay.

Trên đường về nhà, Bình ghé tiệm mua bộ chén kiểu mới. An, vợ anh, đã chuẩn bị bữa tối thịnh soạn với những món anh thích. Trên bàn có một tờ giấy An viết cho anh: “Chúc mừng anh yêu! Em biết anh đã được tăng lương. Em chuẩn bị bữa tối này để bày tỏ tình yêu em dành cho anh rất nhiều. Em hãnh diện về thành công của anh”. Đọc xong, Bình rất hạnh phúc có người vợ hiền đảm đang và biết quan tâm.

Ăn tối xong, Bình xuống bếp và thấy tấm thiệp ghi: “Anh đừng lo về việc không được tăng lương. Dù sao anh cũng đáng như vậy mà. Anh vẫn là người chồng tuyệt vời của em. Em chuẩn bị bữa tối này để anh biết em vẫn rất yêu anh dù anh không được tăng lương”.

Bình xúc động và khóc. An vẫn ủng hộ anh vô điều kiện, dù anh thành công hay thất bại.

Nỗi sợ hãi thường giảm đi khi chúng ta biết có ai đó vẫn yêu thương mình, bất kể mình thành công hay thất bại. Sự khuyến khích mạnh nhất mà bạn nhận được chính là tình yêu Thiên Chúa. Cứ trung tín và nỗ lực hết sức, Thiên Chúa luôn đồng hành với bạn dù có biến cố gì xảy ra. Ngài không kết án bạn vì những sai lầm và thất bại của bạn đâu. Ngài chữa lành mọi vết thương và làm chúng ta nên mới. Nhận được tình yêu Thiên Chúa là lúc Ngài làm chúng ta cảm động thông qua việc hỗ trợ tích cực của người khác – Bình được An ủng hộ.

Chúng ta có thể vượt qua nghịch cảnh nếu chúng ta biết có người đang yêu mình. Bắt đầu từ đâu? Bắt đầu bằng cách khám phá tình yêu bao la vô điều kiện của Thiên Chúa được thể hiện qua tặng phẩm là chính Đức Giêsu Kitô. Thánh Gioan viết: “Chúng ta yêu thương vì Ngài yêu thương chúng ta trước” (1Jn 4:19).

TRẦM THIÊN THU (Phỏng theo truyện của Louis Lapides)

10. CHÂN DUNG


Có người cha và con trai ngồi sát nhau và cùng xếp hình. Các bức tranh bất hủ đó của Picasso, Van Gogh, Monet và các danh họa khác được treo trên tường. Người cha góa vợ nhìn với vẻ thỏa mãn khi thấy con trai tỏ ra thành thạo. Ánh mắt con trai làm người cha thấy hãnh diện.

Mùa đông đến, chiến tranh bùng nổ. Con trai phải đi lính. Sau vài tuần, người cha nhận được điện tín. Con trai ông bị mất tích khi đang thi hành nhiệm vụ. Người cha lo lắng chờ thêm tin tức, hy vọng được gặp lại con trai. Vài ngày sau, ông biết chắc con trai đã tử vong khi cứu một người bạn bị thương. Buồn bã và cô đơn khi lễ Giáng sinh đang đến. Mùa an bình và hạnh phúc mà hai cha con mong đợi, nhưng không còn nữa.

Sáng ngày lễ Giáng sinh, tiếng gõ cửa làm ông tỉnh thức. Ông bước ra phía cửa, những tác phẩm nghệ thuật trên tường nhắc ông rằng con ông không trở về nữa. Cửa mở, ông thấy một người lính với một gói đồ lớn trên tay. Anh tự giới thiệu: “Thưa bác, con là bạn của con bác. Con bác đã chết khi đang cứu con. Con có thể vào nhà một lát được không bác? Con có cái này cho bác xem”.

Vào nhà, anh lính nói: “Con là một họa sĩ. Con muốn tặng bác cái này”. Mở giấy bọc ra, ông thấy hình chân dung của con trai. Dù thế giới không công nhận đó là tác phẩm của một thiên tài, nhưng bức họa đó vẽ khuôn mặt của một thanh niên rất chi tiết. Ông xúc động và cảm ơn anh lính. Ông treo hình chân dung đó ở chỗ lò sưởi.

Vài giờ sau, khi anh lính đã đi, ông ngồi trên ghế và lặng nhìn bức họa để tận hưởng lễ Giáng sinh. Suốt những ngày tiếp theo, ông nhận thấy rằng, dù con ông không trở về với ông nữa, nhưng con ông vẫn sống mãi. Ông biết con ông đã cứu nhiều chiến sĩ bị thương trước khi viên đạn làm ngừng đập trái tim nhân hậu của con ông. Niềm hãnh diện và mãn nguyện về con đã giúp ông nguôi ngoai nỗi đau. Bức chân dung của con ông là vật quý giá nhất của ông, ông không chịu nhường cho ai dù nó đáng giá hằng ngàn đô-la.

Năm sau, ông bệnh và qua đời. Bức họa được bán đấu giá theo di chúc của ông vào đúng ngày lễ Giáng sinh, ngày ông nhận quà tặng là bức chân dung con trai. Và ngày nay người ta có thói quen đấu giá vào dịp lễ Giáng sinh. Thông điệp vẫn là: Tình yêu của người cha. Quả thật, Đức Giêsu đã nói: “Thầy là Đường, là Sự thật và là Sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Jn. 14, 6). Thiên Chúa không chỉ sai Con Ngài đến thế gian, mà để thế gian được cứu độ nhờ Con Ngài” (Jn. 3, 17).

TRẦM THIÊN THU (Dịch truyện của tác giả Burt Dubin)
http://vietcatholic.com/News/Html/84071.htm



1. LÁ THƯ CỦA CHÚA GIÊSU


Con yêu dấu,

Khi con thức dậy sáng nay, Cha nhìn con và hy vọng con nói chuyện với con, dù chỉ là vài lời xin ý kiến Cha về điều gì đó tốt đẹp xảy ra trong đời con hôm qua, nhưng Cha thấy con quá bận rộn tìm đồ mặc đi làm hoặc đi học. Cha lại phải chờ đợi con. Khi con lăng xăng trong nhà, Cha biết chỉ còn vài phút cho con chào mọi người, nhưng con QUÁ BẬN RỘN. Cha thấy con cũng bồn chồn. Cha nghĩ con muốn nói chuyện với Cha, nhưng con lại nghe ĐT riêng. Cha theo doi bước chân khi con đến trường hoặc đi làm. Cha kiên nhẫn chờ con hết ngày này qua ngày khác. Với ác hoạt động của con, Cha đoán con quá bận rộn nện không có giờ nói chuyện với Cha. Cha biết rằng trườc khi con an trưa, con cứ nhìn quanh, có thể con thấy lúng lúng túng khi muốn nói chuyện với Cha rằg tại sao con không cúi đầu. Con nhìn ba bốn bàn bên cạnh, con thấy một số người nói vài lời ngắn gọn trước khi ăn, nhưng không phải như vậy. Sự thật là vậy. Vẫn còn thời gian. Cha hy vọng con sẽ nói chuyện với Cha.


Con về nhà và và hình như có nhiều việc con phải làm. Làm xong vài việc, con lại bật tivi hoặc internet. Cha không biết con thích tivi hay máy tính hay không, nhưng Cha thấy con dành nhiều thời gian ngồi trên máy vi tính, có thể con không nghĩ những người xung quanh đang cần gì ở con. Cha lại kiên nhẫn chờ con xem tivi và ăn tối, nhưng con vẫn không nói gì với Cha.

Lúc đi ngủ, Cha đoán con đã mỏi mệt. Sau khi chào tạm biệt người thân rồi ngủ. không sao, vì con không nhận thấy Cha luôn ở bên con. Cha Vẫn luôn kiên nhẫn chờ đợi con hơn cả điều con tưởng. Thậm chí Cha còn muốn dạy con biết kiên nhẫn với người khác. Vì Cha rất yêu con, từ lâu trước khi Cha Cha bỏ Trời xuống thế gian này. Cha bỏ Trời vì Cha muốn bị nhạo cười vì YÊU,, thậm chí là Cha được CHẾT vì con không thể thay thế Cha. Cha yêu con đến nỗi hằng ngày Cha chờ đợi con ĐỒNG Ý, CẦU NGUYỆN, SUY NGHĨ hoặc TẠ ƠN.

Thật khó mà nói chuyện “một chiều”. Con đã ĐỨNG DẬY và một lần nữa Cha vẫn chờ đợi không gì hơn là Tình Cha dành cho con, với hy vọng rằng con sẽ dành cho Cha một thời gian nào đó. Chúc con một ngày vui!

Cha luôn yêu con,

Ký tên: GIÊSU KITÔ

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)


2. THIÊN CHÚA CÓ NÓI VỚI CHÚNG TA?


Một thanh niên đã nghiên cứu Kinh thánh vào một đêm thứ Tư. Vị linh mục chia sẻ việc lắng nghe và vâng lời Chúa. Người thanh niên thắc mắc: “Chúa có nghe con người nói không?”. Sau thánh lễ, anh đi uống cà-phê với mấy người bạn và nói về chuyện vừa qua. Một số người nói Chúa dẫn dắt họ theo những cách khác nhau.

Chàng thanh niên lái xe về nhà khoảng 10 giờ. Ngồi trong xe, anh ta cầu nguyện: “Lạy Chúa, nếu Chúa bảo người ta nói với con thì con sẽ nghe, con cố gắng hết sức để lắng nghe”.

Khi anh lái xe dọc đường về nhà, anh có những ý nghĩ rất kỳ lạ, anh dừng lại mua ít sữa. Anh lắc đầu và nói lớn: “Có phải Chúa không?”. Anh không nghe tiếng trả lời và tiếp tục lái xe về nhà. Anh đắn đo và dừng lại mua thêm sữa. Anh nghĩ đến cách Samuel nhận ra tiếng Chúa và chạy đến với Eli. “Vâng, nếu là ý Chúa, con sẽ mua sữa”. Hình như quá khó để thử thách vâng lời. Anh luôn có thể dùng sữa.

Anh dừng lại mua sữa và và tiếp tục về nhà. Anh vẫn thấy lòng hối thúc quay trở lại chỗ cũ. Nửa đùa nửa thật, anh nói: “Chúa ơi, con sẽ quay lại”. Anh quay lại mà như mình không quay lại vậy. Trời tối, hình như mọi người đã đi ngủ. Anh nhìn căn nhà vắng tanh, anh cảm thấy điều gì đó: “Hãy đi giao sữa cho người trong nhà trên con đường đó”.

Anh mở cửa và ngồi nhìn: “Chúa ơi, người ta đang ngủ. Nếu con làm người ta thức giấc thì người ta phát điên lên”. Rồi anh mở cửa, nếu bạn thích thì tôi… chiều. Nhưng cứ yên tâm. Người đàn ông đứng đó mặc áo thun quần jeans, nhìn như mới ngủ dậy. Nhìn thấy… ngại. Chàng thanh niên đưa chai sữa và nói: “Tôi tặng anh chai sữa nè”.

Người đàn ông lấy sữa và chạy xuống dọc cầu thang. Người phụ nữ cầm sữa vào bếp. Người đàn ông theo sau đang bế con. Nó đang khóc. Người đàn ông vừa khóc vừa nói: “Chúng tôi vẫn cầu nguyện với Chúa. Chúng tôi không còn sữa cho con, tiền thuê nhà vẫn chưa trả. Tôi chỉ xin Chúa cho con tôi ít sữa”.

Người vợ từ trong bếp nói lớn: “Tôi xin Chúa sai thiên thần đem ít sữa đến. Anh là thiên thần hả?”. Người thanh niên sờ túi và rút ra ít tiền còn lại và đặt vào tay người chồng. Anh quay đi và khóc… Người đàn ông biết Chúa đã nghe lời mình cầu xin…

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)

3. ĐỒ THÊU CỦA CHÚA


Khi tôi còn là một cậu bé, mẹ tôi thường thêu rất nhiều. Tôi ngồi bên mẹ, vừa nhìn vừa hỏi mẹ làm gì. Mẹ nói mẹ đang thêu. Nhìn những đường vòng mẹ thêu, tôi nói với mẹ là rắc rối quá. Mẹ vừa cười vừa nhìn tôi và nói: “Con nè, con ra chỗ kia chơi một lát, khi nào mẹ thêu xong thì mẹ sẽ bế con và cho con xem nha”.

Tôi không hiểu tại sao mẹ thêu chỉ màu xẫm xen vào chỉ màu nhạt và tại sao nhìn rối mắt quá. Một lúc sau, mẹ tôi nói: “Con ngồi vào long mẹ đi”. Nhìn bên dưới thì như mớ bòng bong, nhưng nhìn bên trên thì thấy bông hoa đẹp hoặc cảnh hoàng hôn. Thật bất ngờ đến khó tin! Rồi mẹ nói: “Con nè, nhìn bên dưới thì con thấy rối nhưng con đâu biết rằng bên trên được sắp xếp trước rồi. Mẹ chỉ làm theo bản vẽ sẵn. Bây giờ con nhìn thì sẽ biết mẹ đã làm gì”.

Nhiều khi tôi ngước nhìn Cha trên trời và thưa: “Cha ơi, Cha đang làm gì?”. Ngài trả lời: “Cha đang thêu cuộc đời con”. Tôi nói: “Nhưng đời con có vẻ rắc rối quá. Sao con chỉ thấy màu xẫm mà không thấy màu sáng?”. Ngài lại nói: “Con ơi, con đang làm việc của Cha, rồi một ngày nào đó Cha sẽ đưa con về trời và đặt con ngồi vào lòng Cha, lúc đó con sẽ hiểu kế hoạch tiền định của Cha”.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)


4. XIN ĐƯỢC AN TÁNG VỚI CÁI NĨA


Một phụ nữ bị bệnh nặng ở giai đoạn cuối, có thể chỉ còn sống thêm 3 tháng nữa thôi. Chị chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng, chị mời linh mục đến nhà để trao đổi về những ước nguyện cuối đời của mình. Chị muốn trong thánh lễ an táng mình, những bài hát nào được hát, bài đọc nào được đọc, và kiểu mộ nào để an táng chị. Và chị muốn chôn theo chị một cuốn kinh thánh mà chị rất quý.

Mọi thứ sẵn sàng, vị linh mục chuẩn bị đi về thì chi chợt nhớ có điều rất quan trọng cần nói. Vị linh mục vui vẻ: “Còn gì nữa à, điều gì vậy?”. Chị nói: “Điều này rất quan trọng. Con muốn được an táng với cái nĩa cầm ở tay phải”. Vị linh mục nhìn chị, không biết nói gì nữa. Chị nói: “Điều này làm cha ngạc nhiên à?”. Vị linh mục trả lời: “Chị nói thật và nói rõ đi, tôi không hiểu nổi”.

Người phụ nữ giải thích: “Trong những năm sống, đi ăn uống và có gì ăn nấy, con luôn nhớ rằng khi hết món chính, người ta thường nói cứ cầm nĩa. Con thấy thích vì con biết có món gì đó sẽ ngon hơn. Con muốn cha nói với họ về điều gì đó tốt hơn sẽ đến với họ”.

Vị linh mục khóc vì vui và chào biệt chị, có thể đây là lần cuối gặp chị. Nhưng vị linh mục biết rằng chị sẽ lên Thiên đàng, vì chị BIẾT điều tốt đẹp đang tới.

Tại buổi lễ an táng, người ta đi ngang quan tài chị (nắp bằng kính) và họ thấy chị vẫn mặc chiếc áo đầm và tay phải cầm cuốn kinh thánh. Vị linh mục cứ thắc mắc không biết cái nĩa là sao nữa. Trong bài giảng, vị linh mục kể lại cuộc đối thoại của mình với người phụ nữ trước khi chị qua đời, với chi tiết là cái nĩa có ý nghĩa gì đối với chị. Vị linh mục nói mình không thể không suy nghĩ về cái nĩa, nhưng xin mọi người đừng nghĩ về cái nĩa.

Đúng vậy. Dù sao, chỉ cầu mong Chúa chúc lành cho bạn và giữ gìn cuộc đời bạn bình an.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)


5. TÌNH YÊU BẤT TỬ


Nữ tiểu thuyết gia Thiên Chúa giáo Robin Jones Gunn nói: “Hồi nhỏ, tôi đọc được một chuyện tình đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Đó là câu chuyện về một anh chàng không quên mối tình đầu của mình. Suốt 3/4 cuốn sách, chàng đã làm mọi thứ để chứng tỏ tình yêu chàng dành cho nàng, nhưng nàng vẫn không quay lại với chàng. Cuối cùng, chàng cưỡi con bạch mã và đưa nàng đi xa để nàng làm vợ cùng sống với chàng suốt đời”.

Thiên Chúa là Tình yêu Bất tử, Ngài không ngừng theo đuổi chúng ta, vì chúng ta là mối tình đầu của Ngài. Robin luôn suy tư về cuộc gặp gỡ của Chúa và chị. Một cô gái 23 tuổi như chị đã học hỏi nhiều về Chúa Giê-xu nhưng không biết rõ Ngài.

Một lần đi trại hè, lời của xướng ngôn viên làm chị thấy ấn tượng: “Chúa không có cháu chắt nào. Cha mẹ bạn tin Chúa, nhưng điều đó không làm cho bạn có đức tin. Bạn phải là con cái Chúa bằng cách tiếp nhận Chúa”. Lời đó luôn ám ảnh Robin, chị biết mình muốn biết Chúa Giê-xu. Chị muốn xin Ngài đến trong cuộc đời chị và làm chị trở nên con cái Chúa. Từ đó, chị viết rất nhiều về Chúa…

Được tạo bởi Blogger.