Hình ảnh đàn cá Hồi vất vả ngược dòng trở về cố hương trên dòng nước đầy sóng và gió đang chiếu trên màn hình tivi khiến Thụy cảm thấy lòng mình chùng xuống. Này là thác, kia là ghềnh, có những con cá đã bỏ mạng, có những con đang kiệt sức, có những con đang về gần đến đích, và cũng có những con đã đạt được ước mơ … Hành trình trở về nguồn cội của loài cá Hồi như đang diễn lại đời của cô – một kẻ lội ngược dòng.



Này là thác, kia là ghềnh, cô cũng đang lội ngược về nguồn cội. Số phận nào sẽ dành cho cô ? Sẽ đến đích hay sẽ như thế nào?

Ngày ấy cô vừa qua tuổi mười bảy. Một tương lai đẹp như mơ giang tay chờ đón một kẻ có nhiều may mắn như cô. Sinh vào tuổi con Rồng, lại trúng ngay giờ đẹp nên số mệnh cô đã được an bài: một cuộc đời sung sướng. Thầy giáo già đầy kinh nghiệm dạy văn lớp 12 của cô đã nói như thế khi xem chỉ tay cho cô. Cô mỉm cười hạnh phúc, ước mong điều đó thành sự thật.

Đẹp người, đẹp nết lại học hành giỏi giang, cô như được ông trời chắp cánh để bay vào không gian của những kẻ thành đạt. Cô nhìn về tương lai và mơ những giấc mơ thật đẹp. Trong những giấc mơ ấy, bạn trai cô luôn có mặt bên cạnh, không rời cô, dù chỉ nửa bước. Mang đôi hài tiên, cô nhón gót bước khẽ khàng bên anh trên tấm thảm ngũ sắc. Cô thích những gì sặc sỡ, lộng lẫy, cao sang…

Nhưng rồi trong đêm ấy, đêm cô bước vào tuổi 18, một tiếng gọi từ trời cao đã cất lên, xuyên qua màn đêm, xuyên qua mọi ước vọng và cắm sâu vào trái tim cô. Tiếng gọi ấy mãnh liệt đến độ cô phải bật dậy, bước ra khỏi thế giới cổ tích của nàng công chúa có ngôi sao may mắn chiếu mệnh. Cô khóc, cô giãy giụa, cô đau đớn, nhưng cô không cưỡng lại. Cô ra đi, bỏ lại tất cả sau lưng !…

Người cô yêu hỏi rằng anh đã làm gì sai? Cô chỉ biết gạt nước mắt cho tình đầu, bảo anh đừng đợi. Hành trình lội ngược dòng đời bắt đầu từ độ ấy.

Hai mươi năm trôi qua.

Cô đã khấn trọn đời được gần chục năm. Tiếng gọi năm xưa đã không đưa cô vào một thế giới hoàn toàn cô tịch của Chị Thánh Têrêsa, không dấn mình trong những hoạt động bác ái với người cùi, không sống chết với những trẻ em lây nhiễm … cô là nữ tu Dòng Thuyết Giáo, khóac trên mình bộ tu phục trắng – đen theo Chân Lý Tin Mừng. Cô tiếp tục đi. Hành trình đã khởi đầu từ 20 năm trước, bây giờ vẫn chỉ là những bước đầu tiên. Điểm đến phía trước cô đã nhìn thấy nhưng vẫn còn xa, rất xa!

Dòng nước ngược đôi khi hung hãn. Này là thác, kia là ghềnh. Dừng lại để trôi theo dòng chảy, chắc chắn sẽ dễ dàng hơn cho cô rất nhiều. Nhưng, cô không thể dừng lại. Dừng lại có nghĩa là bị đẩy lùi, là trở về bước đầu tiên! Dòng đời chảy xuôi, sẵn sàng lôi theo bất cứ cái gì trên lộ trình của nó. Biết thế, nhưng có lúc quá mỏi mệt, cô lại muốn buông xuôi. Đôi khi cô tiếc ngày xưa, giá mà mình đừng vội. Đôi khi cô mong mình được làm một vị ẩn tu, không còn nhìn thấy cuộc đời nhiều màu sắc. Đôi khi, cô mơ làm một Dì Phước của một dòng bác aí, hy sinh đời mình bên những mảnh đời bất hạnh, tháng ngày lam lũ sẽ khiến cô quên dĩ vãng, quên cả những ước mộng tương lai. Cô không còn muốn là cô với những giằng co rất người và rất mãnh liệt. Cô sợ mình không còn sức để đi tiếp. Cô sợ bị ngã gục dọc đường!

Ngoảnh nhìn lại phía sau, cô nhận ra sau những tháng ngày cố gắng: cố gắng cầu nguyện, cố gắng giữ kỷ luật, cố gắng chu toàn bổn phận, … cố gắng và cố gắng… Rồi cô cũng đạt được những gì cô cần. Cô tự cho mình hạnh phúc.

Hình ảnh một nữ tu (Sr Mai Thị Mậu) đang chăm sóc một bệnh nhân của làng phong Di Linh

Bây giờ, cô cảm nhận sâu xa rằng cô vẫn khắc khoải với những gì cô muốn. Có lẽ nàng công chúa trong cô vẫn sống những giấc mơ thần tiên nên đôi lúc cô cảm thấy thật cô đơn, trống vắng. Những kỷ niệm đẹp của mối tình đầu làm cô nhớ, và cô muốn có một bờ vai cho cô tựa đầu mỗi khi cô cảm thấy mệt mỏi, buồn bã vì những chuyện không vui xảy ra trong những sinh hoạt hằng ngày. Tiếng khóc trẻ thơ, những lời bập bẹ của đứa trẻ đang học nói khiến cho bản năng làm mẹ trong cô trỗi dậy. Cô lại mơ một khung trời khác, khung trời tự do của riêng mình với tấm thảm ngũ sắc mà cô ưa thích.

Cô vẫn mơ, và vẫn biết mình đang đi ngược dòng nên lại lắc đầu từ chối những mối chân tình lắm lúc đã làm trái tim cô không ngủ yên. Lòng cô đau, nhưng ý chí cô càng thêm mạnh mẽ bởi cô xác tín rõ ràng về tình yêu của mình. Trái tim cô chỉ hướng về nơi nó đã được gọi đến, cho dù đôi khi tiếng gọi chợt nghẹn tắc…

Này là thác, kia là ghềnh. Đích đến vẫn ở phía trước. Nhưng còn xa, rất xa! Cô sợ, nhưng cô sẽ không bỏ cuộc.

Giữa một ngôi trường xa hoa tráng lệ trong một đất nước được xem là văn minh nhất thế giới, chiếc áo dòng trắng với khăn lúp đen của cô trở nên vô cùng lạc lõng. Không ai ăn mặc như cô, cũng không ai sống giống như cô. Người ta nhìn cô. Xa lạ ! Có bình thường không khi những người quanh cô coi sex là một nhu cầu không thể thiếu của con người, họ ôm hôn nhau thắm thiết ngay trên cầu thang có bao người qua lại… cô vẫn trung trinh với lời khấn Khiết Tịnh, giữ cho đôi mắt tâm hồn trinh trong, không màng chi đến những điều mà bản năng vẫn bảo là phải “có”. Khi luật pháp bảo vệ để công dân có được tự do làm những gì họ muốn, cô khép mình trong lề luật, xin phép khi cần làm gì, đi đâu. Khi người ta tranh đấu để có được quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt về “cái khúc ruột” của mình (đồng tiền liền khúc ruột mà), cô vẫn ngửa tay xin từng đồng cần chi dụng dù biết đồng lương mình làm được không nhỏ chút nào.

Cô khác người! Cô lập dị ! Người ta bảo cô như thế.

Mặc ai nói gì, cô vẫn chỉ mỉm cười. Giữa một xã hội vô thần, Chúa (God) chỉ là một cái tên như những cái tên khác, có nói gì cũng vô ích. Cô sống với xác tín của mình, đối diện với sự khác biệt bên ngoài bằng chính khối óc và trái tim.

Này là thác, kia là ghềnh, nước vẫn ào ào chảy xuôi. Cô sợ, nhưng cô không bỏ cuộc.

Đời sống không như là mơ! Không biết ai đã nói thế, nhưng nó thật. Cuộc sống với những va chạm hằng ngày, những bất đồng chính kiến, những tị hiềm, những hiểu lầm … đã khiến cho đời sống cộng đoàn đáng lẽ phải đẹp lại trở nên méo mó. Cô băn khoăn với ý nghĩ: nếu cả đời mình như thế này … thì sao ?

Rồi những người bạn của cô, những người mà cô biết đã từng trải qua những chặng đường hết sức khó khăn đầu đời tu với một khát khao mãnh liệt là được trọn vẹn thuộc về Chúa, bây giờ họ đang ở một nơi khác, và thuộc về người khác! Đó đây, những tu viện to lớn đã một thời nổi danh đang sắp đóng cửa. Những vụ xì-căng-đan trong giới giáo sĩ vì lạm dụng tình dục trẻ em, vì tự tử, vì những cuộc kiện tụng trước tòa án dân sự. Tất cả khiến cho tâm trí cô hoang mang với bao nhiêu câu hỏi. Đâu là ý nghĩa của đời tu ? Sau một hành trình dài vất vả với bao hy sinh, chịu đựng, người tu sĩ được gì, mất gì ? Chúa có còn hiện hữu? Có bao giờ Chúa thua cuộc không?

Tất cả đàn cá cùng hồi hương, nhưng con nào sẽ tìm được đến đích, con nào không?

***

Chương trình trên tivi đã dứt từ lâu. Đàn cá Hồi đã lại bắt đầu một hành trình ra biển mới. Bóng đêm đã phủ khắp mặt đất với sự im ắng đến lạ thường. Cô đứng lặng, miên man với những suy tư chợt đến. Như bị kéo bởi một lực hút vô hình, cô mở cửa nhà nguyện và bước vào trong. Không một tiếng động! Chỉ có ánh nến trước Nhà Chầu lung linh nhảy múa. Có lẽ nó muốn diễn tả cho cô thấy thế nào là niềm vui được ở kề bên Chúa. Tấm màn phía sau Nhà Chầu bỗng lung lay thật mạnh tựa như có cơn gió lốc thổi vào rồi bỗng im bặt. Trong đầu cô chợt vang lên một tiếng nói thật oai nghiêm “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”, “ Không có việc gì mà Thiên Chúa không thể làm được” … Tự nhiên cô cảm thấy cơn hoang mang dừng hẳn lại, mọi lo toan chợt tan biến và tâm hồn thật bình an. Phải, cô là cô, một nữ tu Dòng Thuyết Giáo. Cùng đích của đời cô mãi mãi vẫn là Chúa. Dù cuộc sống có thế nào, cô cũng phải đến cho được đích. Dòng đời dù trắc trở, dù lắm thác nhiều ghềnh, nhưng cô không có gì phải lo sợ. Cô tin vào Thiên Chúa và tin vào Đấng Tình Quân Giêsu của cô. Cô sẽ vẫn lội ngược dòng, mạnh bạo và can trường vì đời cô có Chúa. Cô sẽ sống một cuộc sống thật hạnh phúc như Chúa đã tiền định cho cô. “Không có việc gì mà Chúa không thể làm được”, thì cô, với ơn Chúa, cũng sẽ làm được tất cả những gì cô mong ước. Cô tin như thế và sẽ sống như thế.


Đọc thêm: 


* Cảm xúc qua nhạc phẩm nổi tiếng Requiem của nhạc sư Mozart.
“Requiem aeternam dona eis, Domine ! Et lux perpetua luceat eis.”
(Lạy Chúa! Xin cho các Linh Hồn được nghỉ yên muôn đời! Và được hưởng Ánh sáng ngàn thu.)

Lạy Chúa! Hãy lắng nghe con dâng lời,
Cho các Linh Hồn được nghỉ yên muôn đời.
Xin đưa các Linh Hồn về bên Chúa,
Được hưởng Ánh sáng huy hoàng ngàn thu.


Ôi! Ngày ấy kinh hoàng,
Tiếng loa thét vang vang,
Muôn kẻ chết chỗi dậy,
Từ khắp chốn trần gian.

Tất cả phải tập trung,
Chúa uy nghi vô cùng,
Từ trời cao ngự xuống,
Sẽ thưởng phạt chí công.

Giờ biết nói gì đây,
Công tội đã phơi bày,
Không thể nào che giấu,
Đã quá muộn còn đâu.

Ôi! Lạy Chúa Ki-Tô,
Xin cứu vớt Linh Hồn,
Khỏi cực hình hỏa ngục,
Thoát bể lửa trầm luân.

Chúa cứu Mai-đệ-Liên, (1)
Thứ tha người trộm hiền,
Biết ăn năn thống hối,
Được gia nhập đoàn chiên.

Quyền năng Chúa khôn bì,
Với tấm lòng từ bi,
Hãy giơ tay cứu vớt,
Đừng hủy diệt con đi.

Con sấp mình nài van,
Lòng đau xót vô vàn,
Quyết ăn năn xám hối,
Hồng phúc được Chúa ban.

Chiếu Ánh sáng muôn nơi,
Cùng Các Thánh trên trời,
Cho Linh Hồn an nghỉ,
Nơi Thiên Quốc muôn đời.

Bản Ai Ca tiến dâng, (2)
Kêu cầu Chúa từ nhân,
Đoái thương kẻ đã chết,
Và con nữa mai sau.

Thánh! Thánh! Thánh! Chí Thánh!
Thiên Chúa các đạo binh,
Tầng trời hoan hô Chúa.
Trời đất đầy quang vinh.

Ôi! Lạy Chiên Thiên Chúa!
Đấng xóa tội trần gian.
Ôi! Lạy Chiên Thiên Chúa!
Cho Linh Hồn nghỉ an.

Lạy Chúa! Hãy lắng nghe con dâng lời,
Cho các Linh Hồn nghỉ yên muôn đời.
Xin đưa các Linh Hồn về bên Chúa!
Được hưởng Ánh sáng huy hoàng ngàn thu.

ĐINH VĂN TIẾN HÙNG
(Tác giả gửi bài về BBT)

Ghi chú : (*) Requiem là bản Thánh ca Cầu Hồn nổi tiếng của nhạc sư Wolfgang Amadeus Mozart. Ông đã sáng tác nhạc phẩm này 2 tuần lễ trước khi từ trần do sự ủy nhiệm của một nhân vật giấu tên, viết cho người nhưng cũng là viết cho chính mình trong những ngày cuối đời trên giường bệnh. Đây là nhạc phẩm cuối cùng đời ông.
(1) Tên Bà Thánh Madalena thường được phiên âm sang Hán- Việt là Mai-đệ-Liên.
(2) Bản giao hưởng Requiem được coi như một tấu khúc bi thương cầu cho người qua đời.
Quí Vị trên 60 tuổi đều quen thuộc với bài Requiem được hát lên trong nghi lễ an táng tại Thánh đường Việt Nam ngày xưa.

Nhân Tháng Các Linh hồn, đọc chùm thơ tưởng nhớ người đã khuất


Tháng 11, Giáo Hội mời gọi Dân Chúa cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.
Vào tháng này, mùa thu sắp đi qua, lá rụng nhiều và trời se lạnh. Cảnh vật dễ đưa lòng người đến với những hồi tưởng, kỷ niệm.


Thi sĩ là những người nhạy cảm. Những vần thơ tưởng nhớ người đã khuất là một phần của hồn nhạy cảm đó.

Nhưng thơ hồi tưởng, không chỉ đưa về một miền đã xa, nhớ người đã khuất, mà còn soi vào không gian hiện tại, để ngẫm nghĩ, thấu hiểu và thêm lòng quý yêu cuộc sống lúc này, ở đây…

Đồng thời cũng gợi nhắc, một quê hương vĩnh cửu - cõi sống bất diệt đang đợi con người bước vào, tận hưởng hạnh phúc từ những chuẩn bị, vun xới nơi cõi hữu hạn này.

Nói với hoàng hôn trong khu vườn của mẹ


Mẹ ơi, hoàng hôn
Bước đi khe khẽ
Trong vườn của mẹ
Trong gió nhẹ lay
Run lá gừng cay
Lời gió tha thiết
Rưng rưng tạm biệt
Hôn lên giàn trầu
Hôn lên tàu cau
Hôn cành lan tím
Con nghe bịn rịn
Năm tháng phôi pha
Mắt mẹ đã lòa
Suốt ngày bóng xế
Suốt ngày quạnh quẽ
Suốt ngày hoàng hôn
Con nghe bồn chồn
Những lời mẹ dặn
Tã lót cho chắt
Quê quán cháu dâu
Ăn đâu làm đâu
Đời mẹ bóng xế
Cháu lớn cháu bé
Mẹ nói bình minh
Dòng máu của mình
Chảy trong bốn cõi
Cận kề bóng tối
Mẹ nói hừng đông
Con nhìn hoàng hôn
Trắng xóa tóc mẹ
Nắng chỉ vương nhẹ
Trong mắt đã mờ
Tiếng chim vu vơ
Trong lời rời rạc
Gió khoan gió nhặt
Thổi tắt hoàng hôn
Con nghe bồn chồn
Một ngày đã hết
Sức mẹ đã kiệt
Ngọn đèn lắt lay
Dầu cạn đĩa gầy
Run trong bóng tối
Thăm mẹ một tối
Con lại đi ngay
Nén tiếng thở dài
Giấu trong lá úa
Mẹ giấu đau khổ
Trong đời quạnh hiu…

Lễ Các Linh hồn 2009, mười tháng mẹ đi xa
Lê Quy Hậu
(Giáo xứ Phát Diệm – Phú Nhuận)




Đài thơ

(Tưởng nhớ Hàn Mặc Tử trong chuyến đi Quy Hòa – 1973)


Phượng sáng nay quỳ dâng hoa trên dốc
Lầu Cựu Hoàng cây sầu mọc sum suê
Tàu chở hương từ biển cả đưa về
Sóng xô nhẹ, nhạc tư bề giăng phủ
Đất Đô Chiêm năm xưa giờ tích tụ
Thành chiếc nôi ấp ủ xác Thi Nhân
Nhưng không gian nào loãng ý phong trần
Cây thế hệ chưa bón phân cùng mức
Chừ, đêm nay ánh trăng cao tột bực
Nhuộm núi đồi như một bức tranh thêu
Hỡi Lê Mai! Hỡi Hoàng Cúc! Lệ Kiều!
Hỡi Thương Thương! Hỡi Mộng Cầm đã tới!
Đã sưởi ấm tấm lòng thơ vời vợi
Hay linh hồn ký gởi chốn lầu son?
Trời Quy Nhơn, Gành Ráng dấu chưa mòn
Đất ưỡn ngực, cội thơ chồng lểnh nghểnh.
Hỡi Thanh Địch! Hỡi Tái Phùng có đến!
Hỡi Chế Lan Viên! Quách Tấn tới chăng?
Hỡi các người có nhặt ánh sao băng
Đắp lên mộ Thi nhân Hàn Mặc Tử?
Hay chỉ có đôi tay vì Vương Nữ
Mà trong thơ Người đầy ứ đức Tin
Hoa cô liêu đã nở rộ muôn hình
Gió thổi nhẹ lời Thơ Kinh còn đọng
Đức Maria! Vòng tay dang rộng
Trên tượng đài chưa mở cổng thời xanh
Nên đêm nay mạch sầu chảy mong manh
Nước mắt Phượng trên cành đang nhỏ xuống
Tôi tới đây rót chút hương sầu muộn
Gom chút lời còn lại dính trong xương
Tôi với Người cùng thế giới đau thương
Thịt cùng ngấm một thứ hương kỳ quặc
Cũng cùng rưới lên rừng đời nước mắt
Nay bên mồ xin đặt một vòng hoa
Kết bằng trăng, bằng bể sáng bao la
Bằng tinh khí dải Ngân Hà phối hợp
Đây Gành Ráng! Chiếc nôi thần rộng ngợp
Đây trùng dương! Pho trí tuệ mênh mông
Đây Quy Hòa! Một dải tắm màu trong
Cây chưa trổ hết – mùa thơ đương héo
Biển chưa phổ hết – lời ru trong trẻo
Ôi! Đáy mồ cuồn cuộn bốc hơi thơ
Ôi! Não xương chừ lạnh đến bao giờ
Dây luyến ái máu tim nào đã dứt
Đáy huyệt kín, tế bào còn thơm nức
Mùa đức Tin kỳ ảo Chúa Trời ban
Thơ Người như tòa lầu ngọc cao sang
Ôi tuyệt mức! Tháp đàn rung rinh mãi
Khắp thế giới nhiễm mùi hương tê dại
Bốc ra từ dòng mạch cái đau thương
Thơ Người bay lồng lộng cả Thiên Đường
Tôi xin được sớt chút hương kỳ ảo
Mà trong thịt trong xương còn huyên náo
Tự bây giờ và đến cả thiên thu…

Đơn Phương


Cỗ xe đời


Cỗ xe đời chuyển bánh
Niền lốp là hư không
Có ai hốt hết bụi hồng
Gánh về mai táng vào trong miên trường?
Cuộc đời, hạt giống nhiễu nhương
Chỉ là mọc được trên tường phù vân.

Đơn Phương


––––––––––––––––––––
Chú thích của tác giả:
1 Thuở ấy (1973), lối mòn tới mộ Hàn Mặc Tử có rất nhiều cây phượng vĩ, mùa hè hoa đỏ rực.
2 Lầu nghỉ mát của vua Bảo Đại, ở Gành Ráng, sau mộ Hàn Mặc Tử.
3 Kinh đô Chiêm Thành.

Nguồn: http://hdgmvietnam.org/nhan-thang-cac-linh-hon-doc-chum-tho-tuong-nho-nguoi-da-khuat/1010.109.19.aspx


Toàn văn bài giảng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong đại lễ tôn vinh hiển thánh 117 chân phúc tử đạo Việt Nam tại Rôma ngày 19-06-1988



Anh chị em thân mến,

1 – "Chúng tôi rao giảng Chúa Giêsu tử nạn Thập Giá" (1Cr 1, 23)

Mượn lời trên đây của Thánh Phaolô, Giáo Hội Rôma hôm nay gửi lời chào Giáo Hội Việt Nam, mặc dầu trùng dương xa cách, nhưng rất gần gũi trong tình thân ái của tôi. Đồng thời, tôi xin chào toàn thể dân tộc Việt Nam và nói lên rằng cả Giáo Hội hoàn vũ hết lòng cầu chúc cho dân tộc quý quốc được trăm phần an lành.


Mối thịnh tình ưu ái đầu tiên xin dành cho người anh em thân yêu Giám Mục Hà Nội, và cho tất cả Giám Mục trong giáo đoàn Việt Nam, mà giờ này tôi ao ước các ngài hiện diện nơi đây. Cùng với hàng Giáo Phẩm, tôi chào tất cả các linh mục, tu sĩ nam nữ, các thành phần giáo dân tham gia công cuộc truyền đạo, và trong toàn thể giáo dân Việt Nam: trong giờ phút này, tôi linh cảm mình hiệp thông với họ một cách sâu xa đặc biệt.

Tôi chào tất cả anh em Giám mục cũng như giáo dân của Tây Ban Nha, Pháp và Phi Luật Tân, những xứ sở mà trong ba thế kỷ đã góp phần vào việc truyền giáo tại Việt Nam. Tất cả tuôn về Rôma hôm nay để tưởng niệm những người anh em trước kia là Thừa Sai xuất xứ từ ba quốc gia này.

Một tư tưởng ưu ái xin gửi đến các linh mục Đaminh thuộc tỉnh dòng Đức Mẹ Mân Côi đã thánh lập từ bốn thế kỷ và Hội Thừa Sai Ba-Lê đã cống hiến một số đông đảo Giám Mục và Linh mục, mà hôm nay chúng ta sùng kính như những vị Tử Đạo vì rao giảng Lời Chúa.

2 – Một cách đặc biệt, tôi gửi lời chào tất cả anh chị em Việt Nam, hiện là giáo đoàn thế giới, hôm nay từ bốn phương trời: Mỹ Châu, Á Châu, Úc Châu và Âu Châu tuôn về địa điểm này. Tôi biết rằng anh em đang ôm nặng ước nguyện tôn vinh các vị Tử Đạo đồng hương, nhưng trong thâm tâm còn tự cảm nhu cầu - đứng chung quanh các vị Thánh - để xe kết tình huynh đệ kết nghĩa, thương mến, hiện đang phập phồng trong đáy lòng vì nghĩ đến giang sơn gấm vóc ở xa. Hướng về quê hương này, anh chị em hoài cảm, luyến ái, nhớ nhung, là vì giữa thời gian phiêu bạt, anh chị em cố tìm ra một giây phút cảm thông với nhau và cùng chung sống niềm hy vọng.

Lên tiếng với anh em để hô vang Chúa Kitô tử nạn Thập Giá, tất cả chúng tôi hôm nay để lời cám ơn anh em vì tấm gương nhân chứng đặc biệt các vị Thánh Tử Đạo của Giáo Hội Việt Nam anh em đã nêu cao, bất cứ các ngài là con dân Việt Nam hay là những vị Thừa Sai, xuất xứ từ những nước đã in sâu mầm mống Đức Tin Chúa Kitô.

Làm sao kể lại cho hết ? Tất cả là 117 vị Tử Đạo, trong số đó 8 vị Giám Mục, 50 Linh mục, 59 giáo dân, trong số đó một phụ nữ, Thánh Agnès Lê Thị Thành, mẹ sáu người con?

Truyền thống còn ghi nhớ lịch sử chết vì đạo của Giáo Hội Việt Nam rất bao quát, phức tạp ngay từ lúc ban đầu. Từ năm 1533, nghĩa từ lúc miền Đông Nam Á Châu vừa đựơc truyền đạo, Giáo Hội Việt Nam đã bị bách hại suốt ba thế kỷ bắt bớ của Giáo Hội Âu Châu thời xưa. Từng ngàn giáo dân tử đạo, từng trăm số người đã chết lưu lạc trên núi, trong rừng sâu nước độc !

Để lấy một ví dụ : Trong các vị Tử Đạo hôm nay, đi tiền phong có Thánh Vinh Sơn Liêm, dòng Đaminh là người Việt tử đạo đầu tiên năm 1733. Rồi tới Linh mục Anrê Dũng Lạc, sinh trưởng trong một gia đình rất nghèo khó, bên lương từ nhỏ đã phải "bán" cho một thầy giảng dậy giáo lý, nhưng rồi Chúa cho tới chức Linh mục năm 1823, đựơc bổ nhiệm chánh xứ và đương nhiên trở thành nhà truyền giáo trong nhiều địa hạt. Nhiều lần đã bị lao tù, nhưng vẫn được giáo dân tốt lành đem tiền chuộc về, trong khi bản thân ngài mong chờ đựơc chết vì Chúa. "Những ngừời chết vì Đức Tin - ngài nói – thì lên Thiên Đàng thẳng rẵng; tại sao chúng ta cứ phải ẩn náu, phải tốn tiền đút lót cho quan quyền : thà để cho chúng tôi bị bắt và rồi tử đạo có phải hơn không ?". Thực ra, vẫn một ý chí hăng say và được ơn Chúa nâng đỡ, ngài đã anh dũng chịu trảm quyết tại Hà Nội ngày 21-12-1839.

3 – Trong bài Phúc Âm hôm nay nhắc lại những gì Chúa Kitô tiên đoán về sự kiện các Tông Đồ và những ai theo chân các Ngài sẽ bị bách hại : "Họ sẽ lôi chúng con ra tòa Công Nghị, sẽ đánh đập chúng con giữa hội đường, sẽ điệu chúng con trước vua chúa quan quyền vì danh Cha, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại" (Mt 10, 17-18). Chúa tiên báo một cách hết sức rõ rệt, không có úp mở. Chúa không đưa đẩy với những lời hứa hẹn xa gần, nhưng với thói quen nói thẳng lời chân lý toàn diện, Chúa chuẩn bị tâm hồn các ngài trước nguy cơ : "Anh sẽ nộp em, cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên tố cáo làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Cha, chúng con sẽ bị mọi người ghét bỏ, nhưng ai bền chí tới cùng sẽ được cứu độ." (Mt 10, 21-22)



4 – Tuy nhiên, Thầy Chí Thánh không bỏ rơi các Tông Đồ và các người tin theo các Tông Đồ trong những cơn bách hại : "Khi bị nộp vào tay họ, chúng con đừng lo phải nói thế nào, Vì thực ra không phải chúng con nói, nhưng là Thần Linh của Thân Phụ nói trong chúng con." (Mt 10, 19-20).

Thần Linh chinh là Thần Linh chân lý. Ngài sẽ là mãnh lực trong thân xác yếu hèn của con người. Nhờ Ngài là mãnh lực mà anh em mới có thể là chứng nhân. Phải, chính sự kiện anh em là chứng nhân cho Chúa Kitô tử nạn, sự kiện đó há chẳng phải là khôn ngoan, là mãnh lực vượt mức loài người đó ư ? Thánh Phaolô hồi xưa đã không nói: "Chính sự kiện Chúa Kitô tử nạn là một ô nhục cho người Do Thái, là một cử chỉ điên rồ" (1Cr 1, 23) đó ư ? Từ thời các Thánh Tông Đồ đã vẫn thế rồi, qua các thế hệ lịch sử vẫn tiếp tục như thế; cũng như qua mấy thế kỷ bách hại tại Việt Nam, sự kiện đó vẫn không thay đổi.

Phải, cần phải có mãnh lực, khôn ngoan từ Thiên Chúa mới có thể tuyên xưng mầu nhiệm tình yêu của Ngài, chính là tình yêu được diễn tả trong cuộc tử nạn trên Thập Giá để cứu chuộc trần gian: quả là mầu nhiệm bao la vượt hẳn sự suy luận loài người. "Là vì cái điên rồ nơi Thiên Chúa còn khôn ngoan hơn cả sự khôn ngoan người đời, và yếu hèn nơi Thiên Chúa còn mạnh sức hơn cả sức lực phàm nhân" (1Cr 1, 25).

Chính vì thế mà Thánh Tông Đồ đã viết : "Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô tử nạn Thập Giá : Đức Kitô, trong mầu nhiệm Phục Sinh, đã chứng minh Ngài là mãnh lực của Thiên Chúa, là khôn ngoan của Thiên Chúa" (1Cr 1, 23-24).

5 – Trước mặt chúng ta hôm nay, các vị Tử Đạo Việt Nam giữ vai trò những người đi gặt lúa cho Chúa, như đã ghi trong Thánh Vịnh :

"Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan.
Lúc ra đi phải khóc than, vì công vất vả gieo hạt,
Nhưng khi trở về, lòng thênh thang phấn khởi,
Vì ôm nặng nhiều bông lúa." (Tv 125-126, 5-6)

Lời huyền diệu trên đây nói lên ý nghĩa cuộc chứng nhân lịch sử nơi các vị Tử Đạo trong Giáo Hội Việt Nam. Trong vũng nước mắt của họ đã gieo xuống hạt giống ân sủng, để rồi trở thánh vô số bông hoa ĐỨC TIN ; "Hạt giống gieo xuống mà không mục đi thì chỉ trơi trọi một mình, nhưng nếu mục đi sẽ sinh nhiều bông lúa." (Ga 12, 24)

Các vị Tử Đạo Việt Nam "gieo trong lệ sầu", có nghĩa là các ngài đã khởi sự giữa lớp người đồng hương và giữa nền văn hóa dân tộc một cuộc đối thoại sâu rộng và cởi mở, bằng cách nêu cao chân lý và tin vào Chúa là sự kiện phổ cập tất cả hoàn cầu. Đồng thời, các góp phần vào việc nhận định các giá trị và nghĩa vụ thích hợp với nền văn hóa tôn giáo trong thế giới Đông Phương. Trong cuốn giáo lý đầu tiên bằng tiếng Việt, các ngài đã tuyên xưng nghĩa vụ tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi một bản thể đã tạo dựng trời đất. Ra trước quan quyền tra khảo về ĐỨC TIN, các vị Tử Đạo đã quả quyết mình đựơc tự do tín ngưỡng, và đạo Chúa Trời là đạo duy nhất, nếu mình từ bỏ là bất tuân lệnh Thương Đế, tức là Thiên Chúa. Đồng thời, các ngài đã can đảm nói lên ý chí tôn trọng quyền bính trong nước, nhưng không vì thế mà làm điều gì bất chính. Các ngài đã dậy phải tôn kính Tổ Tiên theo truyền thống dân tộc, và dưới ánh sáng mầu nhiệm Phục Sinh. Do đó, với sự dấn thân và hành động chứng nhân của các vị Tự Đạo, Giáo Hội Việt Nam hiên ngang nói lên sự quyết tâm và tha thiết của mình, không chối bỏ truyền thống văn hóa và các thể chế quốc gia, trái lại, Giáo Hội tuyên xưng và chứng minh rằng : nếu mình nhập cuộc trong truyền thống và văn hóa dân tộc là vì có góp phần vào việc xây dựng quốc gia một cách trung thực hơn.

Và rồi những cuộc đấu tranh, những căng thẳng chính trị hồi xưa, xen lộn vào trong những bang giao giữa giáo dân và nhà cầm quyền, những quan hệ lợi hại giữa các tôn giáo, những lý do kinh tế xã hội, sự kiện người ta không hiểu rằng: Tín ngưỡng bao hàm quan niệm siêu việt và phổ cập toàn thế giới là những yếu tố tạo nên trần gian như một nồi nung nấu, trong đó thanh lọc mọi khía cạnh, để chỉ nổi bật nét khiết bạch và sức dũng mạnh của tấm gương nhân chứng.

6 – Đoàn thể đông đảo các Tử Đạo, những gian lao đau khổ, những giọt nước mắt. . . tất cả đã tạo nên "mùa lúa vàng" của Thiên Chúa. Các ngài là những bậc Thầy, tôi xin mượn dịp hôm nay, để nêu lên trước toàn thể Giáo Hội sức linh hoạt và hình vóc hùng tráng của Giáo Hội Việt Nam: ý chí kiên cường, sự nhẫn nại và khả năng vượt mọi khó khăn để tuyên xưng Chúa Kitô. Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa vì tất cả mọi ơn lành mà Thánh Linh của Ngài hiện đang thực hiện một cách dồi dào giữa chúng ta.

Một lần nữa, giữa giáo đoàn Việt Nam, chúng tôi nói lại cho anh em rằng : máu các Tử Đạo là nguồn ân sủng cho anh em trước tiên, để anh em thăng tiến trong ĐỨC TIN. Giữa anh em, Đức tin của Tổ Tiên vẫn tiếp tục và còn truyền tụng sang nhiều thế hệ tương lai. ĐỨC TIN này tồn tại để làm nền tảng xây dựng sự kiên trì cho tất cả những người là Việt Nam thuần túy sẽ trung thành với quê hương đất nước, nhưng đồng thời vẫn còn là người tín hữu của Chúa Kitô. Ai là người tín hữu đều ý thức rằng: Lời kêu gọi của Phúc Âm vẫn là phải tuân phục các thể chế loài người, để tôn thờ tình yêu Thiên Chúa bằng cách làm việc thiện, sống xứng đáng con ngừơi tự do,, kiêng nể tha nhân, yêu thương anh em, kính sợ Thiên Chúa và tôn trọng công quyền và thể chế quốc gia (1Pr 2, 13-17). Do đó, công ích của quốc gia vẫn là điểm người công dân có đạo phải dấn thân, nhưng đồng thời phải đựơc tự do tuyên xưng chân lý của Chúa, được cảm thông với những với các vị Chủ chăn và anh em đồng tín ngưỡng: và như thế là để sống an bình với mọi người và thực tâm xây dựng hạnh phúc cho toàn dân*.

7 – "Máu các Tử Đạo là hạt giống sinh nhiều tín hữu".

"Hạt giống các tín hữu" : Ngoài con số từng ngàn từng vạn giáo dân trong các thế kỷ trước đây đã đi theo con đường tử nạn của Chúa, ngày nay là tất cả những ai đang lao động trong khắc khoải, trong khó nghèo cực độ về thể chất, kinh tế, trong hy sinh liên tục, nhưng chỉ mang một hoài bão là có thể trung kiên trong vườn nho Thiên Chúa, xứng với danh hiệu những người quản lý trung thành trong nước Trời.

"Hạt giống các tín hữu" là tất cả những ai ngày nay vì chính nghĩa Thiên Chúa và sống giữa những người đồng hương đang cố gắng tìm hiểu ý nghĩa cây Thập Giá của Chúa Kitô: Thánh Giá bài trừ sự nói dối, bài trừ tội ác, nhưng thúc đẩy con người biết thinh lặng, biết tha thứ, biết cầu xin cho nước Cha trị đến trong tâm linh nhân loại, và đặc biệt tại quê hương của họ là môi trường đời sống.

Công tác này: công tác liên tục diễn tiến trong nội tâm vừa gây go vừa trường kỳ vì luôn luôn bị hoàn cảnh đặc thù chế ngự, và âm mưu thử thách ĐỨC TIN, do đó, đòi hỏi rất nhiều nhẫn nại. Phải xác tín rằng: đêm tối rồi cũng qua đi và ánh bình minh đang ló rạng ngoài ngưỡng cửa.

8 – "Những linh hồn lành thánh . . .ở trong tay Thiên Chúa". (Kn 3, 1)

Chân lý trên đây đựơc đề cao trong sách Khôn ngoan càng là ánh sáng quảng diễn biến cố long trọng hôm nay. Phải, "linh hồn lành thánh ở trong tay Thiên Chúa, không hình khổ nào chạm tới được." Quả quyết như thế có vẻ là không chính xác với thực tế lịch sử : thực ra hình khổ đã va chạm thân xác các vị Tử Đạo, và va chạm ghê gớm. Tuy nhiên, tác giả Kinh Thánh tiếp tục quảng diễn tư tưởng :

"Một người điên dại cho rằng các ngài đã mệnh một và kết liễu cuộc đời bằng cái chết là một tai họa : Chết đi là một đổ vỡ, tuy nhiên, các ngài vẫn sống trong an bình. Trước mắt trần gian, các ngài đã bị đau khổ, nhưng niềm hy vọng nơi các ngài mang nặng mầm mống trường sinh." (Kn 3, 2-4)

Các Thánh Tử Đạo : Tử Đạo Việt Nam ! Các ngài là chứng nhân cho Chúa Kitô đã toàn thắng sự chết. Chứng nhân là con người vẫn đựơc kêu gọi về hướng trường sinh. Thay vì hình khổ ngắn ngủi, anh em sẽ đựơc nhiều ơn vĩ đại, là vì Thiên Chúa đã luyện lọc anh em và thấy anh em xứng đáng, Ngài đã thử thách anh em như thử vàng trên lửa và đã chấp nhận anh em như của lễ toàn thiêu. Phải, của lễ toàn thiêu hợp với của lễ hy sinh trên Thập Giá của Chúa Kitô. Là vì kiên cường cho đến chết, anh em đã tuyên xưng Chúa Kitô tử nạn – Ngài là sự khôn ngoan, là quyền năng Thiên Chúa. Chúa Kitô : trong Ngài chúng ta được Thiên Chúa cứu rỗi.

9 – Tất cả những ai tin cậy nơi Ngài – nơi Chúa Kitô tử nạn và phục sinh – họ sẽ được hiểu biết chân lý; những ai trung thành với Ngài sẽ đựơc cùng Ngài sống trong yêu thương, vì là ân sủng và tình thương vẫn đựơc dành cho những người được tuyển chọn. (Kn 3, 9)

ANH EM: dòng giống các vị Tử Đạo, ANH EM: dòng giống những người được kêu gọi. Anh em hãy nghe hết lời sách Khôn ngoan : "Trong ngày phán xét, họ sẽ long lanh như những tia sáng chiếu trên đồng cỏ từ Đông sang Tây." (Kn 3, 7) Những tia sáng, những ánh đèn phản chiếu nguồn quang minh rực rỡ. Và đây là câu sau cùng trong sách Khôn ngoan : "Các dân tộc sẽ trị vì, họ cai trị dân chúng. Nhưng trên tất cả, Thiên Chúa sẽ thống trị mọi loài." (Kn 3, 17) Chúa đây, tức là Chúa Kitô tử nạn và phục sinh, Ngài xuống trần gian "không để xét xử thế giới, nhưng để thế giới nhờ Ngài mà đựơc cứu rỗi." (Ga 3, 17) Chính Chúa Kitô này: anh em đã tham gia vào cuộc thống khổ và tử nạn Thập Giá của Ngài, hôm nay anh em hãy tham gia vào việc cứu độ trần gian mà chính Ngài đã kết liễu. Nguyện Chúa cho mùa lúa vàng của anh em muôn năm tồn tại trong hoan lạc.




Ngày 9 tháng 7 vừa qua, chương trình Fox News có một đóng góp của Rick Stedman, vốn được mô tả là một người mê sách, một triết gia và là một mục sư, trong hai thập niên qua, vón lãnh đạo Adventure Christian Church tại Roseville, California, và tác giả của nhiều cuốn sách, trong đó có cuốn 31 Surprising Reasons to Believe in God: How Superheroes, Art, Environmentalism and Science Point Toward Faith.

Trong bài này, Mục Sư Stedman, tuy đặt tựa đề trên, nhưng chủ yếu, ông thuật lại câu truyện ông chinh phục được một nhà vô thần tôn thờ khoa học, chỉ nhắc qua các truyện xác chết thành người sống và các nghệ sĩ nhạc jazz.


Tôi ngồi xuống dùng bữa trưa với một kỹ sư vô thần và cảm thấy – lúng túng!

Vợ anh ta là người đề nghị chúng tôi gặp nhau vì anh ta hoài nghi tất cả mọi chuyện liên quan tới Thiên Chúa và Giáo Hội, những điều vợ anh ta bắt đầu dự phần.

Nhưng chúng tôi không có điều gì chung với nhau cả. Anh ta là một nhà khoa học còn tôi, theo cái nhìn của anh ta, chỉ là một anh gàn tôn giáo. Tệ hơn nữa, tôi còn là một anh gàn tôn giáo chuyên nghiệp, vì tôi là mục sư của một nhà thờ. Trong đầu óc anh ta, tôi được trả lương để phi lý.

Còn anh ta, trên tất cả những cái khác, là một nhà duy lý – và tự hào về nó.

Chúng tôi trao đổi những chuyện vui đùa hời hợt khi gọi món ăn, nhưng cả hai chúng tôi đều cảm thấy không thoải mái. Bởi thế, với một lòng tự tin ở bình diện sức mạnh kỹ nghệ, anh ta lập tức bóp cò điều tôi cảm thấy như một nhận định của kẻ cả.

“À này, vợ tôi đề nghị chúng ta ăn trưa với nhau và bàn về các nghi vấn của tôi đối với tính hợp lý của tôn giáo. Có lẽ ông chưa nghe kiểu nhận định này bao giờ trước đây, nên tôi hy vọng ông không phật lòng”.

Tôi than thầm trong lòng “Ôi, làm ơn đi, anh ta nghĩ anh ta đã làm tôi chết điếng chắc. Anh ta không biết mình từng học triết ở trình độ Ph.D tại một đại học thế tục hay mình từng nói chuyện với thật nhiều, thật nhiều, người hoài nghi trong nhiều năm qua. Hơn nữa, mình còn là một mục sư, nên lúc này mình cần phải kiên nhẫn hơn mới được, nên mình phải kiểm soát súc cảm và lắng nghe…”

Nhưng mục tiêu của tôi là trợ giúp vợ anh ta chứ không chọc giận anh ta, nên tôi chỉ nói, “Vậy thì anh hãy cứ tự nhiên nói đi”.

Thế là anh ta nói. Và nói. Về khoa học, về vụ nổ tạo ra vũ trụ (big bang), và về Bertrand Russell và việc anh ta gián mắt vào cây vả này.
Mục sư Rick Stedman


Nhưng đây không phải là cuộc đấu sức đầu tiên của tôi, nên tôi biết lý luận không dẫn tới việc thay đổi cõi lòng. Hơn nữa, tôi biết một điều mà anh ta không biết: cả hai chúng tôi đều thực sự đang tin và quan tâm tới nhiều điều y như nhau. Tôi từng học tập để tìm ra cơ sở chung với những người hoài nghi và vô thần, và thuc đẩy họ suy nghĩ sâu hơn những điều họ vốn trân trọng.

Nên tôi bắt đầu với khoa học. “Tôi rất vui việc anh yêu khoa học và luôn tìm cách đeo đuổi phương pháp khoa học. Tôi cũng yêu khoa học. Nhưng tôi nhận thấy có một số điều phương pháp khoa học không thể chứng minh”.

“Như điều chi?”

“Dạ, nhiều điều lắm, nhưng đây là điều hệ trọng: anh không thể chứng minh phương pháp khoa học bằng phương pháp khoa học”.

Im lặng. Một lần nữa - lúng túng.

Nên tôi hỏi “Những ai là nhà khoa học mọi thời được anh ưa thích?”

Anh ta trả lời “Galileo, Kepler, Newton, Einstein”.

“Tôi cũng thế. Những thiên tài lạ thường, mọi người họ. Và, nhân tiện, tất cả bọn họ đều tin vào Thiên Chúa. Nhất là Newton, người vốn viết nhiều trang sách về nghiên cứu Thánh Kinh hơn là về khoa học”.

“Tôi không biết điều đó”.

Tôi bảo “Thật đó. Vả lại, anh có biết phương pháp khoa học chỉ phát triển trong nền văn minh Tây Phương vì nó dựa vào các nguyên lý của Kitô Giáo không?”

“Điều đó không đúng”.

“Dạ, tôi có các bằng cấp hậu đại học về triết học và thần học, và có một số cuốn sách tuyệt diệu của các sử gia về khoa học kiểm chứng điều đó - một cuốn do Oxford mới xuất bản. Anh có thích đọc nó với tôi không, và bọn mình thảo luận các trang của nó trong khi ăn trưa?”

Anh ta kêu lên: “Tôi rất thích! Và cả vợ tôi nữa!”. Cả hai chúng tôi đều cười.

Trong các năm sau đó, tôi và anh ta đọc hàng tá sách với nhau. Và anh ta trở thành một người bạn thân – và, với thời gian, thành một người đồng đạo.

Từ đó, tôi đã có nhiều cuộc gặp gỡ với những người hoài nghi khác và luôn thấy rằng chúng tôi có nhiều điều chung với nhau. Chúng tôi yêu âm nhạc, bất luận là nhạc rock cổ điểnn hay nhạc jazz; chúng tôi thích phim ảnh và sách vở, từ khoa học giả tưởng tới các câu truyện xác chết thành người sống; và chúng tôi thích thể thao hoặc viện bảo tàng. Hơn nữa, chúng tôi mạnh mẽ chống đối mãi dâm ở đây và ở khắp thế giới, chúng tôi ghét những người tàn bạo với thú vật, và chúng tôi nghĩ Hitler và tên gian ác và xứng đáng bị đánh bại.

Nhưng ngạc nhiên hơn cả là khi tôi nhìn sâu hơn vào những điều thích và không thích đa dạng trên đây, tôi thấy mỗi điều đều chỉ về Thiên Chúa, theo cốt cách độc đáo riêng của chúng. Nghĩa là mỗi điều đều có nghĩa lý trong quan điểm hữu thần hơn là trong quan điểm vô thần.

Tôi đã học thấy Thiên Chúa quả có thực, nhưng Người ẩn mình trong những điều ta thích hay ghét sâu xa nhất, sẵn sàng mạc khải Người cho chúng ta trong những phần đời sống mà ta quan tâm nhiều nhất.

Vũ Văn An


Lá thu về nhuộm đỏ ối cánh rừng nhỏ. Mây trắng lãng đãng bay về cuối nẻo trời xa. Người thanh niên ngồi ở ven đồi, trầm tư. Chàng đến đây khi sương thu chớm về. Những ngày đầu tiên trên đất lạ là những ngày lênh đênh nhất đối với chàng. Lo âu cho tương lai. nhớ thương quá khứ. Hiện tại thì vất vả. Gia đình chàng ở lại bên kia. Ra đi một mình. Chỉ riêng có giấc mơ mà chàng đang ấp ủ là người bạn song hành. Nhưng giấc mơ chẳng nuôi được chàng, mà chàng lại phải âu lo vì giấc mơ.


Mùa thu đó chàng vào chủng viện, tiếp tục con đường lý tưởng. Nhưng dòng thời gian không êm đềm như chàng mộng tưởng. Những weekend lặng lẽ, nhìn hành lang dài trống vắng mà chàng thấy như nỗi vắng trong tâm tư chàng. Sương sa, gió lạnh dần dần thấm vào hồn. Những cánh mây tím cũng theo mùa thu về bắt đầu mang nỗi hắt hiu trên từng lời kinh. Những giờ nguyện của chàng bắt đầu mệt mỏi, có nghĩ ngợi mông lung.

Cuối năm học đó, Đức Giám mục địa phận sai chàng về một xứ đạo nhỏ để tập làm quen với đời sống mục vụ. Chính trong mùa hè này, câu chuyện đã xẩy ra.

Nhận được thư Đức Giám mục báo tin đi giúp xứ mùa hè là một ngày u ám trong đời. Chàng không muốn đi thực tập mục vụ, nhưng muốn đi làm. Chàng cần tiền. Tiền đã dầy vò chàng không biết bao nhiêu đêm trằn trọc. Chàng luôn nghĩ đến tiền. Nhưng là sinh viên thần học, nên đức cha muốn chàng đi thực tập mục vụ để chuẩn bị cho cuộc sống linh mục. Khi nhận được thư đức cha là giấc mộng đi làm sụp đổ, kéo theo giấc mơ về tiền. Khi người ta không thực hiện được giấc mơ thì người ta lại càng nghĩ về nó. Nghĩ về nó mà không thực hiện được thì người ta sống trong một thứ ngục tù tâm hồn. Ðó là vây khổn của oán trách, của tiếc xót, của bất bình.

Ở nhà trường, mỗi tháng chàng nhận được hai mươi dollars của địa phận gởi, gọi là tiền túi. Thủa ban đầu, chàng cho là đủ, không thắc mắc, băn khoăn. Nhiều tháng hãy còn dư. Nhưng dần dà, có những cơn gió so sánh bay về. Chàng so sánh chàng với người khác. Tôi cũng có bàn tay, cũng có khối óc, sao cam nhận mỗi tháng hai chục… và chàng thấy mình nghèo! nhận mỗi tháng hai mươi đồng đó là dấu hiệu của sự khiêm nhường, dâng hiến, và sống đơn giản vì lý tưởng hay là cam chịu đời sống tầm thường? Chàng tự hỏi, rồi, những làn sóng tự ái bắt đầu gieo trên biển lặng. Người thanh niên trở nên trầm mặc, băn khoăn.

Xã hội nói về tiền. Giá trị con người cũng được đánh giá bằng tiền. Những kẽ nứt của tâm hồn bắt đầu mở rộng. Chàng thấy mình xót xa, và thực sự thấy mình nghèo. Nghèo vì tiền và nghèo cả tâm hồn. Khuôn mặt chàng không còn bình an, tâm hồn chàng không còn muốn bay bổng cho một lý tưởng. Buổi chiều cầu kinh nào cũng phủ đọng sương mù ẩm mốc. Lý tưởng là gì? Có ai cần lý tưởng nữa đâu? Chàng tự hỏi, rồi thấy con đường của chàng bước vào là cô đơn đằng trước mặt. Là mất mát, thua thiệt.

Chàng nói với lòng mình, là thanh niên như bao người khác tại sao tôi không làm ra tiền? Chàng sống giữa hai thách đố mà thách đố nào cũng lớn lao: tiền và không có tiền. Không tiền có phải là kém hơn người khác? Có phải vì tôi thiếu khả năng? Không tiền có phải là điều dại? Tự ái, như những cơn mưa nặng hạt mưa xuống đời người thanh niên. Tiền làm chàng nhớ về những người thân ở bên kia bờ biển mặn. Tiền làm chàng mơ ước một đời sống tiện nghi. Tôi có nên tiếp tục con đường tôi đang đi? Tôi có nên đem khả năng của mình vào cuộc thử sức của xã hội hôm nay? Mệt mỏi. Sóng gió đi về. Chàng muốn đặt lại lý tưởng cho cuộc sống.

Chính vì thế mà những ngày đầu mùa hè ở nhà xứ năm ấy là những ngày u ám và lặng lẽ nhất đối với chàng, chàng quay quắt suy tư. Cõi lòng hoang vắng, đìu hiu. Cũng có đôi lúc thầm lặng, chàng hỏi lại lòng mình, ngày xưa tôi đâu quá bận tâm về tiền, sao bây giờ tôi phải thao thức quá như vậy? Trong những lúc thinh lặng ấy, những lúc tỉ tê hỏi lại cõi lòng, những lúc tìm đường về thâm sâu của trái tim, chàng dần dà nhìn ra cái nghèo chua xót: Nghèo của một tâm hồn. Chàng băn khoăn tự hỏi: Khi tâm hồn nghèo thì kéo theo bao nhiêu cái nghèo khác?

Cái cao cả mà Thiên-Chúa đã làm, không phải là sống tước vị Thiên Chúa trong Thiên Chúa, nhưng là sống tước vị Thiên Chúa nơi con người. Chúa đã đem cái nghèo trở thành mùa xuân bất tận. Chàng biết vậy, nhưng đường đi của niềm tin thì siêu bạo quá. Niềm tin là giã từ tất cả. Là buông tay ra cho mình chìm xuống, lặng lẽ. Trong những tháng ngày giằng co muộn phiền thì câu chuyện xẩy đến:

Cũng như những thứ sáu khác trong tuần, hôm đó chàng mang Mình Thánh cho một bà già trong xứ đạo. Trời đã về tối. Chàng thích đi bộ để nhìn cỏ cây, để nghĩ về mình, về người. Trời chưa tối lắm nhưng phố xá đã lên đèn.

Từ nhà xứ đến nhà bà, chàng phải đi ngang qua phố, đây là một con phố nhỏ ở miệt quê rồi vào đường Broadway, Broadway là con đường lý tưởng nhất của thành phố. Ðường rộng và đẹp, có chiều đi, chiều về. Giữa hai chiều là hàng cây anh đào rợp mầu hồng khi mùa hoa nở. Chàng đi chậm rãi trên con đường ấy, nguyện mong cho đời nhẹ bớt ưu tư. Trên đường đi, có kẻ đi ngược, có người về xuôi, nhưng có ai đâu biết rằng trong túi áo chàng có Mình Thánh Chúa. Trời tối hơn. Ðèn của phố xá cũng sáng hơn. Mây tím về cuối cánh đồng, cũng là màu u uẩn của cõi lòng người thanh niên. Ðèn đường chẳng thắp sáng được linh hồn. Tâm tư chàng giăng mắc với những lựa chọn mà bên nào cũng có xót xa. Ở hay đi? Giã từ lý tưởng hay tiếp tục? Ðời linh mục là gì? Niềm vui, đau khổ? Làm sao tôi biết chắc được đây là lý tưởng mà Chúa muốn tôi đi vào? Trung thành, gian nan? Mệt mỏi. Mong thêm một chút ánh sáng cho bớt suy tư. Chàng nhìn trời cao. Chúa xa quá. Im lặng qúa. Im lặng quá. Chỉ mình chàng trên đường. Chàng mong một chút sương mai cho mảnh đất khô đỡ cằn cỗi. Chàng ước ao một lời nói rõ hơn, mạnh hơn để chàng bớt gian nan với những nghĩ ngợi. Nhưng trời cao vẫn cao. Ðêm về nhiều hơn.

* * *

Bên bụi hồng, đứa bé gái đang chạy tung tăng, cô bé đứng lại, giơ tay vẫy chàng. Bàn tay thiên thần. Nụ cười bình an. Ðôi mắt hồn nhiên như vì sao trời. Cô bé giơ tay vẫy vẫy. Những ngón tay mũm mĩm, đơn sơ. Nụ cười tươi như một búp phong lan đang hé mở. Cô bé lại tiếp tục chạy, những bước chân sáo vui tung tăng trên thảm cỏ xanh mịn. Hạnh phúc nở hoa theo từng bước chân vô tư. Cô bé đang vui. Và chắc hẳn thiên đàng cũng đang vui lắm. Người vỗ về trong tim. Cô bé vấp ngã. Bàn tay non vụng về để hạnh phúc vượt theo chiếc bong bóng đỏ bay cao. Chiếc bong bóng từ từ xa dần, lên cao, lên cao. Cô bé đứng nhìn ngẩn ngơ, tiếc nuối. Nghe như mùa xuân lắng đọng. Những viên ngọc nhỏ lăn dần trên má. Bé khóc.

Cô bé là cánh hoa bạch huệ tỏa hương hạnh phúc. Khi tung tăng với chiếc bong bóng, mỗi ngón tay nhỏ là một chiếc đũa tiên có phép mầu rải niềm vui trên từng cọng cỏ ngoan hiền. Bước chân bé đã làm cho chàng những giây phút thảnh thơi. Chiếc ca yêu thương của khu vườn. Bé đã cho chàng những giây phút thảnh thơi. Chiếc bong bóng bay cao. Xa tít. Xa tít. Buồn như chú mèo nhỏ, bé lững thững vào nhà. Qua vuông cửa sổ, chàng thấy ánh đèn. Nơi ấy, có tình yêu, có hơi thở.

Mầu vàng của khóm tulips với mầu trắng ngà của con đường trải đá cuội, hòa vào mầu cỏ non xanh, làm cho căn nhà thêm êm đềm, như một lời cầu chúc hạnh phúc cho những bước chân nào đặt tới. Giàn hoa hồng nở đỏ thẵm trên vuông cửa sổ. cạnh bụi hồng là những giây hoa tím nhỏ đang leo trên tường đá. Tất cả nhắc nhở đến sự săn sóc của một bàn tay biết nghệ thuật. Mầu đỏ thẫm của bụi hồng làm cho căn nhà có vẻ đài các, nhưng lại hoà chung một thứ buồn dịu dàng, mồ hôi của sắc hoa mầu tím thầm lặng. Lối kiến trúc của căn nhà nói lên sự giầu có của người làm chủ.

Cách nhau một hàng rào gỗ thấp mà bên kia là giầu sang, và ở đây, chàng đứng một mình như thân phận Lazaro nghèo khổ. Chàng thấy nghèo là một chua xót. Cái nghèo làm người ta mất giá. Không ai muốn làm bạn với người nghèo. Có tiền thì có quyền thế. Có quyền thế thì có điạ vị. Nghèo là một cõi vắng lặng lẽ. Nghèo thì bị coi thường, có khi còn bị khinh rẻ. Tiền như một thứ đánh giá thành công của một người. Chàng tiếp tục nghĩ: Nếu Chúa Kitô là một Ceasar giầu có thì đâu có bị xua đuổi, có khi còn có lắm người theo. Có tiền thì được kính nể. Tiền là tiêu chuẩn xác định tài năng. Chàng thấy không tiền là một nỗi chua xót.

Cô bé chẳng ra sân chơi nữa. Chắc bé đang phụng phịu kể cho má nghe về chiếc bong bóng đã bay xa. Người thanh niên để tình cảm của mình nhẹ nhàng đi về một miền cô đơn. Trong căn nhà đó, có hơi thở, có tình yêu, có tiếng khóc, có tiếng cười, có những gì là căn bản nhất mà Chúa đã dựng nên trong thân xác, linh hồn chàng. Chàng lại tự hỏi, đời sống linh mục là gì? Tôi cũng như bao nhiêu người khác sao tôi lại không thể có một tình yêu riêng tư? Người thiếu nữ nào mà đáng lẽ cùng tôi chia sẽ yêu thương? “Nàng là xương là thịt ngươi, bởi đó, ngươi sẽ bỏ cha mẹ mình mà khăng khít với nàng.” (Gen. 2:23-24) Lời Kinh-Thánh thủa xưa vẫn vang lên như một lệnh truyền thôi thúc trong chàng, chảy theo từng dòng thời gian trong cuộc sống, nhắc nhở về “một phần đời” của chàng. Nàng là ai, ở đâu? Tên nàng là gì? Ðó chỉ là huyền thoại hay là thực thể? Vì sao tôi không thể có nàng? Trong căn nhà ấy, có nụ cười trẻ thơ, có tiếng gọi ba, có tiếng gọi má, sao không thể là tôi? Máu tôi vẫn đỏ theo từng nhịp tim đập, vì sao tôi chẳng thể bao giờ được nghe tiếng ba, được gọi tiếng con. Chàng ngước nhìn trời cao. Trời vẫn lặng lẽ, vô tư. Chàng muốn vẫy gọi niềm tin. Chàng muốn nghe niềm tin đáp trả.

Không biết người thanh niên đã để hồn mình xuôi về nẻo đơn độc ấy, để lòng mình chìm vào những dòng tư tưởng ấy bao lâu, nhưng chắc hẳn là lâu lắm. Khi chàng vô tình đưa tay lên ngực thì chợt nhớ ra chiếc hộp đựng Mình Thánh còn đó. Lãng quên đưa chàng về một chút hối hận, ngỡ ngàng. Chàng úp tay trên chiếc hộp, tự hỏi. Cả bầu trời cao ở nơi đây. Cả niềm tin mà tôi đang đi tìm ở nơi đây. Có thật là niềm tin? Có thật là trời cao? Chàng mở chiếc hộp nhỏ. Những tấm bánh trắng vẫn im lặng, âm thầm.

Ngày xưa tà thần đã nói với Đức Kitô: Nếu ngươi bái thờ ta, ta sẽ cho ngươi tất cả vinh quang của trần gian (Luca 4:6-8). Người thanh niên nhìn tấm bánh thầm nghĩ, nếu hôm nay, cũng lời ấy nói với tôi: “Nếu ngươi đổi tấm bánh này cho ta, ta sẽ cho ngươi tất cả những gì ngươi đang mơ ước.” Vùng trán mang vết nhăn. Người thanh niên bối rối. Chàng không trả lời được. Có được một số tiền đã là thành công. Dệt được ước mơ là một niềm vui lớn. Giờ đây, chàng phải đối diện với câu hỏi mà chàng không bao giờ ngờ. Nếu có ai cho chàng những ước mơ chàng đang mơ ước, chàng có bằng lòng đổi tấm bánh này không. Tấm bánh nhỏ bé quá, yếu đuối quá. Dáng chàng ưu tư, chàng hỏi lại lòng: Ðây có là cả bầu trời cao? Ðây có là Thiên Chúa của vũ trụ? Người thanh niên xót xa cho mình vì chàng không đủ niềm tin để xác nhận. Chàng tin rằng Ngài là Thiên Chúa đó. Nhưng tình yêu của chàng quá nghèo nàn nên không nuôi nổi niềm tin. Chàng lặng nhìn tấm bánh trên tay mà như chàng ứa lệ. Nỗi cô đơn về mênh mông. Chàng thấy lạc lõng. Suối nguồn đã đang cạn khô. Chàng lại nhìn trời cao. Trời cao vẫn im lặng. Chàng cúi đầu xót thương mình. Vì sao trời cao không đáp trả? Trong sự im lặng ấy, dường như có tiếng nói với người thanh niên: “Nếu ngươi mất Ta trong cõi lòng ngươi thì ngươi phải trở về trái tim của mình, Vì chỉ nơi ấy ngươi mới tìm lại được Ta, mới có tiếng đáp trả mà thôi.”

* * *

Có nỗi cay ở mắt. Chàng thấy hồn mình chứa chan. Hình ảnh ông già làm chàng bối rối. Trong tim chàng, có an ủi đi trên xót xa, có ngọt ngào chen lẫn đớn đau. Nuối tiếc. Ngại ngùng. Mênh mông. Sám hối. Một thứ tình cảm bâng khuâng giữa tình trời và tình đất. Ông già đã theo chàng ra tới tận cổng. Ðôi tay gầy, lạnh lẽo, nắm chặt lấy tay chàng biết ơn. Ðã bao lần trong đời, chàng bắt tay người này, kẻ kia. Cái bắt tay nào ấm tình, cái nào xã giao. Ánh mắt nào chân thành, lời nói nào đãi khách, điều đó, ai mà chả nhận thấy. Hai tay run run cầm chặt lấy tay chàng. Người thanh niên biết ở trong bàn tay ấy gởi chàng lời cám ơn thành thật. Lời nói không thể che kín được nỗi lòng và nỗi lòng không cần ngôn ngữ để diễn tả. Ông run run xúc động: “We need you.” Ông chỉ nói với người thanh niên vỏn vẹn như thế thôi, trước khi chia tay.

Khi chàng tới nơi thì bà đã ngồi trên xe lăn, đợi sẵn ở phòng khách. Nghe bấm chuông, ông ra mở cửa. Chào chàng kính cẩn, thái độ của những người già miền quê đối với một linh mục. Căn nhà vắng lặng, chỉ có hai ông bà. Bà đã bị tê liệt từ mười bẩy năm nay. Xe lăn là quê hương duy nhất. Những mạch máu mầu xanh nổi gầy guộc trên đôi tay cố gắng giơ lên làm dấu thánh giá. Giây phút thiêng liêng nhất. Bà kính cẩn cúi đầu chịu Mình Thánh Chúa. Ông đứng bên cạnh, chắp tay. Ðôi mắt chẳng còn nhìn rõ được, không nuốt được, phải ăn bằng đồ lỏng, khó khăn. Người con gái lớn đã ly dị, đấy là niềm đau đớn vô cùng đối với bà. Hai người con trai khác ở rất xa. Ông tâm sự với chàng là tâm trí bà chỉ nhớ tới các con. Bà nguyện cầu và lo âu cho phần rỗi của chúng. Ðời sống hôn nhân ngoài Giáo-Hội của người con gái đã ly dị làm bà khổ sở, buồn phiền.

“We need you.”

Ðã hơn mười năm nay bà chẳng có thể tới nhà thờ được. Ðó là một quê hương mà bà cứ nhắc tới hoài. Ông nói với chàng rằng chỉ còn Chúa là nguồn vui và an ủi nhất của cả hai người. Mỗi Chúa Nhật đầu tháng, nỗi háo hức của bà là được chịu Mình Thánh. Có một mình cha sở, lại phải lo cho nhà thương, thêm viện dưỡng lão, nên ngài chỉ đến thăm bà một tháng một lần. Khi biết được mùa hè này có một chủng sinh về giúp xứ, và bà có thể nhận Mình Thánh hàng tuần, ông nói, đấy là niềm ước ao của ông . Trên khuôn mặt già nua mừng rỡ, ông không hỏi tên chàng. Ông không cần biết chàng từ đâu đến, dù chàng khác màu da, không cùng ngôn ngữ. Ông chỉ ôm lấy tay chàng mà nói: We are happy to have you here. We need more priests. Ông không cần biết chàng thánh thiện hay tội lỗi. Ông không cần biết chàng tài năng hay vụng về. Trong niềm tin ấy, ông chỉ biết chàng là người mang Chúa cho ông. Ðiều ấy càng làm người thanh niên nghĩ ngợi hơn về lý tưởng của chàng.

Chàng ra về với tâm hồn bùi ngùi. Tôi là ai? Vì sao họ cần tôi? Ðời sống linh mục là gì? Vì sao bàn tay linh mục có thể chúc phúc bình an? Những câu hỏi ấy lại đưa chàng về một thế giới thần thánh, mà câu trả lời không hoàn toàn đến từ trời cao. Ði tìm câu trả lời là cuộc hội ngộ giữa đất và trời. Giữa yếu đuối và cao thượng. Giữa mênh mông và mảnh đất chật hẹp. Giữa từ bỏ và lên đường. Ðối diện câu hỏi là một khắc khoải, không thể giải quyết được tự lòng người. Nhưng con người có tự do và lựa chọn. Chàng không nói, nhưng dường như trong thâm sâu của trái tim, có lời kinh như một ánh sáng nhỏ đang cố ngoi lên:

Lạy Chúa nếu chẳng có con cộng tác thì công trình cứu chuộc của Chúa có bị thiệt thòi không? Con nghĩ là có. Chẳng phải vì công lệnh của con, nhưng vì nhiệm vụ mà Cha trao phó cho con, con đã không thi hành. “Làm sao họ tin nếu họ không biết về Ngài, Làm sao họ biết nếu không có ai rao giảng cho họ.” (Rom.10:14)

Nếu con không đến đây thì ai là người đem niềm vui cho hai ông bà? Cha có gởi gắm sứ mạng ấy ở nơi con không? Cũng trong chiều nay, còn biết bao tâm hồn khác cô đơn, đang đợi một bàn tay chúc bình an, đang chờ bước chân đem Tin Mừng đi tới. Họ sẽ chờ đến bao giờ nếu người mà Cha sai tới đã không muốn đi? Những giây đàng bằng vàng ròng của Salomon đã chẳng ru khúc yêu thương được cho dân của người. Những ly rượu nồng của David cũng chẳng cho dân ngài một giấc ngủ yên. Chính là những ngày rong ruổi trên con đường Galilee của đám mười hai tông đồ. Trong huyền nhiệm thân thể của Cha, thì khi con đem niềm vui cho tha nhân là con đem cho chính con. Nếu chiều nay mà con không bước tới thì căn nhà sẽ vắng lặng làm sao. Vì sao Cha đã gọi con? Ðôi tay con vụng về chẳng xây nổi giấc mơ của mình mà sao Cha lại cho con ôm cả vũ trụ? Trên bàn tay yếu đuối ấy, sao Cha lại cho con quyền năng trọng đại? Làm sao con hiểu thấu. Đấy chỉ là ân sủng mà thôi, Cha ơi. Chàng giã từ hai ông bà với tâm trạng vấn vương. Có đau thương của một tâm hồn yếu đuối. Nhưng cũng có ơn tha thứ của trời cao. Có nỗi chua cay của một niềm tin mong manh. Nhưng cũng có lời an ủi của một kẻ hiểu đam mê của xác thân chàng. Chàng thấy cõi lòng chứa chan. Chàng muốn dâng một lời cầu mà chẳng biết cầu cho ai, cầu như thế nào. Trời vẫn cao mênh mông, dường như mênh mông hơn nữa. Những vì sao vẫn lấp lánh. Chiếc hộp đựng Mình Thánh đang ở trong túi áo. Ðây có là cả bầu trời? Ðây có là cả biển rộng thứ tha và yêu thương? Tôi là ai mà dám đi song hành với Thượng đế của nhân loại? Chàng hỏi nhỏ cõi lòng, và trong lặng lẽ, chàng nghe từ con tim, có tiếng người đáp trả.

Chàng muốn đi thật xa với Người, muốn về một cõi đời bát ngát bình yên với Người. Muốn xóa đi những giấc mơ chỉ làm chàng thêm khổ đau. Nhưng chàng nghe thấy tiếng nói: Không, con không thuộc về trần gian nhưng Cha không đem con ra khỏi thế gian. Và người thanh niên hiểu là Ngài ban cho chàng đủ ánh sáng để đi, nhưng Ngài cũng để chàng đủ tối tăm cho niềm tin của chàng phải đặt trọn vào Ngài. Chàng bỗng lo âu về những ngày sắp tới, về những tiếng gọi của giầu sang và địa vị. Chàng muốn ngài đem chàng ra khỏi những yếu đuối của chàng để đi với Ngài về một cõi xa. Nhưng ngài lại nói: Ơn thánh của Cha thì đủ cho con.

Những gì người thanh niên hỏi thì Ngài trả lời. Những gì chàng thắc mắc, băn khoăn thì Ngài đáp trả. Không phải ở bầu trời cao mà là âm thầm trong chính hồn chàng. Như xương thịt chàng là Ngài lo âu cho chàng trước khi chàng biết lo âu cho mình. Ngài bảo chàng cứ đi, và chàng thấy mùa xuân về, bát ngát, mênh mang. Chàng thấy như một bông hoa Quỳnh, trắng nõn, đang nhè nhẹ nở nụ trong sương đêm. Chàng nghe như hoa cỏ đang hồi sinh, và trong tim chàng, có dòng suối mát vỗ về. Chàng cảm thấy trên đường chàng đi, có vắng vẻ nhưng không đơn côi. Chàng cũng cảm nghiệm người chàng yêu ở trong tim chàng chứ chàng khôg phải kiếm tìm. Chàng nhủ thầm, tôi nghèo khổ khi tôi tìm kiếm, nhưng khi tôi ở trong vũ trụ và vũ trụ ở trong tôi thì tôi còn gì nữa mà để tìm kiếm đâu. Rồi chàng đã đi lang thang hết con đường này sang đường khác. Ngài cũng đi với chàng.

Chàng cứ hỏi, và ngài cứ trả lời. Ngài bảo rằng linh mục nghĩa là Kitô, đấng được xức dầu và đóng đinh. Ý nghĩa của linh mục càng thâm sâu khi càng vất vả, gian nan. Ánh nến Phục Sinh càng sáng khi máu tử nạn càng hồng.

Ngài không bảo chàng rằng đường chàng đi sẽ phủ đầy hoa hồng, nhưng chàng có thể làm cho hoa hồng nở trên đường chàng đi.

* * *

Ðêm ấy, người thanh niên cứ lang thang khắp đường. Khi về đến phố thì xuất ciné cũng vừa tan. Chàng nhìn đám người, nguyện cầu và mong ước cho từng người được bình an. Giã từ rạp cinée, chàng đi về phía những quán bar đang sực khói thuốc và men bia, chàng nguyện cầu cho mọi người tìm được niềm vui chân thật. Những cô gái đang bước lẻ loi trên đường. Biết đâu, đêm nay có những tiếng khóc thầm lặng, có những nỗi cô đơn dầy đặc. Chàng nguyện cầu cho tình yêu đi về trên những mảnh hồn đơn côi ấy. Ðêm nay, trong một góc tối nào đó, đang có những toan tính âm mưu. Chàng xin Chúa ban ánh sáng phục sinh. Cũng có lẽ đêm nay, trong căn nhà nào đó, có tiếng khóc than, có những quầng mắt thâm sâu. Có những tâm hồn lạc lõng đang tìm lãng quên bằng men đời say đổ. Có những quãng đời đang không biết đi về đâu. Có những tan nát, chia ly. Có những đổ vỡ lặng lẽ mà vô cùng xót thương. Có những dòng nước mắt tuyệt vọng. Cứ thế, chàng bước đi trên phố và xin Ngài chúc lành cho thành phố đã về đêm.

"Cha không chờ con hiến dâng trọn vẹn rồi mới yêu con. Chính vì tình thương của Cha mà con có thể đi tới."

Chàng đã kiệu Mình Thánh Chúa đi trên biết bao con đường. Chẳng ai biết cả. Chỉ riêng chàng. Ðã nhiều lần trong đời, chàng đi rước, nhưng chỉ đêm đó, một đêm kiệu Mình Thánh mà chàng gần Ngài nhất. Ở một góc công viên, người thanh niên vuốt mặt, nhìn trời cao, chàng thấy hồn chàng nhẹ nhàng như đang đi trong cõi mùa xuân. Trong cõi lòng, chàng thấy một bầu trời rộng và có một cánh chim đang bay lên cao, tự do, bát ngát. Chàng thấy những giải nắng hồng rực rỡ. Nghe như vũ trụ có gió xuân nhè nhẹ đi về. Êm đềm. Những cơn mưa buồn đã theo mây đen trôi dần về biển xa. Chàng muốn giơ tay bắt giữ những giây phút thiêng liêng. Một cành lá dường như đang nẩy màu xanh hy vọng. Nhưng chợt nhớ về quá khứ, trong quá khứ đã nhiều lúc chàng xa Ngài. Bởi đó, chàng băn khoăn về tương lai. Nào chàng có biết chắc được những ngày sắp tới. Nào chàng có biết chắc cánh chim kia sẽ tiếp tục bay cao, hay lại quay về, bỏ khoảng trời mênh mông. Nào chàng có biết chắc những cành cây hy vọng kia sẽ thêm xanh hay sẽ khô dần. Người thanh niên cúi mặt sợ hãi những đám mây đen. Vì bao lần trong quá khứ, mây bay đi nhưng mây lại bay về. Trời hồng sáng rồi mưa tuôn lại làm dập dềnh khóm hạnh phúc chưa kịp trổ bông. Chàng nhìn tương lai mà không trọn vui được hiện tại. Nhưng chàng nghe dường như có tiếng Ngài nói:

– Cha không chờ con hiến dâng trọn vẹn rồi mới yêu con. Chính vì tình thương của Cha mà con có thể đi tới.

Chàng cũng nghe như Ngài nói nữa:

– Cha không chờ con thánh thiện rồi Cha mới thương con, nhưng chính vì tình thương của Cha mà Cha dìu con đi lên từ tội lỗi.

Khi về đến nhà xứ thì đã quá nửa đêm. Và hình như chàng vẫn nghe thấy âm vang từ rất xa, âm thầm mà mãnh liệt:

– Ðường con đi sẽ không phủ đầy hoa hồng. Nhưng con có thể làm cho hoa hồng nở trên đường con đi.

Trích “Tiếng gọi phía bên trong”

Được tạo bởi Blogger.