Truyện Ngắn: Phố ABỒ


Alice Springs? Gớm! Cái phố nhỏ như mắt muỗi, có đốt đuốc cháy mười ngày cũng chẳng nom thấy đâu trên bản đồ nước Úc.


Chẳng bù lại cho Sydney, tòa nhà con sò Opera trắng toát kim cương, lấp lánh bạc vàng. Cầu Harbour bắc ngang lung linh soi bóng màu xanh biêng biếc đại dương. Đêm giao thừa, pháo bông bắn chạy dọc ngang đốt sáng rực một cõi thiên thai. Tuyệt vời! Thiên đàng hạ giới!

Melbourne, thành phố văn hóa một ngày bốn mùa duyên dáng như cô gái tuổi hai mươi lăm, không quá trẻ để mà ngớ ngẩn ăn nói vô duyên mất lòng thiên hạ, mà cũng không đã toan về già tàn phai nhan sắc.

Brisbane, khu phố Việt rộn ràng hàng quán. Muốn dựa mận thịt chó hả? Cứ kín đáo ghé vào nói nhỏ mấy câu thôi. Nhớ! Đừng có ồn ào tuồng như chợ trời Dandenong, thiên hạ Úc Châu biết, người ta cười cho vào mặt. Ừ, nói nho nhỏ thôi. Bồi bàn trong bếp khệ nệ bưng ra ngay tô medium, bốc khói thơm mùi mẻ cười cười nói khẽ dựa mận kangaroo chính hiệu con nai vàng Úc Châu.

Adelaide và Perth nào chịu thua kém, bên tám bên mười, tiết canh lòng lợn, mỗi phố một vẻ mười phân vẹn mười. Tới đi, biết liền. Bảo đảm thịt chó chính hiệu Kiếm Đen Ông Tạ! Nếu không hài lòng với đặc sản, chủ quán đích thân lái xe Bimmơ đi thẳng một mạch tới quầy móc túi hoàn trả lại bằng tiền tươi.

Nhỏ nhất phố cảng Darwin. Nhưng nhắc tới tên ai mà lại không biết thị trấn Nhất Kiếm Trấn Ải. Phố Darwin nhiệt đới nổi danh xoài tượng chấm mắm tôm, nhãn tiến vua hột bé đầu kim bán từng chùm dọc vỉa hè phố Việt! Buồn buồn, muốn bay về Việt Nam, JetStar bán vé khứ hồi Darwin-Sài Gòn, rẻ như bèo! 90 đồng một vé. Ngủ bốn tiếng trên phi cơ. Mở mắt ra, Sài Gòn hoa lệ chớp sáng dưới chân.

Đấy!

Ai đâu như cái chấm đen Alice Springs! Thiên hạ có mấy người biết. Hỏi thăm hàng xóm Việt Nam xa gần,

— Này, này, có biết cái phố Alice Springs ở đâu không?

— Ai mà biết! Hình như Alice Springs hàng xóm, sát nách Darwin đấy…

Khổ! Hỏi han khô cả nước miếng mà người Việt nào có mấy người biết… Lên trang mạng Google đánh đại vào hai chữ Alice Springs cầu may. Khi đó mới tá hỏa tam tinh. Chết chửa! Alice Springs nằm ngay giữa nước Úc, toàn là dân Abồ (Aboriginal), thổ dân Úc Châu chính hiệu. Thành thật thú nhận, nói chung dân Úc gốc Việt không biết nhiều về phố sa mạc Alice Springs. Có gọi cứ như gọi đò sang sông mà cũng chẳng có ma nào ghé viếng thăm phố…thì thôi… xin phép, cứ gọi là phố Abồ. Cho tiện!

Phố Abồ trên dưới ba mươi ngàn dân. Mùa hè tháng Chạp trời nắng cháy đỏ quăn tin tít mái tóc, thiên hạ rủ nhau chạy trốn xuống phương nam phố Adelaide tránh hạn. Khi đó Abồ vắng hoe tựa phố ma ám! Nhưng đừng có nhìn mặt mà bắt hình dong! Sau tháng Giêng, gió hây hây thổi mát lòng người, dân phố Abồ lườm lượt rủ nhau “cóc chết ba năm, quay đầu về núi!”. Khi đó phố vắng lại đông tựa như hồn ma ngày cúng cô hồn! Phố Abồ nhỏ đến nỗi dạo chơi thong thả khoảng ba mươi phút là hết nhẵn. Khu phố chính, giời ạ! đếm được đúng hai con đường, một, Hartley, hai, Todd Mall. Hartley, công sở, thương xá và chợ búa; dân địa phương và khách du lịch dập dìu ban ngày. Todd Mall, ngược lại, rộn ràng khoe sắc về đêm. Mặt trời vừa biến mất sau rặng núi xa xa, quán sá tuần tự hú nhau bật đèn, soi đường dẫn lối du khách rủng rỉnh túi tiền vào ăn tối. Trong quán tiếng Đức tiếng Pháp trộn lẫn tiếng Tàu tiếng Hàn xì xà xì xào. Ngoài đường quân ta chính gốc Abồ hét tiếng thổ. Thế là nguyên hình phố Abồ phơi ra. Hợp Chủng Quốc thứ hai! Đủ sắc dân, đủ loại người!



oOo

Hôm nay trưa tháng Giêng, phố Abồ nóng kinh hồn! Nhiệt độ mùa hè chỉ cao con số 42 đỏ bầm tiết canh! Thiên hạ nhăn mặt nhăn mũi, trốn hết. Nhưng lạ chưa, cha xứ nhà thờ Abồ đang ngồi ăn trưa tỉnh bơ trong quán. Mặt ông đỏ bừng bừng, chẳng biết tại rượu vang đỏ hay tại trời nắng gắt. Người tinh mắt kháo với nhau cha xứ nhà mình hồi xưa đeo bông tai. Không tin, bữa nào cứ làm bộ kéo ghế ngồi sát sát phía bên tay trái. Lỗ xỏ nhìn vẫn còn rõ mồn một.

Nhiều người không ưa cha xứ nhà thờ Abồ bởi nhiều lý do. Thứ nhất, ông làm cha mà chẳng ra vẻ cha cụ tí nào. Mở miệng là có tiếng đệm, tiếng Đan Mạch um xùm tựa dân trà đá, xích lô,

— Con bà nó!...

Thiên hạ khó chịu cự nự rùm trời,

— Cha cụ thời nay, đố có ai hiểu!

Y phục xứng kỳ đức! Cha cụ Kangaroo, mặc dù không cổ trắng áo chùng thâm đen như cha cụ Việt Nam, nhưng ai nấy đều có cây thánh giá nho nhỏ cài cổ áo. Nhìn biết liền cha cụ. Cha xứ nhà thờ Abồ… Well, xin lỗi, năm thì mười họa cài được cây thánh giá vào áo. Nhưng kiếng hiệu Versace, ông có hai, một kiếng râm, một kiếng cận. Đồng hồ Longines nhận hột kim cương nổi cồm cộm tay trái. Tối tối mười hai con số phát sáng dạ quang nhìn đẹp rực rỡ như bầu trời sa mạc lấp lánh sao đêm. Quần, áo, giầy, ông chơi toàn đồ hiệu, CK, Giorgio Armani, Kenneth Cole. Không thiếu! Đủ cả! Thiên hạ không nhịn được, bĩu môi, buông nhời,

— Hèn chi giáo xứ nghèo! Ván lễ nào cũng hai ba lần quyên góp!

Nhưng cái rắc rối khiến ông nổi tiếng nhất vùng là bởi thằng Quasimodo. Khổ! Ông nuôi thằng bé gần mười lăm năm nay rồi. Hồi đó ông nói với giáo dân mẹ nó người Abồ chết vì ung thư. Trước khi nhắm mắt qua đời, ông kể chuyện, người phụ nữ thều thào,

— Cả đời con chưa bao giờ mở miệng ăn mày nhà thờ...

Nhắm đôi mắt đã gần lạc thần, người đàn bà thổ dân bập bẹ đôi môi nứt nẻ,

— Giờ, con chỉ xin Chúa, xin nhà thờ một chuyện mà thôi...

Ông nói ông bị đặt vào tình thế bỏ thì thương mà vương thì tội. Trước mặt một người đang hấp hối, chẳng lẽ cương quyết lắc đầu? Ai nỡ! Nhưng làm cha cụ, trông coi một giáo xứ hẳn hoi, giờ mang thằng nhỏ về nuôi, thật đúng đẽo cầy giữa chợ. Thiên hạ bàn ra tán vào, ông chịu sao thấu!

Nghe ông kể chuyện, có người không kiêng nể, cắc cớ hỏi thẳng thừng,

— Vậy bố nó đâu? Sao không giao thằng bé cho bố đẻ nó nuôi?

Ông sa sầm nét mặt, chép miệng, nói mà như than, nói mà như đang nói với chính mình,

— Khổ! Nào có biết bố nó ở đâu!

Ông thểu não bổ túc chi tiết như người khai cung,

— Tôi có hỏi nhà thương, nhưng họ nói không biết... Đơn nhập viện, cô ấy để trống tên bố thằng nhỏ!

Có người hỏi tới,

— Sao cha không tới làng của cô ấy mà hỏi cho ra lẽ…

Ông thở dài sườn sượt,

— Biết! Tôi cũng đã cất công lái hơn ba tiếng đồng hồ đường đất tới đó. Nhưng ai cũng nói cô ấy bỏ đi lâu lắm rồi. Nghe nói nấu bếp cho ai đó… Mấy tháng trước ôm thằng con trai mấy tháng về nền đất cũ, dựng lại túp lều… Rồi đổ bệnh…

Vuốt lại đôi mắt cho người một thời nấu bếp cho nhà xứ, ông bế thằng nhỏ về nhà xứ. Mấy hôm sau ông làm giấy khai sinh, đặt tên John, nhưng vẫn giữ nguyên họ mẹ. Thiên hạ cắc cớ thì thào truyền miệng gọi thằng nhỏ Quasimodo, tên của nhân vật thằng gù nhà thờ Đức Bà. Riết, cái tên đẹp đẽ, chẳng ai nhớ. Mở miệng ra là,

— Quasimodo… Mày đâu rồi, Quasimodo?

Mà thằng bé lành như Bụt. Nghe thiên hạ gọi Quasimodo, cũng quay lại, miệng cười tươi, nhe hai hàm răng trắng bóc người Abồ. Thế là chết tên!

Quasimodo giờ cũng đã lớn tướng. Mười ba tuổi rồi. Thiên hạ thì thào,

— Khéo vẽ! Làm bộ dựng chuyện mẹ nó dân Abồ, chết vì ung thư.

— Ừ! Nhìn mặt nó đi, ai dám biểu dân Abồ…

Mà cũng khó trách thiên hạ lời ong tiếng ve. Quasimodo người Abồ, nhưng trắng tươi màu da Viễn Đông, tóc không quăn tít, nhưng thẳng, cứng, đen, sợi tóc dầy và bóng…

— Thì cứ đợi đi...

— Đợi cái gì?

— Thì còn đợi cái gì? Đợi nó lớn hẳn hoi, ắt biết!

— Biết cái gì?

Người đàn ông gắt gỏng,

— Ơ hay! Biết cái gì? Thì biết ai là bố đẻ của nó ngay chứ còn biết cái gì…

Người kia càu nhàu,

— Vẽ chuyện. Cần gì phải đợi. Cứ thử DNA thì lòi ra ngay. Việc gì phải chờ! Rách việc!

Người kia không vừa, tay chỉ về phía nhà xứ,

— Ông nói hay lắm. Sao không tới thẳng nhà thờ, gõ cửa, nói với ông ấy…con nhờ cha dẫn thằng Quasimodo tới phòng Lab lấy máu thử nghiệm… Chỉ được cái tài tán hươu tán vượn!

Ngoài vụ thằng Quasimodo, thiên hạ gặp nhau hay tụm ba tụm bẩy thì thào,

— Ổng gặp đàn bà con gái là miệng cứ tươm tướp…

— Nè, ăn nói phải cho cẩn thận. Ở đây tai vách mạch rừng. Dầu sao người ta cũng người tu hành…

— Tu hành cái mốc xì! Bụt ngồi trên chùa, gà nào mổ mắt! Nhìn mặt biết liền thầy chùa thịt chó!

— Sao chị biết?

— Tối thứ Ba, ghé vào tiệm Paradise. Thấy liền… Lộ nguyên hình!

Người kia nhăn đôi chân mày kẻ chì nét nhỏ xíu, mặt ngớ ngẩn hỏi lại,

— Paradise? Tiệm nào vậy cà?

— Bà nội! Kỳ này đổi tánh rồi hay sao? Melbourne, bà là chuyên viên sòng bài cơ mà…

Người phụ nữ cự nự,

— Chị, cái tật cứ ưa nói quá! Tiền đâu mà sòng bài với sòng bạc. Bỏ lên phố Abồ là nương nhờ cửa chùa, xuống tóc đi tu rồi.

Người kia gật gật đầu, nhìn người đối diện, ánh mắt nghi ngờ,

— Để coi! Anyway… Paradise là tiệm ăn của sòng bài lớn nhất phố. Bữa nào quởn quởn, tui dẫn tới đó ăn tối cho biết.

— OK. Nói, nhớ giữ lời. Ủa, nhưng đang nói chuyện ông cha cơ mà, giờ sao đổi đài nói chuyện tôi bà nội!

— Ừa hén, quên! Chiện là như thế này. Có mấy lần thứ Ba, tui ghé vào Paradise ăn tối. Tối thứ Ba, Paradise on sale. Mua hai phần ăn, người thứ ba được ăn free. Cho nên tối thứ Ba quán ăn đông nghẹt. Ta nói lần nào cũng vậy, bước chân tới quán là thấy ổng ấy xúm xít với mấy bà mấy cô, nhất là gái Phi... Ông thần, thiệt hết nước nói!

Người đàn bà thì thào,

— Mà nói cái này, chỉ có bà chị nghe thôi. Đừng có oang oang cái miệng. Tới tai ổng, ổng cự tui tắt đài.

Người phụ nữ mặt khẩn trương,

— Có mấy lần tui còn thấy ổng ấy kéo máy. Lấp lấp trong xó, sợ người nhìn thấy. Nhưng có mà thoát được cặp mắt của tui.

Bà ta bĩu môi,

— Nhà thờ thì nghèo, giáo dân toàn dân Abồ, tiền lương được mấy đồng! Cái này chắc là lại ngứa ngáy tay chân, móc tiền nhà thờ táy máy kéo máy...

Bà ta bồi một cú chót,

— Bài giảng Chúa Nhật, Chúa Mẹ không thấy nhắc nhở, cứ mở miệng là tiền. Trăm lần cả trăm. Không thiếu lần nào! Ai cũng ngáp, chán ngấy như cơm nếp nát!

Người phụ nữ gốc Melbourne như chợt nhớ ra, thắc mắc,

— Sao bà không đi lễ nhà thờ khác?…

Người kia bĩu môi, dài cả tấc,

— Có mà đi lễ nhà thờ khác!

— Ủa! Sao vậy?

— Nhìn đi! Quanh đây có nhà thờ nào khác cho người ta shop around...

Đúng là như vậy! Ngẩng lên hướng bắc, nhà thờ Tennant Creek, 508 cây số đường trường. Chẳng lẽ gia đình con cái túm tụm dẫn nhau lái xe năm tiếng đồng hồ thánh lễ cuối tuần. Được một ván lễ, mất toi mười tiếng lái xe. Có mà khùng! Quay xuống hướng nam, ngót nghét 650 cây số dẫn tới nhà thờ hầm Coober Pedy, đường xa vạn dậm. Ngó sang hướng đông có nhà thờ thổ dân nhỏ bằng cái lỗ mũi, đường đất đỏ đá sỏi góc cạnh 80 cây số. Lái khoảng một tiếng, banh-ta-lông luôn cả cái xe đời mới. Nhìn về hướng tây, đồng không mông quạnh. Thôi, đành chịu phận cá nằm trên thớt!

Đó, nom cho kỹ đi. Ông bà mình nói, “Ba mặt một nhời”… Đó! Quán Gardens nổi tiếng trên đường Todd Mall, ông cha xứ vẫn còn đang ngồi với mấy người thân, người xấu miệng gọi đó là tay chân, lính của ổng. Tiếng cười tiếng nói râm ran, cứ như chợ phiên Todd Mall họp cuối tuần.

Thiên hạ đang nhăn nhăn mặt nhìn, bất ngờ tiếng chân chạy huỳnh huỵch trên mặt đường nhựa nổi lên lôi kéo nhiều người chuyển hướng. Tưởng ai, hóa ra thằng Quasimodo. Mặt nó tái xanh! Sợi tóc lòe xòe bay phất phới theo bước chân chạy. Nó thì thào vào tai ông cha xứ mấy câu. Tới phiên ông, mặt đang đỏ bừng bừng, chuyển sang xanh tái. Ông kêu to, “Chúa ơi!” Ông vội vàng đứng dậy, hốt hoảng bỏ đi. Thiên hạ hiếu kỳ, xếp hàng rồng rắn nối đuôi theo sau.

Chuyện chi vậy cà?

Từ quán ăn về tới nhà xứ trên dưới năm phút. Một đoạn đường ngắn. Vượt qua cánh cửa nhà thờ lúc nào cũng mở rộng, mọi người hốt hoảng nhìn lên tượng Đức Mẹ Abồ. Người người hốt hoảng nhận ra thánh nữ đồng trinh máu đỏ ngấn tròn con mắt trái!!! Dưới chân tượng, những hạt máu đọng lại vẫn còn đỏ tươi…

Thiên hạ người người rú lên!

Một người bình tĩnh bước tới, giơ ngón tay quẹt nhè nhẹ vào giọt máu dưới chân tượng. Ông đưa ngón tay lên mũi ngửi ngửi. Mặt ông tái xanh, miệng nói ngay, “Mùi máu tanh nồng!”. Người đàn ông nhìn qua khung cửa, bầu trời xanh ngăn ngắt bỗng dưng vần vũ kéo mây đen. Ông quỳ thụp xuống ngay dưới chân tượng, trái tim thép nguội từ bao lâu nay bỗng dưng mềm nhũn, đôi môi ông thầm thì lời kinh! “Kính mừng Maria! Đầy ơn phúc”…

Tiếng đồn vang xa, chẳng mấy chốc cả phố Abồ kéo tới chật ních sân giáo đường. Vòng trong vòng ngoài người san sát. Người Abồ, dân Úc, người Ấn Độ, Phi Luật Tân, đủ cả, dân địa phương cũng như du khách, tất cả sát sát… Tiếng người đọc kinh, tiếng người thì thào, tiếng khóc sụt sùi, tiếng đấm ngực thùm thụp, tiếng khóc nức nở! Tất cả trộn lại, tưởng như tận thế đã tới, bắt đầu từ phố Abồ…!



oOo

Cha xứ Abồ rút lui vào trong phòng, không quên treo ngoài khung cửa nhà xứ bảng chữ to tướng, “Closed”!

Ông suy nghĩ, không hiểu chuyện gì đã xảy ra! Tượng thạch cao Đức Mẹ Abồ đứng ở đó cả chục năm nay rồi. Từ những ngày đầu tiên khi đặt chân tới phố Abồ nhận nhiệm sở mới, ông đã nhìn thấy tượng đứng cao trên bệ, góc trái nhà thờ, ngay dưới chân cột trụ của gác ca đoàn. Giáo dân nhiều người như một thói quen thường lệ, sau thánh lễ, hay dừng một bước chân trước tượng đài đốt nến cầu xin. Tiếng đồn Đức Mẹ Abồ linh thiêng vang xa, bởi nhiều người đã nhận được ơn. Bởi thế, tượng đài hương khói nghi ngút. Sáng sớm, lái xe tới công sở, giáo dân dừng lại một bước chân, ghé vào đốt nến, đọc một lời kinh. Chiều, tan sở, người người ghé vào, lại đốt nến cầu xin. Ban ngày có người Abồ, đôi tay chắp lại đầu cúi xuống. Chiều tối du khách lời kinh râm ran một góc nhà thờ. Thông thường, tượng đài chỉ vắng bóng người sau khi ông đóng cửa nhà thờ lúc 8 giờ tối. Vào giây phút đó, chính ông cũng đã nhiều lần đốt nến, quỳ xuống đọc những lời kinh cho mẹ ông và người thân. Hoặc vào những lúc bối rối, tượng đài là nơi ông ghé vào. Ông quỳ đó, đầu cúi xuống, suy nghĩ và cầu nguyện…

Cũng bởi tượng đài linh thiêng, đã rất nhiều lần ông mở cửa văn phòng, chỉ đế tiếp đón những người khách hoàn toàn lạ mặt. Nói chuyện được mấy câu, ông mới biết họ người Sydney, Melbourne, và cả từ khắp nơi trên thế giới. Qua một lần dừng lại nghỉ ngơi tại phố Abồ, nghe đồn tượng đài linh thiêng, Công Giáo cũng như không Công Giáo, họ đến trước tượng đài, đốt nến cầu nguyện với Đức Mẹ Abồ. Ơn trời tuôn đổ, người hiếm muộn, về tới nhà, tự nhiên thụ thai, sinh con, mà lại sinh đôi, một trai một gái đề huề. Ông nhớ, trưa hôm đó, người triệu phú Hong Kong một thời hiếm muộn vừa khóc vừa nói lời cám ơn Đức Mẹ, tay đưa ra hộp quà nho nhỏ nói, xin phép, kính tặng nhà thờ. Ông để món quà trên ghế, rồi cũng quên đi. Mấy ngày sau, thằng Quasimodo vô tình nhìn thấy. Nó cầm lấy, gõ cửa đưa cho ông. Ông hờ hững mờ ra coi. Cả ông và thằng Quasimodo khi đó mới giật mình nhận ra đồng hồ Longines nhận hạt kim cương hột to, mười hai con số dạ quang sáng lấp lánh!?

Cứ thế, giữ chùa ăn oản, ông sở hữu bao nhiêu hàng hiệu nổi tiếng của du khách từ khắp năm châu ghé vào tạ ơn Đức Mẹ và nhà thờ. Tuần một lần, lái xe vô buôn làng người Abồ công tác, ông mang theo quần áo hàng hiệu chia đều. Người Abồ ghé vào nhà thờ gặp ông xưng tội, ông dẫn tới tủ của hội bác ái Vinnies, lấy đồ ra tặng. Tùy trường hợp, có khi đôi giầy Kenneth Cole, khi cái áo CK.

Làm cha xứ nhà thờ Abồ, hai điều khiến ông hằn sâu vết nhăn là tệ nạn đánh bạc và hiện tượng ăn sương của phố nhỏ. Sòng bài nổi tiếng giữa phố, lúc nào cũng dập dìu giáo dân của ông, đông nhất người Phi Luật Tân, kế tiếp dân Abồ. Làm được bao nhiêu tiền, con chiên của ông ghé vào sòng bài, nướng hết! Có những lần nhận được bản tin, biết là dễ bị mang tiếng thị phi, nhưng ông liều, đi thẳng tới khu kéo máy, năn nỉ giáo dân của ông đứng lên, đổi tiền, đi về nhà. Nể mặt cha xứ, nhiều người ngần ngại bỏ đi. Mà thiệt tình, không về cũng không được với ông, bởi ông cứ đứng đó, nói tới nói lui. Đánh bạc mà có người đứng cạnh lải nhải như ma âm phủ, dù có đang là vận đỏ cũng hóa đen thui! Thua là cái chắc!

Nhưng ông lỳ, có người còn lỳ hơn ông! Gia đình người này, năm mặt con thơ. Nhưng khổ! Tiền lương, hai vợ chồng nướng sạch! Năn nỉ hoài, không được! Ông đứng bên cạnh máy kéo, lôi ra tràng hạt đọc kinh Mân Côi. Ông to tiếng cầu nguyện với Đức Mẹ Abồ. Không biết tại Đức Mẹ Abồ linh thiêng hay bởi ông lỳ lợm, hai vợ chồng nhà này đứng dậy, bỏ đi thẳng một mạch. Từ ngày hôm đó, họ không ghé vào sòng bạc nữa. Ai nói gì thì nói, ông, ông tin Đức Mẹ Abồ đã hoán đổi tâm hồn đôi vợ chồng.

Riêng cái vụ ăn sương! Chuyện là như thế này… Abồ là phố du lịch. Thiên hạ từ khắp nơi trên thế giới nườm nượp đổ về phố nghỉ qua đêm, sáng hôm sau lái xe thêm năm tiếng nữa thăm viếng hòn đá Uluru hoàng hôn đổi màu rực rỡ. Du khách năm châu kéo về, tình hình kinh tế phố Abồ vững vàng như kiềng ba chân. Nhà hàng năm sao, khách sạn mười tầng, văn phòng du lịch dựng cao bảng hiệu phục vụ túi tiền du khách. Nhưng kỹ nghệ du lịch cũng dẫn tới kỹ nghệ ăn sương. Nhiều người phụ nữ, sau một đêm trắng tay với sòng bạc, liều lĩnh bán mình cho khách du lịch. Tối thứ Ba nhà hàng Paradise là nơi khách ghé vào chọn lựa hàng hóa: Úc Châu tóc vàng, Abồ ngăm ngăm, đủ cả, muốn bao nhiêu có bấy nhiêu. Tiền trao ra, cháo múc liền! Tú bà tú ông cứ thế ngồi đếm tiền mỏi tay!

Làm cha cụ, thấy cảnh cờ bạc sa cơ lỡ bước dẫn tới cùng đường liều lĩnh của giáo dân, chẳng lẽ ông nhắm mắt làm lơ? Mai này trước tòa Chúa, ông biết ăn nói ra sao. Một lần nữa, cực chẳng đã, tối thứ Ba, ông lại phải ghé vào nhà hàng rảo mắt trông chừng, dù biết có nhiều ánh mắt chăm chú theo dõi, những đôi môi thì thào khi thấy ông tự động kéo ghế ngồi chung bàn với những người phụ nữ, cũng chính là giáo dân của ông…

— Hi, Linda…

— Wow! Father! What a surprise!… What’re you doing here?

— What am I doing here? Well, I just want to have dinner.

Cứ thế.

Ông chép miệng, ông không vào địa ngục, ai sẽ vào? Đã có mấy lần, ông kịp thời xuất hiện khuyên răn người phụ nữ dừng bước trước khi lún sâu vào trong vũng bùn.

Tú bà tú ông giận lắm! Bởi ông hốt đi gần hết những miếng mồi thơm. Còn lại được mấy mạng, nhăn nheo tóp tép, chẳng ma nào nhòm! Bởi thế, có lần nửa đêm về sáng, chuông điện thoại trong phòng ngủ reo inh ỏi. Ông lồm cồm ngồi dậy, tưởng nhà thương gọi xức dầu. Nhưng không, đầu giây bên kia giọng nghèn nghẹt như người lấy hai ngón tay kẹp lỗ mũi. Hăm dọa nổi lên,

— Còn léo hánh tới Paradise phá đám, ông cắt…cho mày chừa… Lúc đó đừng trách không báo trước…

Bởi ông lì đòn, tình hình giáo xứ mấy năm nay đã tạm yên. Giáo dân bớt đi hoang… Ngày Chúa Nhật cuối tuần người người tấp nập kéo về thánh đường tham dự thánh lễ sốt sắng. Sòng bạc giữa phố vắng teo, ế như chùa Bà Đanh!

Mặc dù biết cờ bạc là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều tệ đoan xã hội, nhưng từ bao nhiêu lâu nay chính quyền Abồ vẫn không làm chi được. Nay thấy ông cha xứ thành công dẹp tiệm sòng bài, giải tán băng đảng ăn sương, nhiều lần chính quyền Northern Territory và phố Abồ ghé vào nhà xứ kín đáo nói cám ơn.

Chỉ riêng có cái vụ thằng Quasimodo, cha xứ nhà thờ Abồ lắc đầu, vẫn là mối bận tâm lớn, ông chưa biết giải quyết ra sao. Nó càng lớn, tóc càng đen, khuôn mặt Á Châu càng rõ nét, ông lại càng ngong ngóng chờ… Càng chờ, ông càng băn khuăn, tối tối ông hay quỳ cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ Abồ...

Ông nhớ chiều hôm đó, Sở Di Trú từ Darwin ghé vào văn phòng nhà xứ. Qua câu chuyện, ông mới biết hiện tượng thuyền nhân Việt Nam, tưởng đã chấm dứt từ lâu, nhưng không. Nhân viên Sở Di Trú lần đó nhờ ông bay lên trạm cấm tỵ nạn Darwin làm thông dịch viên cho một gia đình Việt Nam. Thuyền gỗ nhổ neo, lênh đênh mặt biển hơn hai tuần lễ. Cuối cùng bị cảnh sát biên phòng Úc Châu chặn bắt ngoài khơi. Gia đình gồm hai vợ chồng, và mấy người con. Ông chồng đánh cá, một thời sống ở thành phố, tướng người lanh lợi, mặt mũi sáng sủa, dẻo miệng, trong khi đó cô vợ nhu mì hiền lành, người thấp nhỏ. Về sau ông mới biết, sau một lần vụng trộm, gia đình đằng gái phải vừa gả vừa dúi vào tay ông con rể đào hoa mấy lạng vàng cho xong chuyện. Nhận lời mời của Sở Di Trú, cha xứ Abồ bay lên Darwin, ghé trại cấm, thường xuyên thăm viếng. Khi cả gia đình được nhận tái định cứ tại Úc, cũng chính Sở Di Trú mở miệng nhờ ông ký giấy bảo lãnh. Ông nhận lời, mang cả gia đình tỵ nạn về phố Abồ…

Người chồng làm Bõ coi sóc nhà thờ, đốt nến, đóng cửa. Được hơn một năm, gia đình ông Bõ rời phố Abồ, dọn nhà về Springvales, phố Melbourne. Giáo dân ngạc nhiên nhận ra cùng thời gian đó, người bếp gốc Abồ, tự nhiên biến mất. Nhiều người hỏi, nhưng cha xứ nhà thờ Abồ yên lặng hoặc lơ lơ lãng sang chuyện khác…

Đã gần mười lăm năm nay…

Ông cha xứ ngước nhìn qua khung cửa sổ. Trời chiều mùa hè chạng vạng, nhọ nhem mặt người. Ông nhìn đồng hồ treo tường, gần chín giờ tối. Ông đứng dậy, đầu óc vẫn còn rối bời. Liếc nhìn qua khung cửa, ông nhận ra mặc dù hai cánh cửa sắt nhà thờ đã khóa chặt, một vài bóng dáng giáo dân quen thuộc còn đang chờn vờn đi tới đi lui trên sân nhà thờ. Từ chiều tới giờ, chuông điện thoại liên tục reo vang, nhưng ông quyết định không trả lời.

Ông thắc mắc không hiểu ai là tác giả câu chuyện lạ. Có thể sòng bài Paradise kiếm cách phá ông. Một lần ông nhận được bưu kiện, tưởng chi, mở ra, bên trong nguyên cây thánh giá bằng gỗ, bị bẻ gẫy đôi! Ông biết họ muốn nói gì. Rồi cũng chính sòng bài nhiều lần tung tin đồn ông lăng nhăng. Có lần họ trả tiền giáo dân viết thư lên Tòa Giám Mục tố ông thậm thụt tiền nhà thờ đi đánh bài và bao gái. Nhưng nếu sòng bài muốn triệt hạ ông, tại sao họ lại dựng lên hiện tượng thánh nữ đồng trinh khóc chảy máu?

Bước ra khỏi cửa phòng, ông nhìn mùa hè còn rơi rớt trên sân vườn nhà xứ những tia nắng thoi thóp. Ông quyết định bước thẳng tới cánh cửa bên hông nhà thờ. Tay vặn chià khóa, ông đẩy cánh cửa gỗ sang một bên. Ông nhìn cung thánh, tay làm dấu, rồi quay sang hướng tay phải. Tượng thánh nữ đồng trinh vẫn đứng đó, im lìm. Ông bước tới, chăm chú nhìn lên khuôn mặt Đức Mẹ Abồ. Máu đỏ của con mắt trái to tròn đã khô. Ông nhìn xuống dưới chân tượng, những hạt máu đỏ khô vẫn còn đó. Ông cúi xuống thấp, ngửi ngửi… Đúng mùi máu! Ông lại ngước lên nhìn. Khuôn mặt thánh thiện Đức Mẹ Abồ vẫn hướng lên cao… Ông ngước lên nhìn theo. Ông nhận ra phía trên là căn gác lửng, nơi ca đoàn tập hát và hát lễ Chúa Nhật. Ông bước từng bước chậm lên thang gỗ ọp ẹp dẫn lên gác… Trên gác đàn, lờ mờ trong bóng đêm đen, ông nhận ra vẫn là những hàng ghế gỗ lặng lẽ im lìm. Ông đã quay lui, tính bước xuống…

…Nhưng bóng người sau cây đàn dương cầm bất ngờ lù lù đứng dậy! Ông giật mình, nghẹt thở, trái tim co lại như bị người bóp chặt. Tay che miệng, ông ú ớ, muốn hét to…

— Chúa tôi!

Bóng đen vội vàng cúi đầu,

— Con chào cha…

Trong bóng đêm mờ mờ của căn gác, khuôn mặt người đàn ông dần dần hiện ra…

— Con, con là ông Bõ… Cha quên con rồi sao?

Ông trợn mắt nhìn… Hơi thở cha xứ nhà thờ Abồ bỗng dưng nặng nề, dồn dập, như người lên cơn suyễn,

— …Thì ra là anh…

Ông Bõ năm xưa chỉ vào bắp chân, thì thào,

— Con vượt trại tù, bị cảnh sát bắn. Tới được nhà thờ, con trốn lên gác ca đoàn. Lúc lết lên bực thang, máu từ vết thương nhỏ rớt xuống… Con xin lỗi!!!

Ông thở hắt ra, hai tay ôm ngực! Hóa ra là vậy! Ông yên lặng nhìn người đối diện, chậm rãi điều hòa lại hơi thở… Trong bóng đêm, ông đã nhận ra ông Bõ năm xưa, giờ này đầu cạo nhẵn bóng, áo tù màu xanh lờ mờ con số và tên họ, AS 201 Nguyen… Người đàn ông cúi đầu, hít sâu, ngần ngại nói,

— Con buôn hàng “trắng”! Ra tòa, phạt tù chung thân. Con bị giam hơn mười năm rồi. Tháng trước, họ chuyển con lên đây…

Bóng đen nhìn ông, mắt long lanh,

— Con xin lỗi cha. Con biết con có lỗi!!!

Người đàn ông hít sâu vào buồng ngực,

— Cháu, cháu, chắc nó lớn lắm rồi...

Ông cha xứ vẫn đứng đó, yên lặng, nhưng lần này ông thở mạnh, hơi thở hắt ra! Ông nghe được tiếng trái tim đập dồn dập... Ác mộng năm xưa nay lại về, mang theo nguyên vẹn hình dáng! Đây chính là người đã từng làm ông mang tiếng hơn mười lăm năm nay. Hôm đó ông không hiểu tại sao ông Bõ tự dưng gõ cửa xin phép dọn đi. Gần một tháng sau, ông thấy cô bếp có nhiều triệu chứng lạ. Ói mửa lung tung! Lại hay ợ chua! Người thân ghé tai ông nói nhỏ, “Cô ấy có bầu”. Nhận được bản tin, ông tưởng sét đánh ngang tai! Ông là cha xứ, giờ tự nhiên người bếp độc thân có thai. Làm sao ông ăn nói với giáo dân! Không còn chọn lựa nào khác, ông đành phải dứt lòng cho người bếp nghỉ việc. Hai năm sau, cô ta quay về lại phố Abồ. Trước khi chết, cô trối lại thằng Quasimodo cho ông… Tiếng đồn thằng bé con ông bay tới tai bề trên. Ông bị gọi vào, khiển trách, không ý tứ, để nhà thờ mang tiếng! Ông không nói chi, yên lặng ngậm bồ hòn đắng nghét trái tim! Ông biết, khi thiên hạ có thành kiến, có nói gì cũng thế! Ông để thời gian trả lời; nhưng sâu thẳm trong lòng, ông cảm thấy như bị người thân đâm lén một nhát sau lưng, vết thương chí mạng!

Ông đã tới địa chỉ tại Springvales, nhưng hàng xóm nói người đàn ông đã dọn nhà… Thế là ông trở thành bố thằng Quasimodo.

Những lần nghe thiên hạ xì xào, ông giận muốn nghẹt thở! Mặt ông nóng bừng. Ông tự trách mình vớ vẩn, dễ tin, giờ rước họa! Chỉ được một cái Quasimodo lớn nhanh mà lại ngoan, không lêu bêu đầu đường xó chợ, sáng chiều giật chuông nhà thờ, chăm chỉ giúp lễ. Quasimodo, đứng trên cung thánh giúp lễ, hai tay chắp lại nhìn thánh thiện như thiên thần. Nó hay nói lớn lên con sẽ đi tu làm cha nhà thờ. Nghe nó nói như vậy, ông cũng tạm nguôi ngoai, cảm thấy được an ủi.

Nhìn ông Bõ năm xưa mở miệng xin lỗi, khuôn mặt thành khẩn, cha xứ nhà thờ Abồ hít vào thật sâu, thở ra nhè nhẹ… Cơn giận âm ỉ trong lòng bao nhiêu lâu nay chầm chậm bốc hơi, tan loãng! Ông bỗng dưng thấy cả một cõi lòng nhẹ tênh, thanh thản. Những vết nhăn trên trán dãn ra khi nhớ tới thằng Quasimodo, ông nói chầm chậm,

— Nó lớn tướng rồi. Ngoan lắm…

Nhìn sâu vào khuôn mặt người đối diện, ông nửa đùa nửa thật,

— Càng lớn càng giống bố như hai giọt nước!

Lần đầu tiên từ lúc bất ngờ hội ngộ trên gác đàn, người tù nhân toét miệng cười, nụ cười thằng Quasimodo được thừa hưởng,

— Thật hả cha…

Tiếng pháo giao thừa bất chợt nổ vang… Giờ này đã nửa đêm. Tiệm Tàu dưới phố đốt pháo đón Xuân…

Ông cha xứ đưa tay ra nắm bàn tay ông Bõ năm xưa,

— Thôi, đi vô nhà bếp, bóc bánh chưng ăn mừng năm mới!

Người tù bước đi nhanh nhanh, mặc cho vết thương bắp chân còn đang ri rỉ máu. Ông lắp bắp, vừa nói vừa hỏi,

— Vâng, vâng! Nhưng xin cha cho con nhìn mặt thằng bé trước. Nó, nó tên gì vậy hả cha?

Alice Springs, NT, Australia
www.nguyentrungtay.webs.com

Thương tặng các em ở mái ấm Nhật Hồng

“Mẹ cho em đôi mắt màu đen
để thương, để nhớ, để ghen, để hờn
đôi mắt em là cửa sổ tâm hồn…”

Có một bài hát đã bắt đầu như thế. Vâng, đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, nhưng phải chăng khi không còn đôi mắt thì thế giới tâm hồn của người ta cũng bị khép lại ? Phải chăng những khiếm khuyết trên cơ thể cũng để lại những khuyết tật nơi tâm hồn?


Tôi đến ngôi trường khiếm thị này với tâm niệm mình là người “tôi tớ làm chứng về lòng thương xót của Chúa”. Dầu chỉ mới có vài ngày ngắn ngủi, tôi thấy mình đã bị đánh động, bị chất vấn và day dứt thật nhiều.

Ngày đầu tiên, tôi nhìn thấy cái trớ trêu của cuộc đời hiện rõ trên khuôn mặt các em. Tại sao bên trên những nụ cười hồn nhiên như thiên thần lại là những ánh mắt thất thần vô cảm, những hốc mắt đỏ lòm sâu hoắm hay những đôi mi kèm nhèm luôn khép kín?.. Cảnh đời của các em dẫn tôi đi vào cái éo le ngang trái, và thậm chí là bạc bẽo của cuộc đời. Đâu là cơ hội và chân trời hy vọng cho cuộc đời của các em ?

Có một lần cùng các em tiếp phái đoàn đến thăm và cho quà, một lời động viên vô tình làm tôi cảm thấy ngột ngạt và nhoi nhói đau như chính mình bị xúc phạm : “chúng con ráng học giỏi để khỏi trở thành gánh nặng cho xã hội…”. Phải thừa nhận rằng điều ấy đúng, nhưng sao phũ phàng quá ! Phải chăng bằng những danh từ hoa mỹ như : khuyết tật, khiếm thị, kém may mắn… chúng ta đã vô tình giản lược các em vào cái thế giới “bậc hai”, bản chất vốn là những của nợ, những gánh nặng …? Cái tâm thức vô tâm ấy có góp phần tạo nên lớp vỏ bọc tự ti, mặc cảm và khép kín nơi các em không?

Một lần tôi nhận được lời tâm sự bằng thơ, những vần thơ vụng về đến buồn cười, nhưng lại thực và bi đát đến không ngờ !
“…Đau đớn nào thay
là sự bất hạnh
từ nay đến mãi
sống trong bóng tối…”
“…nỗi buồn của con
chẳng ai nào biết…”

Đứng trước nỗi đau của các em tôi thấy mình bất lực. Tôi không thể là người bù đắp – lấy gì bù đắp được những mất mát của các em chứ ! – tôi chỉ là người đến để xin được cùng san sẻ nỗi đau.

Đi vào thế giới tâm hồn của các em là đi trên Đất Thánh. Đó là “Đất Thánh” của những bí mật, những khắc khoải, những mặc cảm tự ti, những vết thương lòng không thể nguôi ngoai… khi ấy, làm sao chúng ta lại có thể đánh giá các em một cách giản lược, máy móc được chứ ! Các em vẫn là những con người bình thường, đầy đủ và trọn vẹn như bao nhiêu người khác, dù thiếu đôi mắt!

Những giờ đồng hành cầu nguyện với các em mỗi ngày trước Thánh Thể, tôi có cơ hội để học nhiều điều. Tâm hồn tôi đã không ngừng rung động trước những lời cầu nguyện chân tình và quảng đại biết bao khi chứng kiến các em có thể vượt ra khỏi nỗi bất hạnh của riêng mình để cầu nguyện cho nhiều người khác: “Lạy Chúa, hôm nay đi học về con nghe thấy tiếng xe cứu thương. Con không biết trong xe là ai, nhưng con nghĩ chắc họ đau lắm ! Xin Chúa thương gìn người bị bệnh để họ được bình phục và gia đình họ không đau khổ”… “Lạy Chúa, con cầu nguyện cho các bạn nhỏ như con phải làm lụng vất vả, phải lang thang suốt ngày ngoài đường để đi bán vé số, đi đánh giày kiếm sống”… “Lạy Chúa, con xin lỗi Chúa vì ngày nay con làm biếng học quá, có biết bao nhiêu bạn nhỏ mơ ước có điều kiện học hành được như con mà không được, còn con có điều kiện, được các sơ các Thầy dạy dỗ yêu thương mà con lại làm biếng không chịu nghe lời. Xin Chúa cho con mỗi ngày một ngoan ngoãn hơn”….

Được sống với các em, được chứng kiến các em săn sóc cho nhau, tôi mới thấm thía thế nào là yêu thương san sẻ. Một em mù dùng bàn tay sờ soạng tìm miệng của một em bé khác để đút cơm cho, hình ảnh ấy tầm thường nhưng sao lại đẹp lạ lùng ! Tình thương được san sẻ tạo nên nét đẹp, nhưng đẹp tuyệt diệu hơn nữa là tình thương của những em kém may mắn dành cho những em kém may mắn hơn. Những gì các em trao ban có giá trị như những đồng xu của bà góa nghèo dâng cúng cho Đền Thờ (Mc 12, 41-44; Lc 21, 1-4). Còn tôi, phải chăng tôi đang lấy ra để tặng ban từ cái kho tàng dư dật của mình?

Các em mời gọi tôi nhìn lại mình để thấy đôi mắt, nói riêng, và cả con người tôi, nói chung, là một quà tặng quý giá biết bao! Thế mà tôi đã vô tâm phung phung phí quà tặng ấy cách không ngờ. Tại sao người chịu thiệt thòi không phải là tôi mà là các em chứ ? Nếu có cơ hội để chia sẻ cho các em những may mắn của mình, và san sẻ với những mất mát của các em, liệu tôi có dám không?

Cám ơn các em yêu quý đã dạy tôi những bài học đắt giá, đã bắt tôi phải không ngừng tự vấn lương tâm mình và trở về với thâm sâu cõi lòng mình để nhận ra Chúa đã yêu tôi và dành cho tôi biết bao là ưu tiên, dù tôi hoàn toàn không xứng đáng.

Cám ơn những tấm lòng quảng đại, hào hiệp đã sẵn sàng dang rộng vòng tay chào đón, ôm ấp và yêu thương các em, dẫn các em về để tạo nên một mái ấm đầy tình người, tình Chúa.

Nguyện xin Chúa mãi là nguồn an ủi, chở che, và luôn là người bạn đồng hành cùng các em giữa những lầm than vất vưởng. Xin dẫn các em ra khỏi bóng tối của cuộc đời để trở về với Chúa là ánh quang, là nguồn sáng muôn đời.

“Mẹ ơi, cha Quân sẽ tổ chức sinh nhật cho con!” Con bé nhún nhảy và la thật to như thể mới nhặt được một cục vàng quý giá. Mẹ nó lắc đầu nguầy nguậy: “Ôi ôi, không được đâu. Cha đừng chiều nó.” Rồi bà đuổi con bé đi ra ngoài.

Hình minh họa


Tôi ở nhà của đôi vợ chồng trẻ ba con người Phi Luật Tân này đã gần một tuần. Chồng bà làm thợ sửa xe ngay ngã tư bên đường, còn bản thân người vợ thì chạy sô đi giặt quần áo thuê cho những ai cần. Mỗi chiều bà trở về trong khuôn mặt nhợt nhạt vì mệt và đói. Bà dang rộng cánh tay vốn bị toét nhoẹt bởi xà phòng pha thuốc tẩy mạnh ôm chặt con bé út vào lòng.

Cực là thế nhưng họ chỉ kiếm được trên dưới hai đôla một ngày và bởi đó, mỗi bữa họ chỉ có một dĩa cơm trắng cỡ trung cho cả nhà và một đĩa cá kho mặn tanh khủng khiếp. Hôm nào sang lắm thì cả nhà chia nhau vài quả trứng luộc dầm nước mắm hay một chút rau cải xào xuông với tỏi. Năm con người cộng với một vị khách từ phương xa chia nhau những thìa cơm đạm bạc ít đến mức ăn xong chẳng biết đã có gì vào bụng chưa. Cái cồn cào cứ theo đuổi suốt ngày và ngay cả khi bữa cơm vừa dứt.

Thiếu ăn triên miên nên người của ba đứa nhóc đang tuổi ăn tuổi mặc cứ cọc lại như những con búp bê nho nhỏ. Con bé út đã lên 5 nhưng nhìn giống như một đứa bé 2 tuổi. Thằng giữa 11 nhưng mặt non như đứa lên 6. Thằng cu lớn nhất đã 14 nhưng mang trên mình thân xác của đứa trẻ lên 10. Khuôn mặt của nó hằn lên một sự chịu đựng cái đằng đẵng của kiếp nghèo. Đã bao lâu rồi đôi mắt nó chưa biết cười là gì.

Cách đây hai hôm, con bé út nhe hàm răng sún và chiếc má lúm đồng tiền thật đáng yêu; nó chăm chú nhìn tôi hồi lâu rồi trịnh trọng tuyên bố: “Tuần tới con sẽ được 6 tuổi. Cha phải làm lễ cầu nguyện cho con ăn no chóng lớn đấy nhé!” Tôi gật đầu nhè nhẹ nhưng tránh nhìn vào đôi mắt trong veo của nó. Bởi lòng tôi trùng lại với ý tưởng: “Con no và lớn sao được với lưng chén cơm thiếu dinh dưỡng mỗi ngày hả bé?” Rồi con bé thao thao bất tuyệt nói về khao khát muốn lớn mau để đi giúp mẹ giặt quần áo kiếm tiền. Mắt mình chợt cay xè như có ai xông hương tận mặt. Tuổi thơ của con đâu rồi công chúa ơi?

Hít một hơi thật sâu để xua đi nỗi buồn mang mác. Tôi xoa đầu nó và nói: “Thôi, con để cái vụ giặt quần áo phụ mẹ sang một bên. Bây giờ công chúa của cha muốn gì trong ngày sinh nhật của mình nè? Bé có muốn làm tiệc sinh nhật không?” Con bé ngước mắt nhìn tôi nghi ngờ hỏi: “Bộ cha là triệu phú hả? Chỉ có triệu phú mới có sinh nhật thôi.” Tôi dí tay mình vào trán nó trả lời: “Hì…. Hì…. Thì hôm nay con và cha làm triệu phú trong mơ được không?” “Okay, vậy thì con muốn làm một bữa tiệc thật to cho cả nhà. Mọi người sẽ ăn no đến không thở nổi. Con sẽ làm món Pancit bihon (một món miến xào lòng thập cẩm), nấu một nồi cơm thật đầy, một thố súp khoai tây rõ lớn, chiên một đĩa gà rán Kentucky khổng lồ, mua một thùng kem sô-cô-la bự, làm một khay chuối chiên to, và nhất là một cái bánh sinh nhật nữa.” Thằng giữa ngồi đó phì cười: “Mơ hay nhỉ?” Còn thằng lớn quay đi chùi vội nước mắt.

Tôi làm ra vẻ giận dỗi trợn mắt lên bảo nó: “Sao con biết những món đó? À, con dấu cha, dấu bố mẹ và hai anh đi ăn một mình nhá. Không chia cho ai miếng nào buồn quá đi.” Con bé cười như nắc nẻ đáp: “Con ăn tất cả những món đó qua tivi của bà M. đầu xóm đó. Cha và cả nhà có ăn không, tối nay mình đi?” Một phút thinh lặng bao phủ không gian. Thằng lớn lắc đầu như muốn xua đi cái buồn của gia mình. Thằng giữa vân vê hai bàn tay vào nhau. Ánh mắt của nó lộ lên vẻ bối rối thấy rõ. Còn cô công chúa nhảy tót vào lòng tôi ngồi khóc ngon lành.

“Không, mình sẽ không mơ nữa. Cha sẽ khiến cho giấc mơ của con thành sự thật. Tuần sau, chúng ta sẽ làm sinh nhật cho con, sẽ nấu và mua những món con vừa kể.” Nó ngưng bặt tiếng nấc nhìn tôi dò hỏi. Và khi cảm nhận được sự cương quyết trên khuôn mặt của tôi, nó nhảy lên reo hò. Mẹ nó hốt hoảng xua nó đi ra ngoài.

Tôi gọi bà ra, đưa bà 5000 peso (khoảng 120 đôla) rồi dặn: “Tuần sau, chúng ta hãy tổ chức sinh nhật cho cháu, làm những gì cháu ước mong nhá.” “Đừng chiều nó. Cha nên giữ số tiền này lại. Cha sẽ cần nó trong những ngày cha ở đất nước của con. 5000 peso không phải là chuyện đùa đâu cha ạ. Hai vợ chồng con chỉ kiếm được trên dưới 70 peso mỗi ngày thôi. Chúng ta không nên hoang phí cho những bữa tiệc của người giàu như thế.” Giọng nói chị tuy dứt khoát, nhưng đôi bàn tay của chị run rẩy và ánh mắt chị ngân ngấn nước mắt.

Nói cho công bình, tôi cũng nghĩ rằng việc tổ chức một bữa tiệc có giá trị bằng 70 ngày lương là một sự phí phạm không thể tha thứ. Đưa hai vợ chồng một số tiền ấy để làm vốn thì hữu ích hơn. Và đó cũng là dự định của tôi ngay từ đầu. Nhưng bớt đi 120 đôla từ số tiền dự định cho họ cũng là điều nên làm. Bởi suy cho cùng, chẳng biết đến bao giờ những con người này mới có một bữa tiệc đúng nghĩa. Và khi cái nghèo theo họ về bên kia thế giới, thì hình như kỷ niệm về một bữa sinh nhật nhớ đời sẽ là một kỷ niệm vui giữa những hỗn mang của muôn vàn nỗi buồn.

Tôi chia xẻ suy nghĩ của mình cho đôi vợ chồng trẻ, rồi nói: “Cha muốn con bé có một sinh nhật để đời anh chị hiểu không? Biết đâu đó là bữa tiệc duy nhất mà nó có?” Hai vợ chồng hết nhìn nhau rồi lại nhìn tôi. Sau cùng họ gật đầu và ôm nhau khóc…

Mùi thum thủm mãn tính của khu ổ chuột bị đẩy lùi và được thay thế bằng mùi thơm của miến xào và thịt gà rán. Bọn trẻ con hàng xóm túm năm túm ba ngoài khung cửa nhìn vào thèm khát. Chúng luôn miệng bảo nhau là con bé H. quá may mắn và sẽ thành người giàu trong tương lai. Bà mẹ trẻ nghe những lời bàn của lũ nhóc mà miệng cứ méo xệch.

Khi mọi sự đã chín, bà lấy những đĩa giấy xúc miến, gà, cơm, súp, bánh sinh nhật, và cả kem nữa. Rồi… bà bắt đầu phân phát cho trẻ con xung quanh. Nồi cơm vơi đi thật nhanh và những món khác cũng thế. Đến giờ ăn, năm con người và một vị khách bất đắc dĩ cũng chỉ chia nhau những gì còn lại. Có khác chăng là hôm nay mọi thứ xem ra được nhân đôi và mọi người no hơn một tý.

Con bé út và thằng giữa vui ra mặt và huyên thuyên nhiều điều. Con thằng lớn chẳng nói chi nhưng miệng cứ tủm tỉm cười, một nụ cười hiếm hoi trên khuôn mặt già trước tuổi. Nhìn nó ngậm thật lâu miếng xương gà làm tôi thoáng bực mình. Tôi biết nó còn đói và bởi thế quay ra bảo chị: “Tôi chẳng cấm chị chia xẻ cho mấy bé hàng xóm. Nhưng chị cũng nên nghĩ đến con của mình một chút chứ. Suy cho cùng, tôi muốn công chúa của chúng ta có một sinh nhật để đời và các con chị có một bữa ăn tạm gọi là no. Chị cho đi tùm lum thì cũng như không có rồi còn gì.” Chị run run trả lời: “Con xin lỗi, cho con xin lỗi… Con đã làm hỏng kế hoạch của cha…” Rồi chị nấc lên: “Nhưng cha ơi, cháu đã có một sinh nhật tuyệt vời. Vì từ bây giờ đến mãi về sau, nó sẽ không quên được một điều là đã có một lần trong đời, nó đã mở một bữa tiệc và đãi được cả xóm vốn đói khổ triền miên này.”

Mắt tôi chợt nhòe đi và tai tôi ù lại. Cả nhà đứng dậy ôm chầm lấy nhau. Tất cả chúng tôi cùng khóc. Khóc cho cái nghèo của họ, cho cái tâm chưa rộng đủ của tôi, cho cái tình mênh mang của chị, cho nụ cười vui của cô út, và cái mỉm chi của hai đứa lớn. “Cho cha xin lỗi. Tim cha quá nhỏ và bởi đó cha trở nên thật vô tình và vô cảm. Cha đã nói những điều không nên nói. Cầu nguyện cho cha luôn, để cha có thể có một trái tim bao la như trái tim của anh chị vậy.”

Con bé út phá tan bầu khí nặng nề bằng tiếng hét: “Ôi kem chảy hết rồi, ta uống kem đi thôi!” Chúng tôi chuyền tay nhau uống kem sô-cô-la một cách ngon lành. Những tiếng cười rộ lên xóa tan màn đêm lặng lẽ. Bài hát chúc mừng sinh nhật được cất lên khi con bé thổi 6 ngọn nến cỏn con cắm trên miếng bánh bé tẻo còn sót lại. Không gian trở nên thật linh thánh và ấm cúng. Bức hình “Chúa Giêsu Cười” mà đôi vợ chồng treo ở cửa chợt đẹp một cách lạ thường…


Lời giới thiệu: 

Ngày lễ Noel thường diễn ra trong tiết trời lạnh giá. Gia đình sum họp đem đến hơi ấm, niềm vui cho mọi người. Xin giới thiệu đến quý độc giả một số truyện ngắn hay về đề tài Giáng Sinh. 


Kính chúc quý anh chị em Giáng Sinh an lành. BBT VTCG



Câu truyện 1


Như thường lệ, mỗi mùa Giáng sinh, tôi đều nhận được quà từ anh trai của tôi. Giáng sinh năm ấy tôi cảm thấy vui nhất không phải chỉ vì món quà anh tôi tặng -một chiếc xe hơi - mà vì tôi đã học được một bài học rất thú vị vào cái đêm đông lạnh lẽo ấy...

Đã 7 giờ tối, mọi người trong công ty đã ra về gần hết, tôi cũng đang đi đến gara để lấy xe và về nhà ăn Giáng sinh.

Có một cậu bé, ăn mặc rách rưới, trông như một đứa trẻ lang thang, đang đi vòng quanh chiếc xe tôi, vẻ mặt cậu như rất thích thú chiếc xe. Rồi cậu chợt cất tiếng khi thấy tôi đến gần, "Đây là xe của cô ạ?". Tôi khẽ gật đầu, "Đó là quà Giáng sinh anh cô tặng cho". Cậu bé nhìn tôi tỏ vẻ sửng sốt khi tôi vừa dứt lời. "Ý cô là...anh trai cô tặng chiếc xe này mà cô không phải trả bất cứ cái gì? Ôi! Cháu ước gì...". Cậu bé vẫn ngập ngừng.

Tất nhiên tôi biết cậu bé muốn nói điều gì tiếp theo. Cậu muốn có được một người anh như vậy. Tôi chăm chú nhìn cậu bé, tỏ vẻ sẵn sàng lắng nghe lời nói của cậu. Thế nhưng cậu vẫn cúi gằm mặt xuống đất, bàn chân di di trên mặt đất một cách vô thức. "Cháu ước...", cậu bé tiếp tục "...cháu có thể trở thành một người anh trai giống như vậy". Tôi nhìn cậu bé, ngạc nhiên với lời nói vừa rồi. Bỗng nhiên tôi đề nghị cậu bé, "Cháu nghĩ sao nếu chúng ta đi một vòng quanh thành phố bằng chiếc xe này?". Như sợ tôi đổi ý, cậu bé nhanh nhảu trả lời: "Cháu thích lắm ạ!"

Sau chuyến đi, cậu bé hỏi tôi với ánh mắt sáng ngời đầy hy vọng, "Cô có thể lái xe đến trước nhà cháu không?". Tôi cười và gật đầu. Tôi nghĩ mình biết cậu bé muốn gì. Cậu muốn cho những người hàng xóm thấy cậu đã về nhà trên chiếc xe to như thế nào. Thế nhưng tôi đã lầm... "Cô chỉ cần dừng lại ở đây, và có phiền không nếu cháu xin cô đợi cháu một lát thôi ạ..."

Nói rồi, cậu bé chạy nhanh vào con hẻm sâu hun hút, tối om, tưởng chừng như chẳng có ai có thể sống trong ấy. Ít phút sau, tôi nghe thấy cậu bé quay lại qua tiếng bước chân, nhưng hình như lần này cậu không chạy như lúc nãy mà đi rất chậm. Và đi theo cậu là một cô bé nhỏ nhắn, mà tôi nghĩ đó là em cậu, cô bé với đôi bàn chân bị tật. Cậu bé đẩy chiếc xe lăn em cậu đang ngồi, một chiếc xe cũ kĩ, xuống những bậc tam cấp một cách rất cẩn thận, và dừng lại cạnh chiếc xe của tôi.

"Cô ấy đây, người mà lúc nãy anh đã nói với em đấy. Anh trai cô ấy đã tặng một chiếc xe hơi cho cô nhân dịp Giáng sinh mà cô chẳng phải tốn lấy một đồng. Và một ngày nào đấy anh cũng sẽ tặng em một món quà giống như vậy. Hãy nghĩ xem, em có thể tận mắt thấy những món quà, những cảnh vật ngoài đường phố trong đêm Giáng sinh, và anh sẽ không phải cố gắng miêu tả nó cho em nghe nữa!".

Tôi không thể cầm được nước mắt, và tôi đã bước ra khỏi xe, đặt cô bé đáng thương ấy lên xe. Ánh mắt cô bé nhìn tôi đầy vẻ cảm phục và thân thiện.

Ba chúng tôi lại bắt đầu một chuyến đi vòng quanh thành phố, một chuyến đi thật ý nghĩa và tôi sẽ không bao giờ quên, khi những bông tuyết lạnh giá của đêm Giáng sinh bắt đầu rơi.

Và cũng trong đêm Giáng sinh ấy, tôi đã hiểu được sâu sắc ý nghĩa một câu nói của chúa Giê-su: "Không gì tốt đẹp hơn việc làm cho người khác hạnh phúc".

Câu truyện 2


Chỉ còn 4 ngày nữa là đến Giáng Sinh. Không khí của ngày lễ chưa làm tôi nôn nao, cho dù bãi đậu xe của cửa hàng giảm giá trong khu nhà chúng tôi đã chật ních đầy xe. Bên trong cửa hàng lại còn tệ hơn. Các lối đi đầy ứ những xe đẩy hàng và người mua sắm vào giờ chót.

Tại sao tôi lại đến đây hôm nay? Tôi tự hỏi. Đôi chân tôi rã rời, đầu tôi đau buốt. Tôi đã có 1 danh sách một số người quả quyết rằng họ không cần quà cáp, nhưng tôi biết họ sẽ rất buồn nếu như tôi chẳng tặng quà gì cho họ!

Mua quà cho người mà cái gì họ cũng có để rồi lại hối tiếc vì đã tốn kém nhiều cho quà cáp, theo tôi mua quà chẳng có tí gì là thích thú cả!

Tôi vội vã cho những món hàng cuối cùng vào xe đẩy, rồi tiến tới những dòng người xếp hàng dài đăng đẳng. Tôi chọn hàng ngắn nhất nhưng có lẽ cũng phải chờ đến 20 phút.

Đứng trước tôi là 2 đứa trẻ - 1 cậu bé khoảng 5 tuổi và 1 cô bé nhỏ hơn. Đứa bé trai mặc một chiếc áo rách. Đôi giày tennis rách tả tơi, lớn quá khổ và dư thừa ra phía trước chiếc quần jean ngắn cũn cỡn của nó. Nó nắm chặt mấy tờ đô-la rách nát trong đôi bàn tay cáu bẩn của mình. Quần áo của đứa bé gái cũng giống y anh nó vậy.

Cô bé có một mái tóc xỉn màu với những lọn tóc xoăn. Trên khuôn mặt nhỏ nhắn của cô bé hiện rõ rằng cô bé đang mong chờ đến bữa ăn chiều. Trong tay cô là một đôi dép màu vàng bóng thật đẹp. Trong lúc tiếng nhạc Giáng Sinh vang lên từ hệ thống stereo của cửa hàng, cô khe khẽ ngân nga theo, dù lạc điệu nhưng rất hạnh phúc.

Cuối cùng cũng đã tới phiên chúng tôi, cô bé cẩn thận đặt đôi giày lên quầy. Cô có vẻ quý đôi giày như vàng vậy.

Người thu ngân in hoá đơn và nói: “Của cháu là 6,09 đô”. Cậu bé đặt những đồng tiền rách nát của mình trên mặt quầy và lục tìm khắp túi.

Cuối cùng cậu tìm được tất cả là 5,12 đô. “Cháu nghĩ chúng cháu phải trả đôi giày lại” - cậu lấy hết can đảm nói. “Lúc khác cháu sẽ quay lại, có lẽ là ngày mai”.

Nghe anh nói thế, cô bé bắt đầu nức nở:

“Nhưng Chúa Giêsu sẽ rất yêu thích đôi giày này cơ mà” - cô bé khóc.

“Thôi được, chúng ta về nhà và sẽ kiếm thêm, em à, đừng khóc nữa, rồi chúng ta sẽ quay trở lại mà” - Cậu bé năn nỉ em.

Tôi nhanh chóng đưa cho người thu ngân 3 đô. Hai đứa trẻ đã xếp hàng chờ đợi quá lâu, và dù sao cũng đang là mùa Giáng Sinh.

Bỗng nhiên, một đôi vòng tay ôm lấy tôi và giọng nói nhỏ nhẹ cất lên: “Cháu cảm ơn cô, cô nhé”.
“Ý của cháu là gì khi nói rằng ”Chúa Giêsu sẽ thích đôi giày này?“ - Tôi hỏi.

Cậu bé đáp: “Mẹ cháu bệnh và sẽ lên Thiên Đàng. Bố bảo mẹ sẽ về với Chúa trước Giáng Sinh”.

Cô bé nói thêm: “Giáo viên của cháu nói rằng đường phố trên Thiên Đàng vàng bóng, như chính đôi giày này đây. Mẹ cháu sẽ rất đẹp khi mang đôi giày này đi trên con đường ấy phải không cô?”

Nước mắt tôi tuôn trào khi nhìn thấy những giọt lệ lăn trên khuôn mặt cô bé.
Tôi đáp: “Đúng, cô tin chắc là mẹ cháu sẽ rất đẹp”.

Tôi lặng lẽ cám ơn Thượng Đế đã dùng những đứa trẻ này để nhắc nhở tôi về ý nghĩa đáng trân trọng của việc tặng quà.

Câu truyện 3


Tôi rảo nhanh chân đến cửa hàng địa phương để mua vài món quà giáng sinh vào phút chót lễ Giáng Sinh. Trên đường đi, tôi ngắm nhìn mọi người rồi tự nhủ, đáng nhẽ mình phải đi mua quà từ trước nhưng do bận nhiều việc quá. Lễ Giáng Sinh cũng là lúc để tôi có thể thong thả được một lúc. Có lúc tôi đã ước rằng mình sẽ ngủ một giấc dài qua cả mùa Giáng Sinh. Nhưng bây giờ là lúc tôi phải nhanh chóng đến cửa hàng đồ chơi.

Ðang tìm những thứ cần mua, tôi thấy một cậu bé khoảng 5 tuổi đang ôm một con búp bê rất dễ thương. Cậu bé ôm con búp bé rất âu yếm và đang vuốt ve tóc của nó. Tôi cảm thấy rất tò mò nên chăm chú quan sát cậu bé và tự hỏi không biết cậu bé đó định tặng con búp bê đó cho ai. Tôi nhìn thấy cậu bé quay sang nói với người cô đi bên cạnh “Cô có chắc là cô không đủ mua con búp bê này không?”. Người cô trả lời đứa cháu một cách không hài lòng “Cháu phải biết rằng cô không có đủ tiền để mua nó!” Người cô dặn đứa bé không được đi lung tung trong khi bà đi mua trêm vài thứ khác, và bà sẽ quay lại sau vài phút nữa. Rồi thì bà ta bỏ đi để lại thằng bé vẫn đang mải mân mê con búp bê.

Tôi tiến lại gần để hỏi xem thằng bé định mua con búp bê đó cho ai. Thằng bé trả lời “Cháu mua con búp bê này cho em gái của cháu, vì nó rất thích được tặng một con búp bê nhân dịp Giáng sinh và nó đoán rằng ông già Noel sẽ tặng nó một con”. Tôi bèn bảo thằng bé rằng có thể ông già Noel sẽ mang đến không biết chừng. Thằng bé đáp lại ngay “Ông già Noel không biết chỗ em cháu đang ở. Cháu sẽ đưa con búp bê này cho mẹ cháu để mẹ cháu chuyển cho em cháu”. Nghe như vậy tôi liền hỏi thằng bé xem em nó hiện giờ đang ở đâu.

Thằng bé ngước nhìn tôi với ánh mắt buồn rầu rồi nói, “Nó đã đi theo với Đức Chúa rồi”.

Bố của cháu bảo là mẹ của cháu cũng đang chuẩn bị đi cùng với em cháu rồi. Nghe những lời thằng bé nói, tôi cảm thấy tim tôi như có ai vừa bóp nhẹ. Nói xong thằng bé ngước nhìn tôi rồi nói “Cháu đã bảo với bố cháu khuyên mẹ cháu đừng đi theo em cháu vội. Cháu bảo ông nhắn với mẹ cháu rằng hãy đợi cháu đi cửa hàng về đã”. Sau đó thằng bé hỏi tôi có muốn xem bức tranh của nó vẽ không. Tôi bảo rằng tôi rất thích. Thằng bé liền rút vài bức tranh nó để ở quầy hàng đưa cho tôi rồi nó nói “Cháu muốn mẹ cháu mang theo những bức tranh này theo để mẹ cháu không quên cháu, cháu rất yêu mẹ cháu nên cháu không muốn mẹ đi đâu. Nhưng bố cháu bảo mẹ cháu phải đi cùng với em cháu”.

Tôi chăm chú nhìn thằng bé và cảm thấy dường như trong hình hài nhỏ bé kia thằng bé lớn lên rất nhiều. Trong khi thằng bé không chú ý, tôi vội lục tìm trong ví của mình để lấy ra một nắm tiền rồi tôi bảo thằng bé “Cháu có đồng ý là chúng ta sẽ cùng đếm số tiền này không?” Thằng bé vô cùng phấn khởi nó nói “Ðược ạ cháu hi vọng là đủ”, rồi tôi đưa cho thằng bé một ít để hai người cùng đếm. Trong khi đếm tiền thằng bé khẽ nói “Tất nhiên ở cửa hàng này có rất nhiều búp bê, cảm ơn Chúa đã mang cho con số tiền này”, sau đó thằng bé nói với tôi rằng “Cháu vừa mới ước được Đức Chúa ban cho cháu số tiền này, cháu sẽ mua con búp bê này để mẹ cháu mang nó cho em gái cháu. Và Ngài đã nghe thấy lời nguyện ước của cháu. Cháu cũng muốn ước rằng Ngài ban cho cháu đủ tiền để cháu mua cho mẹ cháu một bông hồng trắng vì mẹ cháu rất thích hoa hồng trắng nhưng cháu chưa kịp hỏi Ngài thì Ngài đã ban cho cháu số tiền đủ để mua cả búp bê và hoa hồng nữa”.

Ðúng lúc đó thì cô của thằng bé quay trở lại nên tôi đẩy xe hàng của mình đi. Lúc này đây, tôi có tâm trạng khác hẳn với lúc mới vào cửa hàng và tôi không khỏi nghĩ miên man về câu chuyện thằng bé kể cho tôi. Bây giờ, tôi mới nhớ ra mình có đọc thấy trên báo nhiều ngày trước đây có một tai nạn do một tài xế say rượu đã đâm vào một ô tô làm chết tại chỗ một bé gái còn mẹ của bé thì bị thương rất nghiêm trọng. Lúc đó, tôi nghĩ rằng tai nạn đó không phải là trường hợp của cậu bé đã kể.

Hai ngày sau, tôi đọc trên báo thấy đăng tin người phụ nữ xấu số đó đã qua đời. Tôi vẫn không tài nào quên được cậu bé và tự hỏi không biết hai câu chuyện này có liên quan gì đến nhau không. Ngày hôm sau, có chuyện gì cứ thôi thúc tôi khiến tôi bước ra ngoài và mua một bó hoa hồng trắng rồi đem đến nơi cử hành tang lễ cho người phụ nữ trẻ. Ở đó, tôi thấy người phụ nữ nằm trong quan tài trên tay ôm một bó hoa hồng trắng rất đẹp bên cạnh đó là một con búp bê và những bức tranh của cậu bé mà tôi đã gặp ở cừa hàng đồ chơi hôm nào.


Tôi đứng đó nước mắt tuôn trào, cũng từ đó tôi cảm thấy yêu quí người thân của mình hơn và biết trân trọng những tình cảm linh thiêng đó. Tình yêu của cậu bé dành cho em gái và mẹ của mình thật là quá lớn lao. Nhưng chỉ cần có một tích tắc vô trách nhiệm của gã lái xe say rượu kia đã tàn phá hoàn toàn cuộc đời của cậu bé tội nghiệp. Ai đó đã từng nói rằng: “Chúng ta sống được nhờ những cái gì chúng ta có, nhưng chính chúng ta tạo ra ý nghĩa cuộc sống của mình bằng những gì chúng ta chia sẻ với người khác”.


Ông già Santa vươn vai ngáp một cái thật dài, buổi sáng tháng 12 của Bắc Cực lạnh quá, ông lấy trong túi áo ra cái danh sách rất dài, ông càng kéo nó càng dài ra. Cuối cùng ông phải dăng từ đầu phòng đến cuối phòng hai ba lần mới hết. Ông phải đọc lại từng tên một vì ông không muốn bỏ sót một ai.

Ông bước ra khỏi nhà, đi coi lại cái xe kéo trên tuyết, xếp những gói quà đã được gói cẩn thận và ghi tên, địa chỉ của từng người, cho mấy chú hươu ăn thêm cho thật no bụng. Tất cả sẵn sàng cho một cuộc hành trình dài. Ông hôn lên trán bà Claus một cái, dặn bà ở nhà trông nom mấy thím hươu, để những người đàn ông đi làm bổn phận.


Trên đường đi vào thành phố ông đi qua những khu rừng, những núi tuyết, ông gặp những chú gấu, cô sóc, cô thỏ rừng. Họ giơ tay vẫy chào và cất tiếng hỏi han ông rất vui vẻ. Họ biết ông đang đi thi hành nhiệm vụ của mình, họ phụ ông một tay, khênh đến đủ loại hạt xếp lên xe ông nào hạt thông, hạt hạnh đào, hạt dậu phọng, bồ đào, hạt dẻ v,v. Mấy chú hươu lại phải phân chia vào những túi đồ chơi đã có sẵn. Ai nấy làm việc thật vất vả nhưng họ biết là họ sẽ đem hạnh phúc đến cho các trẻ em.

Khi những chú hươu và Santa đi qua vùng tranh tối tranh sáng, mọi nhà đều đã tắt đèn, trẻ con bắt đầu đi vào giấc ngủ với những giấc mơ của chúng về những món quà giáng sinh, chúng sẽ có sẵn ở bên lò sưởi khi thức dậy. Chúng thì thầm cầu nguyện cho những chú hươu không bị đau chân giữa đường, ông Santa không bị cảm cúm đau bụng và ông nhớ mặc áo ấm, mang theo thuốc cảm. Những đứa trẻ hy vọng cái ống khói nhà mình đừng có quá nhỏ để Santa có thể mang theo nhiều quà mà không bị kẹt ở trong đó. Những em nhà không có lò sưởi thì treo những chiếc vớ dài ở trước cửa. Có đứa thư gửi về bắc cực cho ông đã lâu. Có đứa mới viết thư bỏ vào vớ mấy hôm trước, hay mới hôm nay trước khi đi ngủ.

Mỗi đứa trẻ có một giấc mơ riêng và mong ước giấc mơ đó sẽ đến trong đêm Giáng Sinh này.
Khi Santa vào đến thành phố, ông lấy danh sách ra, đọc lại cho đúng tên và địa chỉ của từng em trước khi chuẩn bị trèo lên nóc nhà. Có những cái mái trơn quá vì tuyết hay vì rêu đóng lâu ngày Santa phải rất cẩn thận, năm ngoái ông ngã một cái, trôi tuột, đè lên ống máng, ông không đau nhưng cũng xây sát, khi ông trở về nhà cứ bị bà Claus cằn nhằn ông mãi về tính không cẩn thận.

Bây giờ mọi nhà đều đã đóng cửa đi ngủ, ông rón rén đến từng địa chỉ, nhà nào không có ống khói lò sưởi thì ông để gói quà ngay trước cửa nhà, hoặc cho vào những chiếc vớ đã treo sẵn trên cánh cửa.
Vừa đi ông vừa đọc từng lá thư :
“Con muốn có một cái cặp sách mới. John.”  Ông lấy ra gói quà có sẵn cái cặp sách.
“Con muốn một cái áo khoác lạnh mầu hồng. Annie.” Bà Claus đã gói với một cái nơ thật đẹp rồi.
“Con muốn có một con chó nhỏ. Lan.” Có ngay, ông quấn con chó mầu trắng vào cái chăn nhỏ mầu xanh, dặn nó không được sủa. Thật ra thì phải bấm nút nó mới sủa cơ.
“Con muốn có cái xe đạp mới. Phương.” Cái này không chui qua ống khói được, ông phải dựng trước của nhà.

Ở một lá thư khác trong chiếc vớ treo trước cửa, ông Santa đọc được:
“Con muốn ba về với con, ba đang ở Iraq. Jennifer.” Ông kêu lên: Chúa ơi!

Mắt Santa nhòa lệ, ông làm sao tìm được món quà quý báu và vô cùng khó khăn cho cô bé này. Làm sao ông mang được người cha về bây giờ. Santa chỉ biết bỏ vào chiếc vớ một con búp bê, ông viết vào bên dưới thư của em.
“Ta sẽ cầu nguyện giúp con. Santa.”
Ông tiếp tục đi, chân thấp chân cao, lòng ông nặng trĩu xuốngvì món quà Jennifer muốn xin. Nhưng ông vẫn cố đi từng nhà, ông di chuyển từ đông sang tây, ông đi cho đến hừng đông. Túi quà trên vai ông đã vơi hết, nhưng sao ông vẫn muốn tiếp tục đi.

Ông biết có những nơi trên trái đất này, có những đứa trẻ không hề biết tên ông, địa chỉ ông để gửi thư. Chúng ở trong những thành phố đổ nát vì bom đạn, có thể chúng đã mất cả mẹ, lẫn cha. Ông ước gì mình có thể vác những xác của cha mẹ các em lên vai mình, dựng trước của nhà họ, hà hơi vào họ, cho họ được sống lại vào bất cứ ngày nào trong năm, không cần phải vào ngày giáng sinh. Chao ôi, những đứa trẻ đáng thương đó sẽ vô cùng sung sướng! Santa đưa ống tay áo lên chùi nước mắt mình. Mấy chú hươu hình như cũng đọc được nỗi buồn của ông, họ cúi đầu im lặng, cho đến khi ông kéo nhẹ sợi dây cương.

Ngày mai khi các em trở dậy nhận những gói quà của mình. Lò sưởi hãy còn ấm bởi những đốm lửa đêm qua, một làn khói mỏng còn bay lơ lửng trên nóc nhà, nhưng ông Santa Claus đã cùng những chú hươu về đến Bắc Cực, đoàn tụ cùng bà Claus và những thím hươu. Họ nghỉ ngơi vài tháng rồi lại bắt đầu làm danh sách chuẩn bị nhận thư các nơi trên trái đất gửi về.

Trong căn nhà nhỏ gần như tuyết phủ quanh năm ở vùng bắc cực đó, năm này sang năm khác vợ chồng ông bà Santa Claus làm việc phát quà cho các trẻ em trên thế giới với niềm vui tràn ngập trong lòng. Họ cố gắng đem những món quà đến cho các em như lòng mơ ước. Điều làm họ buồn nhất là những món quà họ không tự mình lo được, như đem một người cha từ mặt trận trở về thả xuống ống khói hay đem một người mẹ bị mất vì bom đạn trong chiến tranh về đặt lại, ngồi trước cửa nhà để làm quà cho các em trong ngày Giáng Sinh.

Ông bà Santa Claus nhắm mắt lại cầu xin nhân loại giúp họ mang hạnh phúc an bình đến cho tất cả trẻ thơ trên thế giới. Nhân loại trước khi đánh nhau hãy nghĩ đến những đứa trẻ ngây thơ đang mong đợi cha từ chiến trường về, đang mong đợi một người mẹ đã chết vì bom rơi, đạn lạc, không bao giờ về được nữa. Ông Santa buồn bã nói với vợ:
- Tại sao lúc nào mặt đất cũng có chiến tranh? Không xẩy ra ở nước này, thì xẩy ra ở nước khác? Mỗi năm tôi đi một nơi, bao giờ tôi cũng gặp những đứa bé gái thay vì xin búp bế, hay đứa bé trai thay vì xin cái xe đạp ba bánh, nó chỉ buồn bã xin cho cha nó được về nhà vào đêm giáng sinh, cho mẹ nó sống lại sau đổ vỡ của chiến tranh. Tại sao vậy bà?

Bà Claus ngẩn mặt ra, không biết trả lời ông thế nào, ngẫm nghĩ một lúc, bà hỏi lại ông:
_- Sao người ta không hỏi ý kiến những đứa bé trước khi gửi cha nó ra mặt trận nhỉ?

Truyện hay Giáng Sinh
ngoại quốc
(nguyễn thị hải hà dịch và giới thiệu)


Lời Giới Thiệu

Cả ba truyện ngắn, Giáng Sinh của Vladimir Nabokov, Hai Người Chưa Gặp của John McNulty, và Giáng Sinh ở Tokio đều được trích từ “Christmas at The New Yorker: stories, poems, humor, and art” xuất bản năm 2003. Nhiều truyện trong quyển này rất hay và của nhiều tác giả rất nổi tiếng như John Cheever, John Updike, Alice Munro, … .


Tôi dịch truyện Giáng Sinh của Nabokov trước nhất vì tôi yêu cái hình ảnh đầy tuyết êm đềm thơ mộng ở một miền quê của nước Nga. Sau đó tôi bị cuốn hút vào nỗi đau đớn của người cha khi nhớ lại cậu bé con của ông mới còn nô đùa bắt bướm giữa mùa hè mà đã lâm bạo bệnh và qua đời trước ngày Giáng sinh. Trong nỗi đau khổ và cô đơn tận cùng ông nghĩ đến việc đi tìm cái chết thì phép lạ hiện ra. Nabokov đưa tôi từ cái đẹp của băng giá mùa đông qua cái nồng ấm của mùa hè, cái tuyệt vọng của người cha bên cạnh cái thơ ngây yêu đời của đứa con, người cha chợt khám phá bí mật của cậu bé con rồi đến cái bí ẩn của sự sống. Còn gì hơn trong đêm Giáng sinh người ta khám phá ra sự nhiệm mầu của một sự sống vừa mới khởi đầu mà sự sống đó tưởng đã chết trong cái lá khô.

McNulty nói về những thiên thần luôn luôn có mặt chung quanh ta nhưng ta không biết sự hiện diện của họ. Hai thiên thần của nhân vật Eddie đã xuất hiện qua hình ảnh một người đàn bà có mặt trong khi cuộc đời của ông chìm dưới đáy vực thẳm và người kia là người quân nhân đã cứu mạng Eddie. Truyện rất thú vị ở chỗ Eddie kể chuyện một cách trân trọng còn Harry không lắng nghe. Ông chỉ chêm vài câu vớ vẩn như xem câu chuyện của Eddie là chuyện tầm phào. Độc giả cũng thấy được cái rộn rã mừng Giáng sinh ở ngay khu vực giàu sang của Manhattan.

Giáng Sinh ở Tokio của Max Hill là một hình ảnh đầy hy vọng giúp người ta chịu đựng gian nan những lúc định mệnh khắc nghiệt đưa đẩy người ta đến chỗ khốn cùng nhất. Giọng văn của Max Hill đầy lạc quan, bất khuất, và không kém phần khôi hài. Tuy ngắn nhưng rất thật; truyện Giáng Sinh ở Tokio cho thấy cây Giáng sinh là biểu tượng làm ấm lòng người tù.

Giáng sinh có khi lại là một ngày đáng buồn cho những người nghèo khổ thiếu thốn vật chất hay tình cảm. Bạn đọc hẳn còn nhớ truyện Cô Bé Bán Diêm của Hans Christian Andersen, vừa đói vừa lạnh, cô đốt tất cả những que diêm không để sưởi ấm mà để giúp cô nhìn thấy người bà đã qua đời. Nhà văn John Cheever có một truyện ngắn mang tựa đề Giáng Sinh là một mùa bất hạnh cho người nghèo. Nhân vật của ông, Charlie, là người gác thang máy, đã dùng câu nói này đánh thức lòng trắc ẩn của những người sống trong căn chung cư. Chú bé Duane trong truyện ngắn Món Quà Vô Giá của Stephanie Ray Brown không biết nói những lời khôn ngoan ẩn ý để đánh thức lòng trắc ẩn của người chung quanh như Charlie. Hoàn cảnh của chú tuy rất bất hạnh nhưng món quà chú tặng cho cô giáo thật là vô giá.

John E. Schlimm II trong truyện ngắn Âm Thanh và Tinh Thần Giáng Sinh đã khéo léo nhắc nhở chúng ta rằng ngày nào cũng có thể là ngày Giáng Sinh nếu ta biết mở cửa tâm hồn thưởng thức cái đẹp của cuộc đời như âm nhạc, nghệ thuật, thiên nhiên. Mary đã không để cái khuyết tật về âm thanh ngăn cản cô trong việc thưởng thức âm nhạc. Sự rung cảm của Mary với bài hát Giáng sinh đã làm cho mọi người chung quanh xúc động. Tôi tin là độc giả cũng sẽ yêu mến truyện ngắn này.

Món Quà Vô Giá của Stephanie Ray Brown và Âm Thanh và Tinh Thần Giáng Sinh được trích từ A Chicken Soup for The Soul Christmas. Chicken soup cũng giống như cháo gà ở Việt Nam được dùng để chữa những cơn cảm cúm. Có thể nó không có vị thuốc nhưng thường là sự săn sóc, tình cảm của người nấu cháo giúp người bệnh cảm thấy khỏe hơn. Jack Canfield và Victor Hansen đã tuyển chọn những truyện ngắn rất ngắn của tất cả mọi người chung quanh, có khi là nhà văn tốt nghiệp đại học như Schlimm II, có khi là một giáo viên dạy lớp một lớp hai như bà Brown.

Giáng sinh là của tất cả mọi người, và ai cũng có một mẩu chuyện nho nhỏ có khi vui có khi buồn để chia sẻ với mọi người. Độc giả cũng có thể bắt đầu viết một truyện về Giáng sinh để gửi cho vào năm sau nhé.

Nguyễn thị Hải Hà


Giáng Sinh
Tác giả: Vladimir Nabokov


Sau khi đi bộ từ trong làng trở về trang viên băng ngang cánh đồng tuyết sáng lờ mờ, Sleptsov ngồi vào trong góc nhà, trên cái ghế bọc nhung ông không nhớ đã từng dùng đến nó. Tương tự như những chuyện chúng ta thường thấy sau một cơn đại họa. Không phải anh em mà lại là một người quen sơ, ông láng giềng ở nông thôn bạn chẳng mấy khi để ý đến, lúc bình thường bạn chẳng buồn trò chuyện đến, lại chính là người an ủi bạn, rất khéo léo và hoàn toàn dịu dàng, nhặt hộ bạn cái mũ bạn đánh rơi sau khi tang lễ chấm dứt lúc bạn đang bị choáng váng trong nỗi đau khổ, răng bạn đang run lập cập, và mắt bạn đang mờ nước mắt. Người ta cũng có thể nói như thế về đồ vật. Bất cứ căn phòng nào, ngay cả những căn phòng ấm áp thân mật nhất và nhỏ đến vô lý nhất, trong cái chái nhà ít khi được sử dụng của một trang viên đồ sộ ở nông thôn cũng có một góc không ai lui tới. Và đó là cái góc nhà Sleptsov đang ngồi.

Chái nhà này nối liền, bằng một hành lang dài và hẹp bằng gỗ, đang bị cơn tuyết miền Bắc Nga lấp đầy, với phần chính của ngôi nhà, chỉ được dùng vào mùa hè. Không cần thiết phải đánh thức hay sưởi ấm nó; chủ nhân của ngôi trang viên đến từ Petersburg ở chỉ đôi ba ngày và chỉ cần dùng phần nối liền của ngôi nhà, chỗ này đơn giản chỉ cần nhóm cái bếp bằng sứ Hòa Lan.

Chủ nhân của trang viên ngồi trong cái góc nhà không ai qua lại này, trên cái ghế bọc nhung, như thể ông đang ngồi chờ trong phòng mạch của bác sĩ. Căn phòng trôi nổi trong bóng tối, và màu xanh thẫm của hoàng hôn lọc thấm qua chòm lông tơ pha lê của sương giá trên khung kính cửa sổ. Ivan, ông giúp việc bệ vệ và ít nói, mới cạo sạch bộ ria mép nên trông ông rất giống ông bố đã qua đời, trước là quản gia, mang vào một cây đèn dầu hỏa, lau chùi sạch sẽ và sáng rực. Ông đặt đèn lên cái bàn nhỏ và, rất êm ả, ông lấy cái chụp đèn lụa màu hồng rào vây chung quanh đèn. Trong một thoáng ngắn ngủi cái gương nghiêng phản chiếu ánh sáng lên lỗ tai và mái tóc bạc cắt ngắn của ông. Xong, ông thoái lui và cánh cửa kêu kẽo kẹt nho nhỏ.

Sleptsov nhấc bàn tay ra khỏi đầu gối, chậm chạp quan sát. Một giọt nến đã dính và đông cứng lại ở khoảng da mỏng giữa hai ngón tay. Ông xòe các ngón tay và lớp vảy mỏng màu trắng bị vỡ tan.

*

Sáng hôm sau, sau một đêm đầy những giấc mơ vụn vằn vô nghĩa hoàn toàn chẳng liên hệ với nỗi buồn khổ của ông, khi Sleptsov bước ra ngoài hàng hiên lạnh giá, nền nhà thoát ra tiếng kêu răng rắc như tiếng súng nổ vui vẻ dưới chân ông, và ánh phản chiếu của các ô kính cửa sổ nhiều màu sắc kết hợp lại thành những hình thoi đẹp tuyệt trần chiếu lên trên những cái ghế trắng không bọc nệm đặt cạnh cửa sổ. Thoạt tiên lớp cửa bên ngoài hơi khó đẩy, rồi thì nó chịu mở ra với tiếng kêu giòn giã răng rắc, và hơi băng giá choáng ngợp tạt vào mặt ông. Lớp cát màu đo đỏ được rải lên lớp băng che phủ những bậc thềm của hiên trước trông giống như bột quế, và các thỏi băng nhũ thật dày có màu xanh lơ pha lục treo lủng lẳng trên mái nhà. Lớp tuyết dày len lỏi vào tận trong mấy cái cửa sổ của phần nhà nối, xiết chặt dãy hành lang hẹp bằng gỗ gọn gàng này bằng gọng kềm giá lạnh. Cái khối màu trắng ngà, trước là nơi trồng hoa vào mùa hè, đã phồng to lên, hơi cao hơn mực tuyết của hàng hiên trước, và xa xa là ánh sáng lộng lẫy của rừng, nơi ấy tất cả các cành cây màu đen đều được viền ánh bạc, và những ngọn thông xanh dường như co rúm những cái vấu màu xanh lục bên dưới sức nặng đẫy đà sáng rực của chúng.

Mang đôi ủng nỉ và cái áo khoác ngắn bên trong lót bằng lông thú có cổ áo bằng lông cừu, Sleptsov bước chầm chậm dọc theo con đường nhỏ rất thẳng, con đường vỏn vẹn đã được dọn sạch tuyết chạy vào cánh đồng tuyết sáng đến lóa mắt phía đằng xa. Ông ngạc nhiên thấy mình vẫn còn sống, vẫn còn có thể nhận thấy cái sáng rực rỡ của tuyết, và cảm thấy đau buốt ở mấy cái răng cửa vì không khí lạnh. Ông cũng chú ý đến cái bụi cây bị tuyết phủ trông giống như một cái nguồn nước phông-tên, và con chó đã để lại trên bờ tuyết một chuỗi dấu chân màu vàng nghệ hằn sâu vào rìa của bờ tuyết. Xa hơn một chút nữa, những bộ phận chống đỡ cái cầu dành cho khách bộ hành thò ra khỏi tuyết, và Sleptsov dừng lại ở nơi ấy. Cáu kỉnh, giận dữ, ông xô lớp tuyết dày xốp phủ đầy lan can cầu. Ông nhớ thật sống động dáng dấp cây cầu vào mùa hè. Cậu bé con trai ông đi dọc theo những thanh gỗ cầu trơn trợt, lấm tấm điểm hoa dại, khéo léo dùng vợt bắt con bướm đậu trên thành cầu. Thế rồi cậu bé nhìn thấy ông bố. Đã mãi mãi mất rồi tiếng cười đùa trên mặt cậu bé, bên dưới cái vành nón rơm bẻ cụp xuống bị nắng rám đen; mấy món đồ chơi cầm tay và dây xích của cái ví da cột vào dây thắt lưng, đôi chân đáng yêu của cậu bé rám nắng nhẵn nhụi trong cái quần “sọt” vải và đôi săng-đan ướt đẫm như lệ thường đứng ở thế dạng chân rất vui vẻ. Chỉ mới đây thôi, ở Petersburg, sau khi say sưa ba hoa về chuyện ở trường, chuyện cái xe đạp, về mấy con bướm Á châu rất đẹp, cậu bé bỗng qua đời, và hôm qua Sleptsov đã mang cỗ quan tài – rất nặng nề, dường như nó chứa sức nặng của cả cuộc đời – về làng, đưa vào nhà mồ riêng của gia đình ở gần nhà thờ trong làng.

Không gian yên vắng như chỉ có thể yên vắng đến thế này trong một ngày sáng sủa và lạnh giá. Sleptsov nhấc chân lên, bước ra khỏi lối đi, và để lại những vết lõm sâu màu xanh lơ trong tuyết, tạo lối đi giữa những thân cây trắng lạ lùng đến nơi cánh rừng bắt đầu rẽ xuống hướng bờ sông. Phía dưới thật xa, những khối băng tỏa ánh sáng lấp lánh gần một cái lỗ bị cắt thủng trong một màu trắng mịn bao la, và, ở bờ bên kia mấy cột khói màu hồng đứng thẳng bên trên mái nhà phủ đầy tuyết của những căn nhà được xây bằng thân gỗ tròn. Sleptsov cởi cái mũ lông cừu đứng tựa lưng vào thân cây. Ở phía xa thật xa, nông dân đang bổ củi – âm thanh của mỗi nhát búa vang vọng lên không trung – và ở bên ngoài làn sương mỏng màu bạc bao phủ rặng cây, bên trên những túp lều gỗ đang ngồi xổm, ánh mặt trời chiếu sáng vẻ thư thái của cây thánh giá trên nhà thờ.

Ông sẽ đến nơi ấy sau bữa ăn trưa bằng cỗ xe trượt tuyết cũ kỹ có chỗ dựa lưng rất thẳng. Tiếng vó của con ngựa màu đen nện mạnh mẽ trong không gian lạnh băng, các chòm lông trắng của những cành cây thấp là đà trượt phía trên đầu, và dấu bánh xe ở phía trước lấp loáng màu xanh lơ có ánh bạc. Khi ông đến nơi, ông ngồi độ một giờ đồng hồ bên cạnh mộ, đặt đôi bàn tay đeo găng bằng len dầy nặng lên trên những thành cầu bằng sắt, hơi lạnh xuyên qua lớp len làm bỏng rát bàn tay ông. Ông về nhà với một nỗi thất vọng nhẹ nhàng, như thể để con trong nhà mồ càng làm xa cách với ông hơn là chỗ này, nơi để lại vô số dấu chân thoăn thoắt của cậu bé đã được bảo toàn bằng lớp tuyết bao phủ.

Chiều tối, bất chợt bị nỗi buồn mãnh liệt tràn ngập, ông bảo mở cửa gian nhà chính. Khi cánh cửa mở toang với tiếng kêu buồn phiền như tiếng khóc, thoang thoảng có một mùi đặc biệt, tươi mát chứ không mốc meo như mùi của mùa đông, thổi từ tiền sảnh có chấn song sắt, Sleptsov lấy ngọn đèn với tấm phản chiếu bằng thiếc từ tay người gác cửa rồi vào nhà một mình. Nền nhà bằng gỗ kêu răng rắc đầy vẻ rùng rợn dưới bước chân của ông. Từ phòng này sang phòng khác trong ánh sáng vàng vọt, và những vật dụng trong nhà được che phủ bằng những tấm vải trông rất xa lạ; thay vì tiếng rung lanh canh của cái đèn trần là một cái bao im lìm treo trên trần nhà, và cái bóng khổng lồ của Sleptsov, chậm chạp duỗi cánh tay, bồng bềnh trôi trên tường và bên trên những cái hình vuông xám của những bức tranh đã được phủ che.

Ông vào phòng cậu con trai đã dùng làm phòng học lúc mùa hè, để ngọn đèn lên bệ cửa sổ, rồi làm gãy móng tay khi ông cố mở cửa sổ, mặc dù ngoài kia chỉ toàn là bóng đêm. Trên tấm kính màu xanh, ngọn lửa vàng của cái đèn hơi bị khói ám hiện ra, và bộ mặt to lớn, râu ria của ông xuất hiện trong chốc lát.

Ông ngồi xuống ở cái bàn trống trải và nghiêm nghị, chau mày khám xét giấy dán tường màu nhạt viền quanh là những dây chuỗi hoa hồng xanh; một cái tủ hẹp thường được dùng ở các văn phòng với những ngăn kéo từ trên xuống dưới; một cái ghế nệm dài và mấy cái ghế bành được che trùm lại; rồi bất thần, gục đầu lên trên bàn, ông bắt đầu lắc mạnh, mê mải, mãnh liệt, ồn ào, áp đôi môi và sau đó đến gò má đẫm ướt vào cái mặt gỗ lạnh lẽo đóng đầy bụi và nắm chặt mấy góc bàn.

Trong ngăn bàn ông tìm thấy quyển vở, cái bảng, mấy cái kim găm màu đen, và một hộp bánh bích-qui bằng thiếc trong đó có chứa một cái kén rất lạ mắt trị giá ba rubles. Sờ vào, nó mỏng manh như giấy và dường như nó được làm bằng một chiếc lá màu nâu cuộn tròn. Cậu con của ông đã nhớ đến nó lúc cậu bé đang nằm bệnh, hối tiếc là mình đã bỏ nó lại ở nhà nhưng tự an ủi với ý nghĩ là con nhộng bên trong có lẽ đã chết rồi. Sleptsov cũng tìm thấy một cái vợt lưới đã mòn: một cái túi bằng vải mỏng như mút-xơ-lin đặt lên trên một cái vòng có thể xếp lại (và lớp vải này vẫn còn mùi của mùa hạ với mùi cỏ nóng vì ánh mặt trời).

Cúi gập người xuống thấp hơn, rồi thấp hơn nữa, ông khóc nức nở rung chuyển cả thân hình, rồi ông bắt đầu kéo ra từng chiếc ngăn có nắp đậy bằng kính trong cái tủ đứng. Trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn, những vật làm mẫu được sắp xếp ngay ngắn, chiếu sáng như lụa bên dưới lớp kính. Ở đây, trong phòng này, trên bàn ấy, con ông đã dang đôi cánh những động vật cậu bắt được. Trước tiên cậu dùng kim găm cắm con côn trùng đã được cẩn thận giết chết lên cái khe rãnh có đáy bằng gỗ xốp của cái bảng trưng bày, ở giữa những lát gỗ mỏng có thể điều chỉnh được và ép nó xuống cho thật phẳng bằng kim ghim trên những mảnh giấy lên đôi cánh vẫn còn tươi và mềm mại. Bây giờ thì chúng đã rất khô và đã được chuyển vào trong cái tủ đứng này – loài bướm Đuôi Én tuyệt mỹ, loại bướm hiếm màu Đồng và màu Xanh, và các loại bướm quí khác, một vài con bướm được gắn lên bảng ở vị thế nằm ngửa để trưng bày trứng bướm. Con ông từng đọc tên Latin của những loại côn trùng này với giọng than thở một cách đắc thắng hay rẻ rúng. Và lũ bướm, lũ bướm Diều Hâu Aspen đầu tiên xuất hiện hồi mùa hạ của năm năm trước.

Đêm có màu xanh của khói và trăng rất sáng; mây mỏng lác đác trên trời nhưng không vệt mây nào chạm đến mặt trăng kiêu sa và mỏng manh. Rừng cây, những mảng dày băng giá màu xám, rải bóng đen trên tuyết, lấp lánh chỗ này nơi kia một thứ ánh sáng của kim loại. Trong cái ghế bọc nhung, gian phòng sưởi ấm áp của đoạn nối hai dãy nhà, Ivan đã đặt một cây thông cao chừng sáu hay bảy tấc trong một cái chậu đất sét nung lên bàn, và chỉ cắm một ngọn nến lên chân nến hình thánh giá khi Sleptsov từ gian nhà chính quay về, lạnh lẽo, mắt đỏ hoe, bụi xám còn dính đầy trên má, dưới nách cặp theo cái hộp gỗ. Nhìn thấy cây Giáng Sinh trên bàn, ông hỏi lơ đễnh, “Cái gì đây?”

Đỡ cái hộp gỗ trên tay ông, Ivan trả lời bằng giọng rất nhỏ nhẹ, dịu dàng, “Ngày mai là ngày lễ.”
“Không, mang nó đi chỗ khác,” Sleptsov nói với vẻ cau có, trong đầu thì suy nghĩ, “Có thể nào là đêm Giáng Sinh? Tại sao ta có thể quên chứ?”

Ivan dịu dàng giữ ý kiến, “Nó đẹp và xanh mướt. Cho nó đứng ở đây một thời gian.”
“Làm ơn mang nó đi,” Sleptsov lặp lại, cúi người trên cái hộp gỗ ông mang về. Trong đó ông đã mang hết đồ dùng của con trai – cái vợt bắt bướm có thể gấp lại được, hộp bánh bích-qui bằng thiếc với cái kén hình quả lê, cái bảng để giăng cánh bướm, những cây kim găm trong cái hộp sơn mài, cuốn vở màu xanh. Phân nửa trang đầu tiên đã bị xé đi, và phần còn lại chứa một phần bài chính tả tiếng Pháp. Sau đó có những bài nhật ký, tên của những con bướm bắt được, và những hàng ghi chú khác:

Đi ngang một vùng đầm lầy xa mãi tận Borovichi . . .
Hôm nay mưa. Đánh cờ với bố, sau đó đọc Frigate của Goncharov, cuốn sách chán kinh khủng.
Một ngày nóng tuyệt vời. Chạy xe đạp buổi chiều tối. Một con bọ bé xíu rơi vào mắt tôi. Cố ý đạp xe ngang ngôi nhà nghỉ hè của cô bé ấy hai lần, nhưng không gặp cô bé . . .

Sleptsov ngẩng đầu lên, nuốt cái gì đó rất nóng và to lớn. Con ông viết về ai thế?

Chạy xe đạp như thường lệ. Chúng tôi nhìn nhau. Cục cưng của tôi, người yêu ơi …

“Chuyện này không thể tưởng tượng được,” Sleptsov thầm thì. “Tôi không bao giờ biết. . .”
Ông lại cúi người xuống, tập trung cố giải mã nét chữ trẻ con hết nghiêng người đứng lên lại bẻ cong xuống lề quyển vở.

Nhìn thấy một loại bướm mới của giống Mỹ Nữ Camberwell hôm nay. Điều đó có nghĩa là mùa thu đã đến. Mưa lúc chiều tối. Cô bé có lẽ đã về thành phố rồi, chúng tôi chưa có dịp làm quen với nhau. Giã biệt, người yêu dấu. Tôi cảm thấy rất buồn. . . .

“Nó chưa bao giờ kể tôi nghe những chuyện như thế này . . .” Sleptsov cố nhớ lại, xoa trán bằng lòng bàn tay.

Trên trang giấy cuối cùng có một bức họa vẽ bằng mực: cái nhìn từ phía sau của con voi – hai cái cột to xù, góc cạnh của hai lỗ tai, và cái đuôi bé xíu.

Sleptsov đứng lên. Ông lắc đầu, cố gắng tự kềm chế những tiếng nức nở khủng khiếp cứ chực trào ra.
“Tôi–không-thể-chịu-đựng-được-nữa,” ông lè nhè giữa những tiếng rên, lặp lại càng chậm hơn, “Tôi–không-thể-chịu-đựng-được-nữa . . .”

Ngày mai là ngày Giáng sinh, điều nhắc nhở đến bất chợt, và tôi sẽ chết. Dĩ nhiên. Đơn giản thế thôi. Chính đêm nay . . .

Ông rút cái khăn tay ra và lau khô đôi mắt, gò má. Những vết đen dính lại trên khăn tay.
“. . . cái chết,” Sleptsov nói nhỏ nhẹ như thể kết luận một câu dài.

Tiếng đồng hồ gõ nhịp. Những mô hình sương giá trùng lặp lên nhau trên tấm kính xanh của cửa sổ. Quyển vở mở được chiếu sáng rực trên bàn, bên cạnh nó ánh sáng xuyên qua lớp vải mút-xơ-lin của cái vợt bắt bướm, sáng lóng lánh ở một góc của cái hộp thiếc mở nắp. Sleptsov nhắm chặt mắt, mơ hồ cảm thấy sự sống của trần thế trước mặt ông, hoàn toàn trơ trụi đơn giản và buồn thảm khủng khiếp, vô lý vô dụng đến nhục nhã, tuyệt tự, thiếu vắng phép nhiệm mầu.

Ngay lúc ấy bỗng có tiếng nứt – âm thanh mỏng manh như tiếng sợi dây cao su bị căng thẳng rồi bị đứt. Sleptsov mở mắt. Cái kén trong hộp bánh bích-qui bằng thiếc đã vỡ ra ở phía trên đầu, và một con vật nhăn nheo màu đen to cỡ một con chuột sơ sinh đang bò lên trên tường phía trên bàn. Nó dừng lại, cố bám vào mặt tường bằng sáu cái chân cuống quít và bắt đầu phập phồng một cách lạ thường. Nó xuất hiện từ cái kén bởi vì người đàn ông vật vã trong nỗi đau khổ đã mang cái hộp thiếc vào căn phòng ấm áp của ông, và hơi ấm đã thấm vào cái vỏ kén bằng lá và lớp tơ dày chắc của nó; nó chờ đợi giây phút này từ lâu, gom góp tất cả sức lực, và giờ đây, đã nở, thoát ra, nó từ từ và đầy nhiệm mầu nở to lên. Dần dần những mảnh vỏ nhăn nheo, những đường viền nhung nở ra; những sợi gân hình quạt xếp trở nên cứng cáp hơn khi nó chứa đầy không khí. Nó trở nên loài vật có cánh, không thể nào tưởng tượng nổi, có khuôn mặt trưởng thành và trở nên rất xinh đẹp. Và đôi cánh – vẫn còn yếu ớt, và ướt át – tiếp tục lớn lên và mở ra, và bây giờ chúng phát triển đến mức toàn vẹn nhất mà Tạo Hóa đã xếp đặt, và nơi đó, trên vách tường, thay vì là một cái khối nhỏ của cuộc đời, thay vì là con chuột đen, là một con bướm Attacus như những loài có thể bay như chim, vòng quanh ngọn đèn trong những buổi hoàng hôn bên Ấn Độ.

Và rồi đôi cánh dày và đen ấy, với các đốm sáng ngời như đôi mắt trên ấy với một đóa hoa màu tím, nó xoa những cái chân trước vào nhau như phủi bụi, hít một hơi đầy bên dưới sự thôi thúc rất dịu dàng, khao khát, rất giống với hạnh phúc của loài người./.

Dmitri Nabokov dịch từ bản tiếng Nga với sự góp ý của tác giả.


___

Vladimir Nabokov (1899 – 1977) nhà văn Nga biết rất nhiều thứ tiếng. Ông viết chín tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Nga rồi nổi tiếng trên toàn thế giới là nhà văn lớn chuyên viết tiếng Anh với văn phong tuyệt vời. Tác phẩm Lolita của ông ra đời năm 1955 là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông. Lolita, Pale Fire, và Speak, Memory là những tác phẩm nằm trong danh sách Modern Library 100 Best Novels và Nonfiction (100 quyển tiểu thuyết và các thể loại khác như ký, phê bình, tiểu luận hay nhất của Thư Viện Hiện Đại).
Được tạo bởi Blogger.