Mã số VVYT 16-018
Giuse Vinh Hiển, sn 1959, tgp Saigon
(Giải khích lệ VVYT 2016)
Thằng bé cầm trên tay cuốn sổ bìa màu đỏ có hình chiếc thuyền buồm và xấp vé số chưa kịp bán hết . Nó ngồi ngủ gà gật, lưng tựa vào bức tường cáu bẩn đầy những câu chữ ngoằn ngoèo vô nghĩa . Mùi xú uế xông ra nồng nặc từ cái thùng rác trước đầu hẻm. Thân hình nó gầy nhom đen đúa. Bàn tay dơ dáy của nó chốc chốc lại đưa lên gải sồn sột hai khuỷu tay xương xẩu đầy mụn ghẻ ngứa.
Một con chó nhỏ từ đâu chaỵ đến ngoe nguẩy đuôi rồi ngồi xuống bên thằng bé. Liếc mắt nhìn con chó thấy nó bị ghẻ đầy người giống y như mình thằng nhỏ chợt mỉm cười. Có lẽ cậu nghĩ tại một nơi tận cùng của sự dơ bẩn thế này mà vẫn tìm được một con chó đồng cảnh ngộ nên cậu thấy vui. Thân hình con chó cũng gầy trơ xương như cậu bé. Bộ lông vàng xỉn trụi lủi đấy chốc ghẻ toát ra mùi hôi đến nghẹt thở. Con chó có vẻ đói, bụng nó lép xẹp.
Chú ruồi trâu bụng căng đầy đang ra sức hút lấy máu mủ trên vết ghẻ của thằng bé. Bỗng nó giật mình bởi con chó đang cựa cái thân mình đầy ghẻ của nó vào chân cậu bé, khiến cậu tỉnh ngủ. Trông con chó thật tội nghiệp ! Thằng nhỏ lại nở nụ cười đưa bàn tay ghẻ lở ra vỗ đầu chú chó với ánh nhìn đầy lòng thương cảm. Con chó đưa mắt nhìn thằng bé bằng đôi mắt đờ đẫn. Nó bỗng rên lên khe khẽ, tiếng kêu rên của một chú chó đang “ sướng”. Hai mắt nó lim dim nhô cái lưng cho thằng nhỏ mơn trớn vuốt ve.
- Mày từ đâu đến vậy ?Tao đang buồn lắm đây ! Mày có muốn làm bạn với tao không ? Mày tên gì nhỉ ? …Tao hiểu rồi , mày sống lang thang như tao phải không ? Hay tao đặt tên mày là Phốc nhé ? Tao tên Bi. Mẹ tao hay gọi thằng cu Bi của mẹ. Bi làm bạn với Phốc được không ? Mày sao vậy hả Phốc ? Mày đói phải không ?
Chú bé đứng dậy, con chó cũng nhổm dậy.
- Mày ở đây đi, tao đi tìm gì ăn rồi tao đưa mày đi tắm ghẻ !
Con Phốc như biết nghe, nó nằm xuống. Bi chạy đi. Phốc bỗng bị ngứa, nọ chạy ra bức tường cọ mình vào tường gãi cho đã. Bi quay lại nhìn nó mỉm cười, rồi nó lại đưa tay gãi gãi lên mấy cái mụn chốc lở trên khuỷu tay.
- Tao đi mua thuốc. Mày ở đây đợi tao nha Phốc !
Phốc đang đã ngứa, nó chẳng buồn quan tâm bất cứ chuyện gì. Nó đứng gãi một lúc lại ra nằm bẹp bên góc tường. Một lúc Bi quay về, trên tay một hộp thuốc tím chữa bệnh ghẻ ngứa dành cho thú nuôi và cả cho người, lại có một khúc xương to tướng nữa kìa. Phốc thấy khúc xương mắt nó sáng rỡ. Bi ném khúc xương xuống đất, con Phốc nhẩy hoẵng lên vui sướng. Nó chộp lấy khúc xương gặm lấy gặm để, rồi nhai nghiến ngấu. Có vẻ như lâu lắm rồi nó mới được ăn ngon như vậy. Bi đợi Phốc ăn xong rồi nói.
- Đi tắm nhe Phốc ! Hôm nay có mày tắm nữa chắc là vui lắm !
Bi đưa Phốc ra một giếng nước công cộng. Ở đó có mấy chị phụ nữ béo phệ đang ngồi giặt giũ . Trông thấy thằng bé và con chó ghẻ mấy chị vội xua tay như xua tà.
- Đồ chó ghẻ , đi chỗ khác !
Bị đuổi, Bi dẫn Phốc ra chỗ gần đó , để nó ngồi đó rối quay lại năn nỉ mấy bà béo xin nước. Chị béo nhất trong bọn chu mỏ quát:
- Bố thí cho mày đó thằng nhãi ! Ghẻ gì đâu gớm quá !
Chị béo quảng cho Bi cái thau bẩn móp méo. Bi mừng quá lấy đầy thau nước bưng lại chỗ Phốc đang ngồi chờ. Cậu dội nước tắm cho con Phốc khiến nó thích thú chứ không phản đối. Bi lấy tay kỳ cọ cho con chó bất chấp thân mình nó đầy vết lở. Mặt Phốc cứ nghệt ra để mặc cho Bi chà tay lên mấy cái mụn sưng tấy. Hết nước cậu bé lại hăng hái đi lấy rồi mải miết tắm rửa cho Phốc. Tắm cho Phốc xong đến lượt Bi tắm . Lúc sức thuốc ghẻ, Phốc trông thật can đảm, nó không hề kêu rên đau đớn. Bi thấy thích con chó, cậu vừa sức thuốc vừa cười đùa với nó.
Hôm sau, những vết lở loét ngứa ngáy trên mình Phốc và Bi đã se miệng. Phốc chạy nhẩy tung tăng chơi đùa. Bi đưa Phốc ra bãi cỏ công viên chơi đá bóng. Phốc quả là chú chó thông minh , nhanh nhẹn. Buổi tối, Bi đưa Phốc vào chợ kiếm gì đó lót dạ . Đêm xuống , Bi tìm môt sạp gỗ trong góc chợ nằm ngủ , còn Phốc nằm kế bên.
Sáng ra, Bi lại đưa Phốc ra công viên chơi. Thình lình, một bàn tay nắm áo Bi kéo lại
- Thằng nhóc con, sao mày chơi với con chó của tao ?
Bi không hiểu chuyện gì quay sang nhìn gã đàn ông. Ông ta cúi xuống trừng mắt nhìn Bi rồi gí ngón tay vào trán cậu bé
- Mau trả lại con chó cho tao rồi biến đi, nghe không mày !
Người đàn ông vội túm lấy con Phốc dễ dàng . Phốc sợ hãi co rúm người lại, nó lúm khúm một cách tội nghiệp đưa mắt nhìn Bi vẻ cầu cứu
- Chú mau thả con Phốc ra đi ? Bi nổi cáu
- Mày hay quá hả nhóc ? Tên nó là Millu chứ không phải tên Phốc xấu xí mày đặt cho nó đâu, thằng nhãi con ! Tao chính là chủ của nó đấy, biết chưa thằng nhóc ! Mày cút ngay cho khuất mắt tao !
- Chú định làm gì con Phốc ?
- Thịt nó chứ làm gì ! Trước kia nó ghẻ lở xấu xí tao quẳng nó ra bãi rác mấy lần chẳng ai them nhặt, nhưng giờ tao sẽ làm thịt nó bán cho mấy quán thịt cầy!
- Không !– Bi cầu xin người đàn ông – Cháu xin chú đừng giết con Phốc . Tội nghiệp nó. Nó là bạn tốt. Xin đừng ăn thịt nó !
- Được Nếu mày có 1 triệu đưa đây tao cho nó tự do !
- Một triệu ?…Cháu biết lấy đâu ra số tiền lớn ấy ? Cháu bán vé số một ngày kiềm được mấy chục ngàn thôi chú ạ
- Không có thì biến đi giùm tao ....
Gã đàn ông quát vào mặt Bi. Ông ta nhét con Phốc vào bao rồi đi thẳng một nước . Bi đứng nhìn theo buồn bã. Bi vội chạy theo người đàn ông.
- Chú cho cháu mấy ngày cháu nhất định kiếm đủ 1 triệu
- Được. Mau lên không tao cho nó vào nồi !
Bi quay về nhà. Cậu bé trông thấy bố đang đứng ở cửa nhìn cậu với ánh mắt của con hổ đang nhìn con chuột nhắt
- Thằng mất dạy ! Mày bỏ nhà đi đâu mấy ngày nay?
- Con đi tìm mẹ con …
- Mẹ mày ư ? Bà ta đi rồi còn tìm kiếm làm gì ? Ở đây có gia đình đàng hoàng sao mày không ở ? Ra ngoài sống liệu mày có sống nổi không ?
Bi đưa tay quệt nước mắt
- Ở đây con không có mẹ. Tại sao bố mẹ bỏ con ? Bố sống với người đàn bà kia , con không muốn sống với bố !
- Mày đúng là thằng mất dạy ! Được, nếu mày muốn đi hoang thì cuốn xéo đi. Tao cấm mày vác mặt về căn nhà này
- Con về lấy đồ
Bi về lấy một ba lô quần áo và đồ dùng của nó rồi chạy băng qua con phố nhỏ . Nó đi thẳng ra khu chợ trời với hy vọng kiếm được chút tiền, nhưng chẳng ai muốn mua mấy đồ cũ mèm của nó . Bi hứa kiếm đủ 1 triệu đồng để chuộc lại con Phốc nhưng bất thành. Cậu bé lại đi về hướng bờ sông. Gương mặt cậu bé áng lên nỗi buồn vô vọng.
Buổi tối, Bi tiếp tục đi tìm con Phốc. Mệt quá nó nằm lăn ra vỉa hè ngủ ngon lành. Đang thiu thiu ngủ, Bi bỗng mở mắt nhìn quanh con đường vắng , chỉ có chút ánh sáng mờ đục hắt ra từ ánh đèn đường xa xa. Bỗng cậu trông thấy một gã đàn ông xuất hiện từ trong bong tối nhập nhoạng. Bi chợt nhận ra gã đàn ông chính là kẻ đã bắt con Phốc sáng hôm qua ,anh ta đang ngó nghiêng, ngó dọc, tìm kiếm gì đó. Đột nhiên gã đàn ông đứng khựng lại. Thì ra gã vừa trông thấy một chú chó đang chạy lông nhông ngoài đường. Lập tức gã nhanh nhẹn lấy ra một sợi dây thừng thòng lọng, tay kia luồn ra sau lưng móc ra một chiếc bao tải, gã hành động nhanh như chớp quăng sợi thòng lọng vào cổ con chó nghiến rãng siết mạnh. Gã ra ray chuyên nghiệp đến nỗi con chó chẳng kịp la lên tiếng nào đã bị tóm gọn vào bao tải . Bi cứ đứng há hốc mồm nhìn gã đàn ông bắt đi con chó trong nháy mắt . Chỉ một thoáng gã đã mất hút vào bóng đêm.
Âm thầm bám theo gã đàn ông Bi thấy gã đi vào một con hẻm cụt . Ở đó có khu nhà gỗ lợp tôn tồi tàn ẩm thấp . Đó là một lò mổ chó chuyên nghiệp. Gã đàn ông vác con chó đi vào nhà, Bi lập tức nhẹ nhàng bám theo gã. Nhìn qua khe cửa Bi kinh hoàng nhìn thấy trong góc nhà một chiếc cũi sắt khổng lồ, trong đó nhốt một bầy chó đủ loại. Lũ chó có vẻ đói, chúng rên lên ư ử với những ánh mắt đầy vẻ sợ hãi
Bi thoáng mừng khi phát hiện con Phốc có mặt trong đám chó bị nhốt, Phốc đang ngồi buồn hiu ,nó ngơ ngác nhìn ra ngoài trông thật tội nghiệp. Bi muốn rớt nước mặt trước cảnh Phốc bị nhốt, bị bỏ đói, nhưng nó không biết làm cách nào để cứu Phồc ra khỏ cái cũi sắt khổng lồ đang ghét kia. Nó thấy gã đàn ông điện thoại cho ai đó : “Tới làm sớm nghe tụi bây, 4 giờ sáng người ta đến lấy hàng đó !”. Bi không biết giờ là mấy giờ , nhưng nghe gã kia nói nó đoán số phận con Phốc sẽ được định đoạt chỉ vài giờ nữa.
Đêm xuống, Bi núp phía sau cánh cửa phía sau nhà vệ sinh bốc mùi hôi nồng nặc. Nó liều lĩnh, cố chịu đựng, từ từ tiến sát hơn, rồi nó nhanh chóng đột nhập vào gian nhà sau, nơi đặt chiếc cũi sắt chỉ cách nó chừng vài mét. Nó nghĩ quyết phải cứu con Phốc cho kỳ được dẫu nó phải chết.
Một lát, có tiếng xe máy dừng lại, có tiềng người nói ồn ào. Bi thấy hai người đàn ông bước vào nhà , cùng với gã kia, họ ngồi xuống một chiếc bàn cạnh cửa sổ nói chuyện rôm rả .
Tân dụng cơ hội, Bi nhẹ chân tới gần chiếc cũi, nhưng thật không may , chân nó vô tình đá phải chiếc ghế khiến gây ra tiếng động . Ba gã đàn ông đang chuyện trò bỗng giật mình đứng phắt dậy . “ Cái gì vậy ? “
Bi thấy nguy cấp, nó thấy cửa lồng cũi chỉ gài chốt chứ không khóa nên nhanh tay mở chốt cửa lồng giải cứu đàn chó, nhưng chưa kịp hành động Bi đã bị ba tên kia phát giác : “ Một thằng nhóc ! Đập chết mẹ nó cho tao ! “ Ngay tức thì, hai thằng xông vào đấm đá Bi túi bụi, khiến cậu bé chỉ biết nằm im chịu trận. Một thằng la lên
- Để tao tính sổ thằng ôn con này !
Gã kia liền ra túm lấy cổ thằng bé định tống cho nó thêm vài cú đấm nữa , nhưng bộ mặt gã bỗng thộn ra
- À …thì ra mày chính là thằng nhãi đã ăn cắp bộ chén lễ của Nhà thờ đây mà ! Thằng to gan thật ! Hôm đó tao bắt quả tang mày, nhưng tao đuổi theo mày không kịp ! Dám mò vào tận gian Cung Thánh đánh cắp bộ Chén lễ của cha , hôm nay lại dám mò vào đây ăn cắp chó! Mày chết chắc rồi con ạ !
Tên khác đứng khoanh tay đốc thêm
- Đưa nó vào cho cha xử tội nó ! Tội gì chứ tội phạm Thánh thì mày tới số rồi con ạ !
Bi bị đánh một trận nhừ tử, khiến người nó đau đớn chẳng kêu lên được tiếng nào . Ngay tức thì Bi bị gã đàn ông túm cổ đưa nó vào Nhà thờ giao cho cha xứ.
Cha sở kinh ngạc nhìn gã đàn ông
- Chuyện gì thế ông Bảy ?
- Thưa cha – ông Bảy vừa nói vửa ấn đầu thằng bé xuống bắt nó quỳ trước mặt cha sở – đây chính là thằng đã ăn cắp bộ chén lễ của cha cách nay hai tháng, con vừa túm được nó tại nhà con !
- Nó ăn cắp gì của ông Bảy ?
- Dạ, nó ăn cắp chó !
Cha sở nhìn thằng bé rổi ông ngước nhìn ông Bảy
- Vất vả cho ông quá ! Cám ơn ông Bảy nhiều
- Dạ , không có gì ! Thưa cha, thằng nhóc này là thằng ăn cắp chuyên nghiệp, ở đây ai cũng biết nó . Nó cả gan dám lấy cắp bộ chén Thánh của Nhà thờ , xin cha hãy thẳng tay trừng trị nó , nếu cha không trị nó cha hãy giao nó cho con , con đưa nó ra công an cho nó đi tù mọt gông !
- Được , ông Bảy cứ yên tâm về đi
- Dạ , xin phép cha con về
Nói xong , ông Bảy nhanh chóng ra về . Bi đang quỳ cúi đầu trước mặt cha run lẩy bẩy . Nó nhác thấy ông Bảy vừa đi ra liền vội van lạy cha sở
- Con lạy ông, xin ông hãy cứu lấy con chó Phốc, nó đâu có tội gì mà ông ta giết nó !
- Con nói gì ? – Cha sở ngạc nhiên – con Phốc nào ? Nhưng ai muốn giết con chó ?
- Dạ …là ông ta – Bi nhăn nhó chỉ tay ra cửa – cái ông vừa ra khỏi đây .là…người đã bắt con Phốc của con, đêm nay ông ta sẽ giết con chó, xin ông hãy cứu nó giúp con !
- Con nói là …- cha sở cố gắng hỏi lại Bi – ông Bảy…chính là người muốn giết con chó của con sao ?
- Dạ đúng ! Hiện giờ có rất nhiều chó trong nhà ông ta, đêm nay tất cả lũ chó sẽ bị giết, bị bán cho mấy cửa hàng thịt chó !
- Chuyện này …ở đây ai cũng biết ông Bảy chuyên giết thịt chó
- Dạ , con nói thật !
Cha sở khựng lại suy nghĩ . Một lát cha bảo Bi
- Thôi được , ta hứa sẽ giúp con cứu con chó. Nhưng con phải mau chóng trả lời cho ta biết : con lấy bộ chén Thánh để làm gì ? Hiện con để ở đâu ? Mau nói thật và trả lại bộ chén cho ta
Nghe cha nói Bi rất mừng , nhưng nó lại run lên lập cập
- Dạ …- Nó ấp úng nhìn ngó ngang ngó dọc xung quanh căn phòng của cha . Ánh mắt cậu bé bất ngờ sáng rỡ khi nó trông thấy một bức tranh vẽ tượng Chúa Chịu Nạn đang treo trên tường
- Dạ …đúng rồi ông ơi ! Ông này …cái ông khốn khổ đó… con từng thấy ông ấy …
- Thôi đủ rồi ! Ta không có thì giờ đùa với con đâu , mau nói cho ta biết con để bộ chén ở đâu ?
- Dạ con nói thiệt, nhờ ông khốn khổ kia dạy dỗ, con mới bò được thói ăn cắp đó ông ạ !
Cha sở bắt đầu ngạc nhiên , cứ nhìn xóay vào cậu bé , nhìn vào mắt nó ông biết nó không hề nói dối
- Dạ …để con kề ông nghe …Hôm con lẻn vào Nhà thờ ăn cắp mấy cái chén con mang đi giấu, nhưng vì lúc đó trời tối con không biết giấu ở đâu, con định sáng ra sẽ mang đi bán. Ngay đêm đó, con ôm mấy cái chén đó ngủ ở sạp hàng trong chợ vì sợ mấy đứa giang hồ thấy chúng lấy mất ! Lúc con đang ngủ say …Con thấy một người đàn ông gầy ốm tong teo, tóc dài, mặt đen hốc hác, có gắn trên đầu cái gì đó có gai , có cả máu trên mặt ông, con trông ông y hệt như mấy ông ăn xin ngoài chợ vừa bị ai đó đánh đập , nhưng người ông sáng lắm ! Trông ông ấy thật hiền từ .Ông bảo con : “ Đừng sợ , ta không hại con đâu”. Con hỏi ông ấy đi đâu ? Ông ấy nói một câu làm con sợ hết cả hồn: “ Ta là chủ mấy cái chén con đang ôm trong người …” Ông ấy nói xong rồi biến mất, Còn con giật mình tỉnh giấc …Con biết đó chỉ là giấc mơ , nhưng con rất sợ . Qua ngày hôm sau con vẫn thấy sợ nên con chẳng dám đem đi bán nữa, con cứ ôm trong người. Đêm sau, ông ấy lại đến . Ông ấy nói : “Con đừng làm điều xấu nữa , hãy theo ông , ông sẽ ban hạnh phúc cho con”. Từ hôm đó, đêm nào ông ấy cũng đến … khuyên con đừng đi ăn cắp nữa , con thấy vui lắm ông ạ ! Có người cho con ít tiền , con đi bán vé số , con bán rất đắt hàng ông ạ , ngày nào con cũng bán hết …
Cha sở nghe Bi nói chợt quay sang nhìn bức ảnh . Đó là bức vẽ chân dung Chúa Chịu Nạn mà cha từng mua ở nước ngoài cách nay ít lâu . Trong hình họa sĩ vẽ Chúa màu đen , người gấy ốm, tóc dài , trên đầu đội mạo gai đúng như lời cậu bé tả . Cha bỗng đứng dậy bước ra ngoài , một lát ông đem vào bức tượng Chúa Chịu Nạn nạn được tạc đẹp hơn, da trắng và người mập hơn so với Chúa trong hình vẽ . Cha hỏi Bi:
- Có phải con mơ thấy người giống vậy ?
- Không phải đâu – cậu bé lắc đầu - cái ông con thấy đen thui hà , không đẹp như vậy đâu. Con chỉ thấy người ông sáng như được thắp đèn quanh người , ổng hay cười nữa
Cậy bé chia sẻ câu chuyện xem ra cậu rất hứng thú.
Cha sở cứ sững sờ nhìn cậu bé . Cha không thể tin một thằng bé chuyên ăn cắp văt lại có thể mơ gặp Chúa ! Nhưng dẫu sao cũng chỉ là giấc mơ của cậu bé, cha sở cảm nhận thằng bé có gì đó thật khác thường:
- Bây giờ , con mau đi lấy bộ chén trả lại cho cha được chưa ?
- Dạ được , con đi ngay, nhưng ông hứa giúp con cứu con Phốc nha ông ?
- Được , ta hứa
Vị linh mục tin tưởng để cậu bé đi lấy bộ chén. Quả nhiên , một lúc sau Bi quay lại trả bộ chén cho cha . Cha kiềm tra lại thấy bộ chén đúng là bộ đã bị mắt cắp cách nay 2 tháng. Cha hỏi nó
- Hai tháng nay con đã để bộ chén ở đâu ?
- Dạ, trên ngọn cây ổi nhà ông Chín ạ
- Tại sao lại để trên cây ổi ?
- Dạ …vì từ lúc con mơ thấy ông đen đen ấy, con sợ lắm, con không dám để ai đó đụng đến bộ chén, nên con đưa lên ngọn cây ổi nhà ông Chín cất cho kín ạ !
Cha sở vỗ đầu thằng bé
- Con làm vậy đúng . Đợi cha một lát , cha đưa con đến nhà ông Bảy lấy con chó cho con
- Dạ , ông mau đi ông , con sợ ông ta giết con Phốc mất ! – Cậu bé sốt ruột . Cha nhìn đồng hồ đã gần 12 giờ khuya.
Khi hai cha con đến nhà ông Bảy thì cũng là lúc ông đang chuẩn bị nồi nước sôi thật to để giết thịt lũ chó, chúng đang trong tình trạng rất đáng thương , một vài con đang chảy nước mắt, ánh nhìn đờ đẫn, chúng hầu như chẳng còn kêu la được nữa, bởi dường như chúng biết mình sắp bị đem ra giết. Cạnh đó là hai tên khác, mặt mũi lạnh như tiền đang ngòi tay cầm sao hươ lên hươ xuống chuẩn bị giết thịt lủ chó.
Ông Bảy đang mài dao cho thất bén, thì vừa hay đúng lúc cha sở từ ngoài bước vào . Trông thấy cha , ông Bảy hơi ngỡ ngàng. Ông vội vàng dừng tay chạy vội ra đón tiếp cha. Ông có vẻ lúng túng bởi cảnh tượng đang diễn ra trong nhà ông , điều mà ông không hề muốn để cha thấy, ông khúm na khúm núm
- Dạ …thưa cha …Có chuyện gì cha đến tìm con vào giờ này ?
Cha sở không trả lời ông, lại hỏi:
- Ông …đã giết thịt lũ chó chưa vậy ?
- Dạ chưa , thưa cha ! Có chuyện gì không cha ?
- Ông đừng giết chúng nữa , hãy bán chúng cho tôi , có con nào ông bán hết cho tôi
- Dạ thưa …nếu cha cần …con …con xin biếu cha vài con …Chắc là nhà xứ muốn mua chó để đãi tiệc ?
- Không , tôi chỉ muốn khuyên ông , đừng làm công việc này nữa, nó nhẫn tâm lắm ! Còn lũ chó , hãy bán lại cho tôi, tôi hứa không để ông thiệt thòi đâu !
Ông Bảy không biết nói gì , chỉ biết đứng há hốc mồm nhìn cha.
Ngay khi ấy một phụ nữ ăn mặc sang trọng bỗng bước vào đứng nhìn quanh nhà ông Bảy ngơ ngác . Rồi bà ta đến bên ông Bảy nói:
- Tôi đi tìm con chó của tôi, tôi không biết nó có bị đưa vào đây không ? Xin làm ơn cho tôi chuộc lại con chó !
Ông Bảy hất hàm chỉ ra chiếc cũi sắt
- Đó , chị ra coi xem con nào của chị
Người đàn bà đến bên chiếc cũi. Một lát chi ta kêu lên :
- Đây rồi, nó chính là con chó cưng của tôi !
Chị ta chỉ cho ông Bảy con chó đang có vẻ vui mừng khi trông thấy chủ của nó . Ngay lúc đó có tiếng kêu la của Bi
- Mẹ ơi ! Đúng là mẹ đây mà ! Sao mẹ lại có mặt ở đây ?
Người đàn bà sững sờ quay sang , nhận ra Bi bà hét lên , rồi lao đến ôm châm lấy cậu bé
- Trời ơi ! Bi của mẹ ! Con ở đâu ra vậy ? Không phải con đang sống với bố sao ?
- Không …- Bi thổn thức – Bố sống với người khác, con không muốn ở với bố, con ra ngoài sống bụi đời mấy tháng nay rồi !
- Trời ơi ! Bi đang thương của mẹ, tội nghiệp con tôi !
Bà nói rồi ôm chặt lấy Bi vào lòng khóc nức nở, Bi cũng òa lên khóc.
Sự hội ngộ đầy bất ngờ của hai mẹ con Bi đã khiến Cha sở không khỏi xúc động , trong khi ông Bảy vẫn đang đứng ngơ ngác , ông chưa hiểu chuyện gì. Còn cha thì đang cảm thấy vui cho cậu bé khi nó bất ngờ tìm được mẹ nó tại đây. Bỗng người mẹ lên tiếng.
- Thôi, giờ con về ở với mẹ, mẹ sẽ lo cho con đày đủ. Con ở với mẹ nhe ? Con sẽ được sống sung sướng.
- Nhưng …- ánh mắt cậu bé chợt long lanh – Mẹ đang sống với người đàn ông đó, con không về với mẹ đâu ! Con muốn …
- Con muốn gì ? Bà mẹ trố mắt kinh ngạc
Cậu bé bất chợt quay sang nhìn cha sở . Cha cũng đang nhìn cậu . Bất chợt cậu nói
- Con muốn đến với ông đen đen …cái ông con đã gặp trong giấc mơ hôm nọ, và cả trong Nhà thờ nữa. Con thích ông ấy lắm mẹ à. Ông ấy nói muốn con đi với ông ấy.
Bi cứ thế nói như thể cậu đang kể một câu chuyện hết sức bình thường, khiến người mẹ ngớ người chẳng hiểu Bi nói gì, trong khi cha sợ thật sự khó hiểu về cậu bé.
- Con nói gì vậy Bi ? Ông đen đen là ông nào ?
Cha sở bỗng lên tiếng.
- Đó là Chúa Giêsu. Tôi là cha chánh xứ vùng này. Chính tôi cũng không thể tin những lời cậu bé vừa nói. Nhưng dường như cậu ấy có điều gì đó thật khác thường, và cũng thật bí ẩn ! Câu chuyện của cậu chắc là …không một ai trong chúng ta có thể hiểu được !
- Chỉ là lời con trẻ thôi cha ạ, chúng nói mà có biết gì đâu ! Con muốn đưa cháu về nhà , xin cha thuyết phục cháu giùm con.
Cha xứ chưa kịp nói thì Bi đã nắm tay cha
- Con muốn giúp việc trong nhà xứ , con không muốn về nhà mẹ con đâu ông cha ơi !
- Không được ! – Cha xứ xoa đầu Bi - con phải về với mẹ của con, vì đó là gia đình con.
Nghe cha nói Bi như muốn khóc.
- Không ! Con chỉ muốn sống với bố mẹ con thôi, bố mẹ đã có người khác, con không muốn sống với người lạ !
Người mẹ lại ôm chầm lấy đứa con
- Tất cả là lỗi của bố mẹ ! Mẹ xin lỗi con !
Rồi bà quay sang nói với cha
- Thưa cha, con là người mẹ vô tâm, chẳng ra gì ! Có lẽ cháu không cần đến con nữa rồi. Con biết dẫu thằng bé có về sống cùng con nó cũng không thể có hạnh phúc. Xin cha đồng ý nhận cháu, vì con tin nếu cháu được sống gần cha nó sẽ được cha dạy dỗ nên người, còn hơn là cháu cứ phải sống lang thang không nhà. Con biết nhà xứ còn nhiều khó khăn nên con muốn chia sẻ cùng cha để cha có điều kiện nuôi dạy cháu, được như vậy con mới có thể an tâm, thưa cha ? Xin cha nhận lời giúp con
- Thôi được ! Nếu được bà cho phép, tôi đống ý nhận cháu ! Nhưng tôi chỉ muốn khuyên ông bà, hãy làm tất cả để đưa cậu bé về gia đình , bởi cháu rất cần có bố mẹ bên cạnh, nếu ông bà quay về lại sống cùng nhau tôi tin cháu sẽ quay về.
- Dạ ..con hiểu, thưa cha
Người phụ nữ có vẻ ngượng nghịu khi nghe linh mục nói , bà bỗng lấy ra khăn mùi xoa rồi cúi đàu khóc sụt sùi . Bà bỗng thấy cậu bé bế ra một con chó .Cậu nói với cha
- Cha cho con mang theo con Phốc nữa nhe cha ?
- Ừ - cha sở cười gật đầu
Ai cũng nghĩ rằng cậu bé chỉ đang bất mãn vì bố mẹ có cuộc sống riêng tư của họ, nên cậu không muốn quay về nhà nữa. Nhưng dẫu cho có chuyện gì xảy ra, ba mẹ cậu có quay về đoàn tụ cùng nhau hay không, bây giờ cậu cũng chẳng quan tâm nữa .
Sau vài tháng sống trong nhà xứ cha sở đã đi hết ngạc nhiên này dến ngạc nhiên khác khi cậu ngày càng trở nên ngoan hơn, rất mực chăm chỉ lo việc cho cha, cho nhà xứ. Có những ngày cha thấy cậu bé quỳ gối cầu nguyện hàng giờ trước bức tranh Chúa Chịu Nạn mà cậu luôn nói rất thích bức tranh, cậu chỉ ao ưốc hàng ngày, gíá như được nói chuyện với với cái ông đen đen ấy cậu sẽ vui biết chứng nào .
Một ngày nọ cha sở hỏi Bi : “Tất cả mọi đứa trẻ đều thích vui chơi chạy nhẩy, thích có máy tính , Ipad , điện thoại chơi game …còn con ở đây chẳng được cha cho những thứ ấy, con không thấy buồn chán sao ? “Bi thật thà chia sẻ: “Thưa cha , con rất thích những thứ cha vừa nói . Nhưng từ khi con gặp ông đen đen ấy con thấy mình không còn bị ghét bỏ nữa Con chỉ là thằng ăn cắp, ai cũng ghét con hết, nhưng ông ấy thì không ghét con…” . Cha hỏi : “Con chỉ gặp Chúa Giêsu trong giấc mơ, sao con biết được Chúa yêu thương con ? Bi cười : “ Vì con thấy ông khổ quá cha ơi ! Cha thử nhìn lên cây Thánh Giá trong Nhà thờ đi, có ai khổ hơn ông ấy không cha ? Con chưa từng thấy ai khổ như ông ấy. Con cũng khổ nên con thích ông ấy !”

Mã số VVYT 16- 021
Giuse Vinh Hiển, sn 1959, tgp Saigon
(Giải khích lệ VVYT 2016)

(chuyển thể từ câu chuyện về tấm gương nhân đức mẫu mục của Thánh Savio )
Nhân vật :
Savio
Cha Giáo
Học sinh nam ( 4 bạn nam khoảng 10 tuổi )
Học sinh nữ
Cậu giúp lễ
CẢNH 1
Trong sân trường, Savio đang tung tăng đi bộ, tay ôm cặp sách, vừa đi cậu vừa khẽ hát một bài Thánh Ca mà Cha giáo Cugliêrô vừa dạy cho tất cả học sinh trong lớp . Cùng khi ấy bốn cậu học sinh học chung lớp với Savio đi tới , nhưng do mải hát Savio đã không để ý tới đám bạn đang đứng nhìn Savio chằm chằm . Rồi cả bốn HS túm vào nhau nói xấu Savio
HỌC SINH 1 : ( vẻ khó chịu ) Ê , tụi bây coi thằng Savio kìa , trông nó thật đáng ghét !
HỌC SINH 2 : ( bĩu môi )Lúc nào Cha cũng khen nó học giỏi , đạo đức , tháng nào nó cũng đứng nhất lớp …Tao thấy nó có giỏi gì đâu !
HỌC SINH 3 : ( vẻ mặt bậm trợn ) Tao không ưa thằng Savio . Tao muốn cho nó một bài học . Tụi bay tìm cách nào để Cha giáo không còn tin vào Savio nữa
HỌC SINH 1: Tao muốn nó bị Cha phạt cho bõ ghét !
HỌC SINH 4: ( hớn hở ) Ê , nghe hay đó ! Tao có kế này tin chắc Cha Giáo sẽ phải phạt Savio thôi
Ba học sinh nghe HS 4 nói cùng trố mắt
HỌC SINH 1: Đâu, nói thử nghe xem !
Cả 4 HS lại túm vào nhau nghe HS 4 nói gì đó . Vừa nghe xong cả bọn cùng phá nhau ra cười . Một đứa khoái trá
HỌC SINH 1: Được đó ! Vậy sáng sớm ngày mai bọn mình sẽ vào lớp sớm , nhưng nhớ coi chừng bị phát giác nghe tụi bay
HỌC SINH 3: Để xem lần này Cha giáo còn khen nó nữa không ?
HỌC SINH 4: ( vẻ lo lắng ) Nhỡ như Cha phát hiện ra không phải Savio là thủ phạm thì biết làm sao ?
HỌC SINH 1: Làm sao Cha phát hiện được . Bọn mình cử đổ hết lỗi cho Savio là xong chuyện
HỌC SINH 2: Ừ , cứ làm vậy đi . Thôi tao phải về nhà ngay vì hôm nay mẹ tao bị bệnh
HỌC SINH 1: Ừ , về thôi !
CẢNH 2 ( Vẫn cảnh sân trường )
Cha giáo đang chuẩn bị đi vào lớp . Chợt cha ngước lên trông thấy cậu giúp lễ đang hới hãi chạy đến gặp cha
CHA GIÁO: ( vẻ ngạc nhiên ) Có chuyện gì mà trông con hốt hoảng vậy ?
CẬU GIÚP LỄ : Thưa Cha , sang nay con phát hiện ai đó đã nhét đầy tuyết vào lò sưởi trong lớp học
CHA GIÁO : ( trố mắt ) Con nói gì , có người đã nhét tuyết vào lò sưởi ! Nhưng ai đã làm vậy ?
CẬU GIÚP LỄ : Dạ ,con không biết , thưa Cha !
CHA GIÁO : ( vẻ tức giận ) Thôi được , để Cha vào lớp xem sao
Cha Giáo vừa định đi vào lớp thì đám 4 học sinh nghịch ngợm trong lớp xuất hiện . Cả bọn trông thấy Cha liền quay mặt đi ngó lơ như không nhìn thấy Cha . Nhưng Cha Giáo đã hỏi chúng
CHA GIÁO : Các con đi đâu vậy , giờ này còn chưa vào lớp sao ?
HỌC SINH 2 : ( vẻ lúng túng ) Dạ …thưa Cha , chúng con đang vào đây ạ
CHA GIÁO : Cha vừa nghe cậu giúp lễ nói lò sưởi trong lớp học bị nhét đầy tuyết , các con có biết ai làm chuyện này không ?
HỌC SINH 2 : Dạ …dạ không …Dạ hình như là …
HỌC SINH 1 : ( cướp lời ) Dạ sáng nay con vào lớp sớm , chính mắt con trông thấy Savio đã nhét tuyết vào lò sưởi
CHA GIÁO : ( sửng sốt ) Sao , các con trông thấy Savio đã làm vậy à ?
HỌC SINH 2 : Dạ …con cũng trông thấy cậu ấy nhét tuyết vào lò sưởi
Cha giáo đứng thất thần
CHA GIÁO : ( thầm nghĩ ) Không, không thể như thế được! Saviô là một học trò gương mẫu và tôn trọng kỷ luật nhất lớp! Có lẽ nào…
Đúng lúc đó , Savio đi tới , cậu gặp Cha và cúi đầu chào
SAVIO : Con chào Cha
Cha giáo đang đứng với vẻ mặt giận dữ , ông quay sang nhìn Savio
CHA GIÁO : Savio , có phải con đã nhét tuyết vào lò sưởi trong lớp học ?
Nghe cha hỏi , nhưng có vẻ như cậu đã biết chuyện . Savio im lặng khiến Cha giáo càng thêm nghi ngờ
CHA GIÁO : Hừ…Cha không ngờ con mà cũng làm bậy như thế
Đám HS liền hùa vào khi thấy Savio không phản ứng gì
HỌC SINH 2: ( chỉ mặt Savio ) Chính là nó đó Cha
HỌC SINH 1 : ( vênh váo ) Phạt nặng nó đi Cha
Cả bọn nhao nhao tìm cách sỉ vả Savio nhưng cậu vẫn lặng thinh không cãi một lời .
Cha giáo khoanh tay nhìn Savio
CHA GIÁO : Đáng lẽ con phải bị đuổi ra khỏi trường! May mà lần đầu, nếu không thì… Nhưng lần đầu cũng phải bị kỷ luật .
Ngay khi đó , cậu giúp lễ bước ra , đi cùng cậu là một học sinh nữ trong lớp
CẬU GIÚP LỄ : Thưa cha , không phải Savio đã làm chuyện đó
Cậu giúp lễ nói và chỉ vào em học sinh nữ
CẬU GIÚP LỄ: Bạn này cho biết sáng nay Savio không đến lớp sớm , cậu ấy đến nhà giúp bạn này học Toán thưa Cha
HỌC SINH NỮ: Dạ, sang nay Savio không có mặt ở lớp nên cậu ấy không thể nhét tuyết vào lò sưởi
Bốn HS nam kia nghe nói đã vội bỏ đi
Cha giáo đứng suy nghĩ rồi quay sang nhìn Savio
CHA GIÁO : Cha nhớ rồi , đêm qua cha đã đi kiểm tra các lớp nhưng không thấy gì , như vậy chuyện nhét tuyết vào lò sưởi chỉ có thể xảy ra vào sáng nay …
CẬU GIÚP LỄ : Dạ đúng vậy thưa Cha , thủ phạm chắc chắc không phải là Savio
Cha giáo quay sang hỏi Savio
CHA GIÁO : Con có biết gì về chuyện này không Savio ?
SAVIO : ( khẽ gật đầu ) Dạ con biết thưa Cha
CHA GIÁO : ( ngạc nhiên ) Con biết ? Nhưng sao con không nói gì . Lẽ ra con phải chứng minh mình vô tội chứ !
SAVIO : Thưa Cha, vì các bạn đó có nhiều điểm xấu quá rồi. Con nghĩ nếu các bạn đó bị lộ tẩy thì chắc sẽ phải đuổi ra khỏi trường ngay. Còn con, vì mới là lần đầu nên con hy vọng sẽ được tha… Hơn nữa, vì con nghĩ tới cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Chính Chúa cũng đã làm thinh, mặc cho quân dữ cáo gian… Vì thế, mà con đã quyết không mở miệng cãi lại!
Cha giáo xúc động ôm lấy Savio vào lòng
CHA GIÁO : Cha xin lỗi , vì chính cha cũng nghi ngờ con . Con thật xứng đáng là con cái Chúa , là một học sinh gương mẫu trong trường . Ngày mai Cha sẽ nêu gương sáng của con trước toàn thể các em học sinh.

Mã số: VVYT 16-003
Gioan B. Vũ Toàn Năng, 1968
(Giải khích lê VVYT 2016)
Một con đường nên thánh
Gập ghềnh với chông gai
Mẹ khẩn thiết van nài
Chịu đau thương với Chúa.
Trên vai không tiền của
Đôi tay trắng vào đời
Trái tim như biển khơi
Xót thương người lỡ bước.

Bỏ quê hương đất nước
Đi theo Chúa trọn đời
Đi đến khắp nơi nơi
Tìm đến người đói rách.
Mẹ là người lữ khách
Chúa sai tới mọi miền
Tình yêu lớn vô biên
Cưu mang người cơ nhỡ.
Xót thương người ghẻ lở
Yêu mến kẻ đui mù
Thăm viếng chốn lao tù
Tìm đến người đói khát.
Cưu mang người hoạn nạn
Săn sóc kẻ bần cùng
Thương người phút lâm chung
Đưa gần về cùng Chúa.
Vinh quang Người chiếu tỏa
Trên đời sống mỗi ngày
Khát sự thật công bằng
Người đói cơm, đói bánh.
Mẹ noi gương Chí Thánh
Gieo công lý hòa bình
Thương xót kẻ cùng đinh
Bị bỏ rơi, ruồng bỏ.
Một trái tim nho nhỏ
Yêu thương vô bến bờ
Đời Mẹ như bài thơ
Diễn tả tình thương Chúa.
Bừng sáng lên ngọn lửa
Nơi tăm tối u sầu
Một đời sống nguyện cầu
Say mê đầy yêu mến!
Mẹ luôn luôn kết hiệp
Trong tình Chúa mỗi giờ
Trao ban đến muôn nơi
Muôn Hồng Ân Thiên Chúa.
Ý Cha từ muôn thuở
“Con nên thánh mỗi ngày”
Và mãi mãi từ đây
Như lòng Người mong ước!
02/09/2016

Mã số VVYT 16-023
Têrêsa Nguyễn Thị Thanh Xuân, 1956, tgp Saigon
(Giải khích lệ VVYT 2016)
Cứ mỗi lần nhìn những trận mưa lớn như mấy ngày qua là tôi lại nhớ đến hình ảnh của ba tôi. Người cha tận tụy gánh vác mọi việc trọng trong gia đình.
Hồi nhỏ, gia đình sống trong thời giặc giã, chạy loạn liên miên đến khi đất nước hòa bình thì ba mẹ chỉ còn đủ tiền mua một căn nhà nhỏ, ộp ẹp bên kia cầu chữ Y. Ba làm công, mẹ lo việc nhà, hai chị cả phải vừa đi học vừa đi làm để phụ ba. Tuy nhiên nhà chỉ đủ mua gạo thỉnh thoảng được lạng thịt từ ba mang về cũng là để bồi dưởng cho mẹ và các em nhỏ nhất. Bữa cơm hằng ngày của gia đình là cơm độn khoai lang, canh bằng nước rau muống luộc. Hôm khác là đọt dứa luộc chấm nước tương. Hôm khác nữa là bắp cải nồi xào dầu hoặc nước lã chan cơm với dưa mắm. Vậy mà bữa cơm chiều nào cũng vui và đầy ắp tiếng cười … Mẹ gắp thức ăn cho ba, ba san bớt cơm cho mẹ và xới thêm cho chị em tôi nữa, ba cười bảo: “ Trưa trong cơ quan ba đã có ăn no rồi !” Vừa nói ba vừa đưa thẳng tay gồng lên để đưa con “chuột” phình lên từ cánh tay của ba. Chị em tôi nhìn mà cười nhưng tôi chợt im lặng ngắm nhìn gương mặt khắc khổ của ba.

Lớn hơn một chút, nhà đã chật thêm chật chội hơn. Mỗi khi trông thấy mây đen kéo về là ba mẹ ngồi nhìn chị em tôi mà xót xa nhất là mưa về trong những đêm hôm. Mẹ dọn chỗ không dột cho các em ngủ lấy sức để mai còn đến trường. Chị em tôi đều là gái và mấy đứa em trai còn nhỏ ở tuổi ăn tuổi ngủ nên chỉ có ba mẹ tôi tát nước trong đêm khuya khi trong khu xóm mọi nhà đều an giấc. Ba bảo : “Để mẹ con ngủ lấy sức. Hằng ngày mẹ phải lo việc nhà đã cực lắm rồi, ba phải phụ mẹ không thì mẹ bệnh, thương mẹ lắm đó!”
Mái và vách nhà đều bằng tôn nên trưa rất nóng đến hơn 4 giờ chiều ba đi làm về mà trời vẫn còn nắng nóng gay gắt … thế mà ba tôi lấy“đồ nghề” lên nóc tìm bít những nơi bị dột. Nhà tuy giảm bớt đi phần nào bị dột nhưng nước mưa vẫn tràn vào và ba lại phải một mình tát nước có khi đến gần sáng. Mồ hôi ướt đẫm chiếc áo mong manh của ba nhưng ba vẫn cười khi nhìn đứa em nhỏ nhất vừa choàng dậy đưa tay dụi mắt: “ Con gái út của ba ngủ có ngon không ?”
Ra trường, ba dành dụm mua cho tôi chiếc xe đạp cũ. Những ngày đầu đi làm, tôi được ba kèm tôi cùng đường đi làm của ba. Đến ngã tư tôi rẻ phải còn ba thì rẻ trái, đi một đổi đường, ngoáy lại tôi vẫn thấy bóng dáng nhỏ, gầy gò của ba còn đứng đó dõi theo tôi.
Thấm thoát đi làm được ba năm, cuối năm đó tôi có bạn trai, dẫn về nhà để ba mẹ xem mặt. Một tối, ba gọi tôi lại, dạy : “Con ạ, con phải làm việc luôn dù sau này có lập gia đình hay không, con đừng ỷ lại dựa vào chồng mà biếng nhác. Con đã lớn khôn, có công ăn việc làm và nay có bạn, ba rất mừng. Chỉ mong con có cuộc sống an vui, không cực nhọc như mẹ, cả một đời lam lũ, khổ cực…”. Ngày ấy, lần đầu tiên, con gái thấy ba cười nhưng lấp lóa nước mắt.
Con cảm ơn ba đã cho con sự sống, đã ở bên con những khi con vui, khi con buồn, khi con yếu lòng gục ngã. Con thầm hát cầu xin Chúa : “ Xin cho cha mẹ con thắm mãi tình son của Chúa Trời, cho con giữa gia đình luôn sống theo tình người con ngoan”.

Mã số VVYT 16- 016
Simon Cao văn Tuấn, 1964
(Giải khích lệ VVYT 2016)
(Mừng ngày khai giảng niên khóa Giáo lý 18/9/2016 – 2017 Giáo xứ Quảng Ngãi)
***
Con dâng Chúa với ước mơ nhỏ bé
Một niềm tin và chăm chỉ học hành
Mai khôn lớn thi đua cùng nhân thế
Dâng lên Người lời ca tụng tôn vinh
Con tin Thiên Chúa giàu lòng thương xót

Xưa Chúa Con đã xuống thế làm người
Nay hình bánh Chúa vẫn còn sống mãi
Máu thịt Người còn đậm dấu tình xưa
Thu đã đến, mùa khai giảng năm mới
Thánh Thần ơi! thánh hóa những tâm hồn…
Giáo lý từng trang, xin Người soi dấu
Vui bước bên đời con dâng hiến đời son
Chim trên cành buông lời reo trong gió
Nắng long lanh dệt sáng dưới hàng cây
Con tung tăng trong bộ quần áo mới
Niềm tin hôm nay…, hạnh phúc mai ngày!

Mã số VVYT 16-024
Giuse Cao Viết Tuấn, 1984, gp Xuân Lộc
(Giải khích lệ VVYT 2016)

“Lạy Chúa! Lạy Thiên Chúa của tôi! Sao Ngài đành bỏ tôi!” (Mt 27, 46)
Đó là tiếng kêu bi thương của một con người đang hấp hối trên thập tự giá, trong cơn đau đớn và tuyệt vọng cùng cực, chua xót và cay đắng đến tột độ.
Con người ấy đã đi đến tận đáy sự bi đát của một phận người: đau khổ, cô độc, thất bại hoàn toàn, vô nghĩa, vô ích, vô vọng, lạc lõng…
Không một ai đứng ra giúp đỡ, bênh vực, an ủi, động viên.
Nhìn xung quanh, chỉ có người mẹ hiền đang đứng chết lặng, chỉ có người môn đệ non nớt và yêu đuối nhất, chỉ có một cô gái mới rời khỏi làng chơi.

Ngoài ra, xung quanh là một đám đông đang nhạo cười chế giễu, thậm chí chửi bới và nguyền rủa.
Xung quanh là một nhóm các binh lính lạnh lùng đến tàn độc đang làm nhiệm vụ thi hành án.
Người duy nhất đứng ra lên tiếng để bênh vực lại là một tên tử tội đang chịu chung một bản án.
Đâu rồi những môn đệ? Đâu rồi những người đã được chữa lành bệnh tật? Đâu rồi những người đã từng say mê với những lời giảng dạy? Đâu rồi những người được ăn bánh no nê? Đâu rồi những người hâm mộ?
Lúc này, con người ấy còn gì đây, có gì đây? Tấm thân bị lột trần, bị treo lên cao cho mọi người sỉ nhục và lên án. Hai bàn tay trắng giang rộng và đôi chân trần được neo giữ bằng những chiếc đinh đóng thập giá.
Có thể nói được rằng, đây chính là con người khốn khổ nhất trong toàn bộ lịch sử nhân loại.
Nhưng nhìn lại bản thân mình, tôi mải mê tìm kiếm sự an ủi vỗ về, động viên khích lệ. Tôi mong muốn được tôn trọng, muốn được đánh giá cao, muốn được thông cảm.
Tôi miệt mài đi tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời trong một mối tương quan nào đó, hay ở nơi một ai đó, nơi một tư tưởng triết lý khôn ngoan, lý thuyết cao siêu, hay một con đường thoải mái dễ dàng.
Tôi muốn là một ai đó trong cuộc đời này, muốn thành công, muốn làm một cái gì đó ý nghĩa.
Đức giáo hoàng Phanxicô từng nói: cho dù bạn là giáo hoàng, là hồng y, là giám mục, linh mục, tu sĩ hay bất cứ là gì đi nữa, nhưng nếu bạn không vác thập giá và bước theo Đức Kitô, bạn không thể nào là môn đệ của Ngài được.
Thật vậy, Chúa Giêsu khẳng định: “Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo tôi” (Lc 9, 23)
Xin mượn lời của Thomas Merton:
Lạy Chúa của con, con thật vô vọng ngoài niềm hy vọng vào thánh giá Chúa.
Nhờ sự khiêm hạ, những khổ đau và cái chết của Chúa, Chúa đã giải thoát con khỏi mọi hy vọng hão huyền.
Chúa đã tiêu diệt tính hư ảo của cuộc sống hiện tại nơi chính bản thân và đã ban cho con tất cả những gì là vĩnh cửu khi Ngài chỗi dậy từ cõi chết.
Tại sao con muốn trở nên giàu có khi Ngài đã nên nghèo khó?
Tại sao con muốn trở nên nổi tiếng và quyền lực trong mắt người đời khi con cháu của những kẻ tâng bốc các tiên tri giả ném đá những tiên tri thực chối từ Ngài và đóng đinh Ngài vào thập giá?
Tại sao con phải ôm ấp trong lòng niềm hy vọng vốn đang huỷ hoại đời con – hy vọng vào hạnh phúc trọn vẹn ở đời này – một kiểu hy vọng như thế tất phải vỡ mộng, vô nghĩa và chỉ có thất vọng?
Hy vọng của con ở nơi những gì mắt thường không bao giờ nhìn thấy; vì thế, đừng để con tin vào những phần thưởng hữu hình đời này.
Hy vọng của con ở nơi những gì tâm hồn người đời không thể cảm nhận; vì thế, đừng để con tin vào những tình cảm của con tim.
Hy vọng của con ở nơi những gì tay con người không bao giờ chạm thấu; vì thế, đừng để con tin vào những gì giữa những ngón tay mà con có thể nắm lấy.
Cái chết sẽ nới lỏng sự giữ chặt của con và niềm hy vọng vô hiệu ấy sẽ tan bay.
Hãy để niềm tin của con náu ẩn trong lòng thương xót của Ngài, chứ không phải trong chính con.
Hãy để hy vọng của con cư ngụ trong tình yêu của Ngài, chứ không phải ở sức khoẻ, sức mạnh, khả năng hoặc những kế sách của con người.
Nếu con tin tưởng Ngài, mọi sự sẽ trở nên sức mạnh, sức khoẻ và nguồn đỡ nâng cho con, mọi sự sẽ mang con đến tận quê trời.
Nếu con không tin vào Ngài, mọi sự sẽ trở nên huỷ diệt đối với con. Amen.

Mã số VVYT 16-025
Giuse Cao Viết Tuấn, 1984, gp Xuân Lộc
(Giải khích lệ VVYT 2016)

“Hãy cho tôi điểm tựa, tôi sẽ nâng bổng trái đất lên!” (Archimedes Syracuse, 287 – 212 trước Công Nguyên)
Trong bề bộn cuộc sống, ai cũng mong muốn tìm một điểm tựa cho mình. Điểm tựa là nơi nương náu mỗi khi bị đe doạ, là nơi an nghỉ mỗi khi mệt mỏi, là nơi ủi an mỗi khi buồn phiền, sưởi ấm mỗi khi giá lạnh. Những lúc rơi vào cùng cực nhất, điều người ta cần nhất là một điểm tựa đủ lớn làm sức bật cho họ vượt qua tất cả. Điểm tựa đem lại sức mạnh, can đảm, nghị lực để vượt qua mọi sóng gió cuộc đời.
Điểm tựa đó có thể là cha mẹ, là người chồng người vợ, là con cái, là bạn bè, là thầy cô. Điểm tựa ấy có thể là một nhân vật danh giá, nổi tiếng, giàu có đem lạ nhiều hứa hẹn. Chúng ta hy vọng nơi những người ấy sẽ luôn ở bên cạnh chúng ta, đặc biệt là những khi chúng ta gặp khó khăn, thất bại.
Một số người lại tìm cho mình điểm tựa nơi tiền bạc. Tiền bạc giúp giải quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống. Tiền bạc là một bảo đảm cho con người có được những gì mình muốn. Có một tài khoản kếch xù trong ngân hàng làm cho con người yên tâm, đặc biệt khi về già.
Một số người khác khác lại vươn xa hơn khi đi tìm quyền lực. Họ bất chấp mọi thủ đoạn, mọi cách, thậm chí bằng tiền bạc, để tiến thân, để có nhiều quyền. Khi đó, họ khẳng định vị trí của họ trong người khác và trong xã hội.

Tuy nhiên, nghịch lý và sự bi đát của cuộc đời, đó là tất cả mọi thứ trên đời này đều qua đi, không có gì vĩnh cửu trường tồn. Nên những điểm tựa vừa kể đều mong manh, hữu hạn, tạm bợ, hay thay đổi. Và rồi cuối cùng, cái chết sẽ chấm dứt tất cả.
Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm về sự bội bạc của con người là không giới hạn. Tiền bạc, danh vọng, quyền lực đều sẽ mau chóng tan thành như mây khói. Cha mẹ rồi sẽ già yếu, cũng sẽ qua đời. Bạn bè thậm chí bạn đời cũng có thể phản bội. Con cái cũng có thể lãng quên, bỏ rơi cha mẹ của mình.
Vậy đâu là điểm tựa vững chắc nhất, điểm tựa vĩnh cửu, đáng cho tôi đánh đổi tất cả để có được? Đọc lại Kinh Thánh, chúng ta có thể nhận thấy tác giả Thánh Vịnh đã dùng những hình ảnh rất cụ thể để Thiên Chúa như là điểm tựa tuyệt vời nhất, vượt xa tất cả mọi sự trên đời:
- Chúa là nguồn sức mạnh tôi
- Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn
- Chúa là mục tử chăn dắt tôi
- Chúa là khiên mộc che chở tôi
- Chúa là gia nghiệp đời tôi
- Chúa là Đấng Cứu Độ tôi
Nhưng tại sao tôi vẫn cứ khát khao điên cuồng, loay hoay mỏi mệt tìm kiếm những điểm tựa trên trần gian, để rồi cuối cùng thất vọng, chán chường và đau khổ khi chúng không như chúng ta mong đợi. Chính Thánh Augustine thành Hippo (13.11.354- 28.8.430) cũng thú nhận về sự lầm lạc của mình: “Chúa vốn ở trong con mà con lại ở ngoài con, và tìm Chúa ở bên ngoài” ( Tự Thuật 10, XXVII, 38); và rồi ngài đã phát thốt lên một câu nói vừa hạnh phúc vừa đầy vẻ nuối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng” (Tự Thuật 10, XXVII,38).
Ước mong sao mỗi người chúng ta cất lên lời tha thiết như những lời thơ của đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (6.5.1861 – 7.8.1941):
Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
nhờ thế Người là tất cả của tôi.
Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì,
nhờ thế tôi cảm thấy Người ở mọi nơi,
đến với Người trong mọi sự,
và dâng Người tình yêu trong mọi lúc.
Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
nhờ thế tôi không bao giờ muốn tránh gặp Người.
Chỉ mong mọi ràng buộc trong tôi chẳng còn gì,
nhờ đó tôi gắn bó với ý muốn của Người
và thực hiện ý Người trong suốt đời tôi.
(Lời Dâng 34)

Mã số VVYT 16-022
Nguyễn Duy Nghĩa, 9x, Hưng Hóa
(Giải khích lệ VVYT 2016)
Tình yêu thương luôn có những giá trị hết sức diệu kỳ, đủ sức làm thay đổi một con người, một số phận, nó khiến chúng ta cảm thấy muốn sống, muốn phục vụ hết mình. Nhưng khi bước vào cuộc sống bạn mới thật sự đặt chân lên cuộc hành trình tự khẳng định mình, tìm kiếm giá trị cuộc sống và ý nghĩa bản thân, bạn sẽ nhận ra rằng : “Tình yêu thương là hạnh phúc của con người”.
Tình yêu thương là tình cảm thiêng liêng và bất tử. Là mối dây nối liền tương quan giữa con người với Thiên Chúa, và giữa con người với nhau - một sợi dây vững chắc và bền chặt nhất trên trần gian mà không có loại dụng cụ nào có thể chia cắt được.

Không có trăm hoa đua nở sẽ khó có thể cảm nhận được hơi thở ấm áp của mùa xuân, không có tiếng cười thì khó có thể nhận được niềm vui của cuộc sống. Điều khiến người ta xúc động nhất đó là yêu thương. Nhờ tình thương yêu mà cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn: Tình yêu thương của gia đình, bạn bè,... Đó chính là những tình cảm bình dị, gần gũi, thân thương nhất qua sự quan tâm, chăm sóc và sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống.
Đôi khi đối với nhiều người, hạnh phúc bắt đầu từ những điều đơn giản nhất, là khi mỗi sớm mai thức dậy, thấy mình sống có ích trên cõi đời. Như Trịnh Công Sơn nói: “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm một ngày nữa để yêu thương”. Hạnh phúc có lẽ chỉ đơn giản và bình dị thế thôi! Nhưng sự thật là có một mối dây liên kết không thể tách rời giữa hạnh phúc và tình thương. Con người không thể sống hạnh phúc mà không có tình thương. Tình thương mang lại hạnh phúc cho người nhận nó, giúp họ có thể vượt qua mọi khó khăn và thử thách. Trong tập “Những người khốn khổ”, V. Huy-gô đã làm nổi bật lên ý nghĩa tình thương qua nhân vật Giăng-van-giăng nó giúp thay đổi số phận và cảm hóa con người. Giăng – van –giăng đã thay lời cho Huy-gô nói lên một triết lý: “Trong đời chỉ có một điều, ấy là yêu thương nhau”. Không chỉ người nhận, nó còn đem lại niềm vui và hạnh phúc cho những người đã trao ban.
Việc chia sẻ yêu thương cũng giống như việc ta cho đi, rồi chúng ta sẽ được nhận lại. Hẳn mọi người đều biết Mẹ Têrêsa Calltta, một nữ tu, người đã sáng lập Dòng Nữ Thừa Sai Bác Ái. Đó là một phụ nữ dáng thấp bé, lưng khòm, da nhăn nheo xấu xí của một bà già đã ngoài tám mươi, không một chút gì hấp dẫn. Nhưng mẹ được cả thế giới ngưỡng mộ vì có một tấm lòng cao cả, một trái tim vĩ đại đầy tình yêu thương và đôi tay giang rộng như muốn ôm hết mọi con người đau khổ trên thế gian.
Phúc cho những ai biết quên mình, sẵn sàng hy sinh mạng sống cho người khác, chia sẻ của cải cho họ, sẵn sàng đương đầu với những bách hại, mang trong mình những đau khổ của người khác, bởi vì Nước Trời là của họ.(x.Mt 5,3-12) Đó là tất cả sứ điệp của Chúa Giêsu đã được Mẹ Têrêsa Calltte áp dụng qua chính đời sống của mình. Mẹ đã đi khắp nơi rao truyền sứ điệp đó.
Thánh Phanxicô Assisi đã diễn lại sứ điệp của Chúa Giêsu thành lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin dạy con biết con, an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người, hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu, chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Con người chỉ tìm được ý nghĩa cho cuộc sống trong khi phục vụ và trao ban tình yêu thương cho người khác.
Nếu ta nghĩ vì quả tim không đủ lớn nên chỉ có chỗ cho vài người, cho một nhóm hay tệ hơn là chẳng đủ chỗ cho ai cả. Vì trái tim được sinh ra để gõ nhịp tình yêu, nên khi chối từ vai trò gõ nhịp trái tim sẽ ngừng đập. Sống mà không yêu, cuộc sống sẽ suy thoái và trở thành một cái chết triền hại. Tình yêu gắn liền với đời người, bởi đời sống ấy được tạo nên từ tình yêu. Nên ở bất cứ hoàn cảnh nào, ta không được quên cội nguồn của tình yêu. Tình yêu là một điều kì diệu: càng chia thì càng có, càng san sẻ càng thêm, càng phân phát càng gia tăng, càng trao ban thì càng nhận về nhiều. Nó như một loại vi trùng, có cơ hội là lan tràn, chiếm cứ, không giảm khi cho, không mất khi sẻ, không thiệt thòi khi chia. Tình yêu hoàn toàn đi ngược kiểu cách, mức thước đo thông thường.
Niềm vui, tình yêu thương và tinh thần phục vụ đang dệt nên một xã hội đầy hạnh phúc. Nhưng làm sao để ta có thể giữ những tia lửa luôn rực sáng trong tâm hồn mỗi người? Chính thánh Gioan Tông đồ đã nói: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16). Hãy đến kín múc từ Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu dồi dào không bao giờ vơi cạn.
Kết thúc dụ ngôn người Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu đã căn dặn: “Hãy đi và làm như vậy.” (Lc 10,37). Hãy ra đi và làm chứng cho Đức Kitô như là một sứ vụ dành cho hết mọi người. Vì ở đâu có tình yêu ở đó có niềm vui. Ước gì mỗi người chúng ta luôn nỗ lực đem hạt giống yêu thương gieo vào lòng mỗi con người để họ ý thức được sứ vụ của mình là sống để trao ban.

Mã số : VVYT 16-009
Trần Thùy Linh, sn 1998, tỉnh Phú Thọ (ngoại Đạo)
(Giải khuyến lệ VVYT 2016)

Tình yêu thương là thứ tình cảm thiêng liêng và cao cả tồn tại giữa con người với con người. Đó là sợi dây vô hình để kết nối, làm bền vững và gắn bó hơn giữa các cá nhân trong xã hội. Nó sẽ làm cuộc sống này sẽ trở nên tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Như mẹ Teresa từng nói:



"Trong cuộc sống của các bạn, của tôi, của mỗi người chúng ta, Chúa đã dựng nên cho chúng ta sự cao cả hơn. Người đã dựng nên ta để Yêu và để Được Yêu, để chúng ta cùng bước về nhà Thiên đàng..."
Tình yêu thương - Đó không phải thứ tình cảm quá xa vời hay vĩ đại, đơn giản đó chỉ là sự sẻ chia và quan tâm. Ngay từ khi sinh ra chúng ta đã được bao bọc trong sự yêu thương của mẹ cha, của gia đình, được lớn lên trong tình yêu thương của mọi người. Thật hạnh phúc biết bao khi chúng ta được đón nhận tình yêu thương từ người khác. Và còn gì hạnh phúc hơn khi ta biết sẻ chia nó cho bao người xung quanh mình. Như mẹ Têrêsa kể lại : " Cách cho thì quí hơn là của cho" . Sự sẻ chia tình yêu thương không chỉ được thể hiện qua giá trị vật chất mà bạn đem lại, mà cao quí hơn đó là những xúc cảm phát ra tự đáy tâm hồn biểu hiện của sự sẻ chia, thấu hiểu và đồng cảm. Những giọt nước mắt lăn trên gò má khi xem một bộ phim khiến ta xúc động, có khi đó là nỗi niềm trước những số phận bất hạnh của những mảnh đời éo le; một ánh mắt trìu mến cảm thông; một cái nắm tay siết chặt hay những hành động giản đơn,... chỉ như vậy thôi yêu thương cũng đã được chắp cánh.
Việc chia sẻ yêu thương cũng giống như việc chúng ta cho đi, rồi chúng ta sẽ được nhận lại. Là nhận lại những lời cảm ơn, những cái nhìn đầy biết ơn của những người được giúp đỡ. Trong xã hội luôn có những người kém may mắn hơn mình, chính vì vậy, họ cần đến sự giúp đỡ của cộng đồng, của xã hội. Vậy tại sao những người có đầy đủ hạnh phúc lại không thể giang tay giúp đỡ họ. Bằng tinh thần hay vật chất, sự giúp đỡ đó đơn giản là xuất phát từ cái tâm của chúng ta. Gặp một cụ già yếu ớt gánh hàng rong vào lúc xế chiều, có thể bạn đang vội vã về nhà nghỉ ngơi sau một ngày học tập và làm việc vất vả, nhưng nếu bạn dừng lại một chút, mua cho bà một món đồ, khi nghe được lời cảm ơn của cụ, có phải chúng ta sẽ thấy ý nghĩa và hạnh phúc hơn không?
Con người ngày nay luôn bận rộn trong công việc, luôn luôn phải chạy đua với thời gian, nhưng không vì thế mà tình yêu thương giữa người với người bị mất đi. Ở đâu đó vẫn còn rất nhiều tấm lòng chan chứa yêu thương luôn rộng mở. Có rất nhiều các bạn học sinh, sinh viên tham gia các chiến dịch " Mùa đông ấm - Phú Thọ- Hà Giang 2015 ", " Mùa hè xanh",... để giúp đỡ những người kém may mắn. Các bạn không quản khó khăn để mang manh áo ấm, mang con chữ đến cho các bạn vùng sâu, vùng xa. Hay những chương trình được tạo nên để giúp đỡ bao mảnh đời bất hạnh. Ví như " Trái tim cho em", " Cặp lá yêu thương" đã đi được đến 11 tỉnh thành trên cả nước, mang yêu thương giúp đỡ cho bao mảnh đời kém may mắn; hay chương trình " Lục lạc vàng - kết nối những miền quê", hơn 3 năm lên sóng chương trình đã mang đến cho hơn 1000 hộ nghèo trong cả nước những chú bò khỏe mạnh, và cũng ngần ấy mảnh đời, những câu chuyện nhân văn, sẻ chia, yêu thương được lan tỏa. Từ nguồn vốn ban đầu là những chú bò ấy, đã có rất nhiều những hộ gia đình thoát nghèo, phát triển nghề phụ, nuôi con ăn học,.. Không chỉ nguyên trong đất nước Việt Nam, tình yêu thương ấy còn lan tỏa khắp các nơi trên thế giới. Một cậu bé nghèo bị bệnh hở hàm ếch bẩm sinh, nhờ người mẹ của mình đăng video của cậu lên facebook, nhờ sự sẻ chia giúp đỡ của mọi người ở khắp mọi nơi, gia đình cậu đã có đủ số tiền để cho cậu làm phẫu thuật...
Mỗi người, mỗi ngày đều nhận được rất nhiều tình yêu thương của người khác. Và tình yêu thương cũng chính là nét văn hóa cần giữ gìn và phát huy. Tuy nhiên, bên cạnh những người biết vun đắp, biết đối nhân xử thế bằng tình yêu thương thì vẫn còn những người ích kỉ, nhỏ mọn, chỉ biết sống cho riêng mình. Họ làm ngơ trước những khó khăn của người khác, bỏ mặc cha mẹ mình khi về già,... Lối sống ích kỉ ấy là một hiện tượng cần lên án. Hãy thử tưởng tượng xem, nếu bạn sống trong một xã hội không ai quan tâm, không ai giúp đỡ, mỗi người một cuộc sống thì bạn cảm thấy như thế nào? Chắc chắn sẽ rất lạnh lẽo và cô đơn. Như một người từng nói : " Nơi lạnh nhất của Trái Đất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu tình thương.". Để thấy rằng cuộc sống này còn nhiều điều đáng trân trọng, còn nhiều người cần mình giúp đỡ, bạn hãy mở lòng ra và sẻ chia đi yêu thương, bạn sẽ nhận lại được hạnh phúc trong tâm hồn." Chúng ta cần phải có tình yêu thương và đôi mắt nhân hậu để khám phá ra những hạt giống tốt đã được gieo rắc trong tâm hồn họ và giúp cho những hạt giống ấy phát triển thêm nhờ vào cách đối xử nhân từ của chúng ta đối với họ".
Ngày nay, sống trong xã hội phát triển và văn minh hơn, thì tình yêu thương lại càng phải được đề cao và trân trọng hơn nữa. Nhất là những người trẻ chúng ta thì tình yêu thương luôn luôn là điều cần thiết. Nhận lại và cho đi, sống cho bản thân và sống cho người khác. Đó là điều mà chúng ta cần nhận ra và ý thức về trách nhiệm sống của mình.
Cuộc đời này là tập hợp của những số phận may mắn và bất hạnh. Những số phận may mắn cần giúp đỡ những số phận bất hạnh vượt qua những khó khăn của cuộc đời. " Trên thế gian này, không có vị thần nào đẹp hơn vị thần mặt trời, và không có ngọn lửa nào đẹp hơn ngọn lửa yêu thương ". Và " Nếu có ngày tôi làm Thánh, tôi sẽ là vị Thánh của đêm đen. Tôi sẽ thường xuyên vắng mặt trên Thiên Đàng để đi chiếu sáng cho những kẻ sống trong tối tăm dưới trần gian...". ( Lời mẹ Thánh Teresa Calcutta). Chúng ta hãy mở rộng cánh cửa trái tim mình, mang tình yêu thương đến tất cả mọi người. " Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời, đâu có lòng bác ái, thì Chúa chúc lành muôn nơi, đâu ý hợp tâm đầu, ở đấy chứa chan nguồn vui!". Hãy sống sao để mỗi ngày mới bắt đầu luôn là một ngày tuyệt vời!

Mã số: VVYT 16-014
Anna Lã Thị Lê, 1993, gp Hưng Hóa
(Giải triển vọng VVYT 2016)

- Cháu học trường nào?
(Người đàn ông đi cùng chuyến bay hỏi Linh).
- Dạ cháu học trường SP Tp.Hồ Chí Minh ạ. (Linh đáp lại)
- À vậy hả! Thế là ở Q.5 ?
- Dạ! cơ sở chính thì trên đó nhưng cháu học ở chi nhánh bên Q.9.
- Hay quá ! Chú dạy ngay bên Q.Thủ Đức đó!
- Vậy chú là thầy giáo? Hì hì…Thế chú dạy môn gì ạ?
- Chú là Giảng viên trường Trường cảnh sát.
- Ồ! Vậy ạ!
- Cháu tên gì ? Quê ở đâu?
Lúc này Linh cũng đã bớt ngại ngùng, cô sinh viên trẻ vui vẻ chuyện trò với “người bạn” mới quen.
- Dạ ! Cháu tên Linh ạ! Cháu sinh ra và lớn lên ở Yên Bái.
- Vậy ta là đồng hương rồi…
Thế là trong hai tiếng đồng hồ ngồi trên máy bay Linh và chú Hùng đã trò chuyện chia sẻ thật thật nhiều…

Kết thúc chuyến bay, nhưng lòng người vẫn còn đó biết bao vương vấn. Lời chú Hùng và Linh chào tạm biệt không phải là lời hứa hẹn cho một cuộc gặp gỡ, không phải là cái bắt tay xã giao hay trao tặng thông thường. Nhưng như một điều nguyện ước xen cùng bao tiếc nuối:
“Người tuôn nước mắt _ Trời tuôn mưa
Lệ tràn xao xuyến _ Cầu bình an!...”
Trở về với cuộc sống thường ngày. Linh cứ khắc khoải mãi về quan điểm sống của người chú tên Hùng mà Linh quen biết trên chuyến đi.
Phải làm sao để quan điểm đó được thay đổi đây? Trình độ học vấn của mình quá hạn hẹp so với tài hùng biện và giảng dạy của chú? Việc làm là phương pháp hiệu quả nhất để chứng minh cho chú thấy niềm tin của mình, nhưng mình có sống cùng chú đâu, thì sao mình có thể truyền sang hay cảm hóa chú được?
Không thể liên lạc với chú bằng ngôn ngữ đời thường, Linh chỉ biết dâng lên Chúa bằng những lời cầu xin đơn sơ, chân thành và đầy niềm khát khao…
Hai năm trôi qua, Linh nhận được một lá thư ngoài Hà Nội gửi vào.
Điều mà Linh chẳng bao giờ mơ tưởng đến thì đã đến với Linh. Đó là lá thư của chú Hùng, người mà Linh luôn trăn trở; người mà Linh hằng dâng lên Chúa mỗi ngày; người mà Linh đã không còn liên lạc trong hai năm; người mà Linh đã thắc mắc, ước ao trở về…
Dù chưa là tất cả nhưng với quá khứ từ “con số không” so với giờ đây thì quả là một ơn thiêng nhiệm lạ rồi.
Bởi từ trước tới nay, Linh được biết, nhiều người mang trong mình tư tưởng về chính trị thì thật khó mà thay đổi được. Chú Hùng cũng không phải là ngoại lệ, tiếp xúc, rồi giảng dạy bao năm trên giảng đường trong tâm trí của chú không còn chỗ cho niềm tin vào Thiên Chúa nữa, mà thay vào đó là niềm tin vào Đảng, vào cách mạng…
Vậy mà!
“ Cháu mến”!
Cảm ơn cháu thật nhiều. Chú xin lỗi vì giờ này mới liên lạc cho cháu.
Cháu à! Chú đã có trong tay mọi thứ: Tiền bạc – danh vọng – tình yêu. Nhưng sao lòng chú vẫn trống trải, vẫn thiếu vắng điều gì đó? Và khi tâm trạng chú sầu đạm, chú chẳng thiết tha gì nữa, chú tìm góc lặng và lục lọi lại những kỷ niệm, bỗng lời cháu năm xưa ùa về cùng với khuôn mặt vui tươi, hồn nhiên, trong sáng, nhất là rất chân thành hiện lên… Chú đã tìm thấy bình an, dù giờ đây công việc của chú cũng khá dày, nhưng chú đã dễ dàng sắp xếp, để có thời gian lặng mình lại, để có giây phút trò chuyện cùng anh bạn Giêsu, người mà xưa kia chú đã bỏ bê, đã xếp vào trong góc khuất của tâm hồn, những khi đó tâm hồn chú thảnh thơi và nhẹ nhàng hơn rất nhiều…
Cảm xúc trong Linh trào dâng và thay đổi liên hồi từ hoài nghi sang ngỡ ngàng và sau thì Linh không ngăn nổi đôi dòng lệ giữa đêm thâu. Tuy đã khuya nhưng Linh không có một chút cảm giác của bóng tối lo sợ.
Linh bước vào Thánh Đường, rồi thầm thì với Chúa: “ Chúa ơi! Con nào có làm được gì cho Ngài đâu? Bao nhiêu năm tháng qua, con cũng lao vào với công việc, học tập mà dường như quên Chúa, chỉ khi nào tranh thủ chút ít thời gian, hoặc lúc rảnh rỗi hay khi đau khổ nhất con mới đến trút giận “ xả rác” lên Người”.
Ngước nhìn lên bầu trời đầy sao, có nhiều vì sao lấp lánh chiếu soi gian trần. Linh thốt lên: “Con sẽ yêu Người thật nhiều để bù cho những “đêm đen” quá khứ. Vì con tin : “ Sẽ chẳng có gì là muộn màng cả!”.

Mã số: VVYT 16-006

Anna Lã Thị Lê, 1993, gp Hưng Hóa

(Giải khích lệ VVYT 2016)

Như ngàn cây nhỏ mong cao lớn
Vươn tới trời xanh chạm sương mai
Ngày thêm tươi tốt trĩu sai
Nặng bao quả mới nhánh dài kết se.

Như bờ tre bao năm xanh biếc
Tuy mỏng manh nhưng Chúa đã dùng
Niềm tin rực lửa bập bùng
Yêu người nhớ núi chập chùng thiết tha.

Như bài ca năm xưa Mẹ đã
Trao cho con say giấc trưa hè
Bên con Mẹ dạy lặng nghe
Âm thanh cuộc sống chữ se giục lòng.

Như niềm mong Người thổi sức sống
Sống vị tha- bác ái- chan hòa
Bởi đời như gió thoảng qua
Cơn mưa sẽ tạnh, cánh hoa sẽ tàn.

Nhưng chia san tình yêu vĩnh cửu
Mãi trong nhau giây phút thuộc về
Nhớ người xin gọi Hương Quê
Hồn ta sẽ được thỏa thuê bên Người.

Mẹ Têrêsa gương đường con bước
Ánh đức tin xin mãi đồng hành
Ngàn đời ca ngợi chúc danh
Vang câu cảm tạ Chúa dành thế nhân.

Mã số VVYT 16-029

Phêrô Đồng Quang Đạt, sn 1993, gp Hưng Hóa

(Giải khích lệ VVYT 2016)


Đồng sinh ra trong một gia đình nghèo. Tuy nhiên, gia đình em sống rất đầm ấm và hạnh phúc. Hàng xóm láng giềng ai cũng tấm tắc khen gia đình em sống đạo đức. Gia đình em có được điều đó phần lớn là do có được từ nên tảng của đạo Công Giáo. Đồng là người con thứ ba trong gia đình-gia đình em có bốn anh em đều là con trai. Cuộc sống của em từ nhỏ cho tới lớn luôn là những cảm xúc vui buồn đan xen với nhau.

Gia đình đông con nên cuộc sống rất vất vả. Cha của em lại không được may mắn khi hồi nhỏ đi chăn trâu đã đóng cọc vào một trái lựu đạn. Vì vậy mà cha của em từ đó chỉ còn sáu ngón tay trên hai bàn tay. Mẹ em là một người vợ, một người mẹ rất đảm đang và hiền hậu. Sau mỗi bữa ăn tối, cha mẹ em lại ngồi chia sẻ với các con về cuộc sống. Chính vì thế mà cả gia đình rất hiểu nhau và có được tiếng nói chung để cùng nhau vươn lên trong cuộc sống. Trở lại với Đồng, những ngày tháng đầu tiên đi học của em đã gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Như lẽ thường tình, năm em lên sáu tuổi, em bắt đầu bước vào lớp một. Niềm vui, niềm sung sướng được tung tăng cặp sách tới trường cùng các bạn chưa được bao lâu, vẻn vẹn chưa đầy hai tháng thì em đã phải chia tay mái trường, chia tay thầy cô, chia tay bạn bè để trở về với gia đình để phụ giúp cha mẹ việc nhà và trông nom người em út. Vì khi đó em út còn quá nhỏ, mẹ em thì tất bật với cuộc sống mưu sinh-hàng ngày mẹ em phải vào trong rừng lấy măng từ sáng tới tối mới về. Còn cha em thì ngày ngày đi đốn tre, mua tre rồi lại bán buôn cho người ta, có khi phải đạp xe đạp cùng với hai bên hông xe là những cây tre giao hàng cho người ta cả mười mấy cây số. Đồng nghỉ học, Đồng rất buồn, nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên Đồng cam chịu và vì Đồng rất thương cha mẹ em. Hàng ngày, Đồng ẵm em ra cổng nhìn theo các bạn cắp sách tới trường, mỗi lần như vậy là nước mắt em lại rơi xuống. Đồng mong mỏi cái ngày được đi học trở lại. Và rồi cái ngày mong đợi đó cũng đến. Một năm sau, khi gia đình đã bớt vất vả hơn, mẹ em không còn đi rừng lấy măng nữa. Cha em cũng không còn đi buôn tre nữa. Cả gia đình đều ở nhà tập trung chăn nuôi và cha em làm thêm nghề sửa xe đạp, và điều quan trọng hơn là em lại được cắp sách đến trường. Ở lớp, Đồng luôn được thầy cô giáo khen vì tinh thần học tập, đạo đức và em luôn có mặt trong nhóm dẫn đầu của lớp về học tập. Điều đó trở thành niềm vui cho cả gia đình.

Khi em bắt đầu bước vào cấp II, tức là lớp sáu, thì trong lớp đã bắt đầu có sự kỳ thị với em, vì em là dân tộc thiểu số. Em sinh ra trong một gia đình dân tộc Mường. Từ nhỏ em đã theo học các trường của người Kinh. Mỗi khi em đi đường mọi người lại nhìn em và cười khinh chê. Khi em đến lớp thì được một số bạn hồn nhiên đặt cho cái tên theo kèm mà em chưa bao giờ nghĩ và có cái tên đó là “ Đồng tọoc” hay “ Đồng rừng” hay nữa là “ Đồng mọi” và chơi những trò gì cũng không cho em chơi cùng. Những lúc đó cảm giác của em thật tê tái và buồn bã. Cũng những lúc đó, em cũng được đón nhận sự đồng cảm của các bạn có thể nói là tốt lành trong lớp đến ai ủi và động viên. Nhờ đó cũng giúp em phần nào giảm đi được sự buồn bã trong lòng. Em luôn mang theo tâm trạng đó trên khắp quãng đường từ trường về tới nhà. Em nghĩ rằng mình dân tộc Mường thì có gì sai? Sao các bạn lại đối xử với em như vậy? Có những lần cha mẹ em thấy em ngồi ăn cơm mà không được vui vẻ nên hỏi.
“Đồng có chuyện gì hay sao mà có vẻ buồn vậy con?”
Vì không muốn để cho cha mẹ biết và lo cha mẹ sẽ thêm phiền lòng, em liền trả lời.
“ Con không sao bố mẹ ạ. Chắc là do con đi đường nắng nên vậy đó ạ”
Thời gian cứ thế trôi. Bốn năm học cấp II em vẫn chìm trong tình trạng đó. Nhưng em không nản trí mà có thêm động lực để học tập. Em vẫn còn nhớ nhất năm lớp chín. Hồi đó trong lớp đang dậy lên phong trao dán tem vào sách, vở, có khi cả vào tay và mặt nữa. Khi đó em được cô giáo dạy môn Văn gọi lên bảng, cũng là cô giáo chủ nhiệm. Em hăng hái lên bảng mà không biết rằng trên chán em vẫn còn hình dán, và cô giáo đã tặng một câu mà em nghĩ nó sẽ theo em suốt cả cuộc đời “ Cậu đã tọoc rồi lại còn muốn gì nữa”. Ôi cái cảm giác đó thật khó diễn tả được. Em đi về chỗ ngồi mà hai dòng nước mắt bắt đầu nhỏ xuống. Các bạn nhìn theo với đủ loại ánh mắt. Em hi vọng có ngày cô sẽ nói lời xin lỗi em, nhưng mà em vẫn chưa bao giờ nhận được. Nhưng em cũng không trách móc gì cô và đã tha thứ cho cô, vì em nhớ lại những lời Chúa dạy

“ Tha kẻ dễ ta, nhịn kẻ mất lòng ta”. Năm đó, cũng là năm đầu tiên em không đạt học sinh tiên tiến mặc dù điểm trung bình môn thì cao. Cha mẹ em buồn lắm và em cũng vậy. Thời gian cứ vậy trôi qua, nỗi buồn của em vẫn còn đó. Tưởng rằng khi lên cấp III mọi chuyện sẽ khác, nhưng đến khi em bước vào cấp III e vẫn còn được phong thêm những biệt danh khác nữa “ Đồng tazan”. Mỗi lần đi học về, khi đi qua là các bạn lại nhìn em và cười nói rằng “ Ê, Đồng tazan! Sao phải đi xe đạp làm gì cho mệt, bỏ đấy trèo lên dây điện mà đu về rừng” Các bạn không biết khi trêu em như vậy, các bạn có để ý đến tâm trạng của em không. Mỗi lần như vậy là mỗi lần em lại khóc thêm trong lòng một chút và cộng lại nhiều lần sẽ thành nỗi đau sâu thẳm. Có lẽ mọi người cũng phần nào nhận ra nên dần dần không còn ai trêu em nữa.

Một kỷ niệm khác nữa. Gia đình em là gia đình theo đạo Công Giáo. Các bạn học cũng lấy đó làm khoái trí để trêu đùa. Chắc hẳn ai cũng biết trong ngày lễ Giáng Sinh tại các nhà thờ, mọi nhà đều làm hang đá Noel và đặt tượng Chúa Giêsu bên trong. Các tượng ảnh của Chúa trong bề ngoài như có vẻ trần truồng và có lẽ là một phần nào đó cũng vần nên các bạn gặp em lại tặng em câu thơ “Chúa Giêsu nằm trong hang đá thò… ra ngoài” em vừa bực bội, vừa thấy mình bị xúc phạm. Em đã cố gắng giải thích mà các bạn đó nào đâu có hiểu. Em cố nén lòng lại vì nếu phản ứng mạnh thì sẽ làm mất hòa khí và không đúng với những gì Chúa dạy.

Ở giáo họ, em là một cậu giúp lễ lâu năm. Trong giáo họ chỉ có mình em giúp lễ mà không còn ai khác. Vì thấy em ngoan ngoãn, lại được mọi người trong họ khen là học tốt nên cha xứ đã gợi ý cho em đi “Tu”. Em lấy đó làm phấn khởi lắm. Em thích đi tu để làm linh mục, để được mặc áo đẹp, được mọi người kính trọng. Ôi! Động lực ban đầu thật hồn nhiên và trong sáng, đơn sơ và giản dị. Nhưng em đâu biết rằng con đường đó rất khó và gian nan. Vào các dịp hè em đều về nhà xứ để ở với cha xứ để có thể học tập thêm và tìm hiểu rõ hơn về đời tu. Và cái ngày em quyết định xin gia đình cho em nhập tu, cha mẹ em vì thương con nên ban đầu ngăn cản. Em vẫn quyết tâm. Em nhờ cha xứ gặp cha mẹ em nói giùm em, và cuối cùng cha mẹ cũng đồng ý. Em vui sướng. Em bắt đầu làm hồ sơ, và đúng cái ngày 23 tháng 8 năm 2011 em đã chính thức trở thành một tu sinh của giáo phận. Đi đâu cũng được gọi bằng chú. Nhưng cũng cái ngày đó mà mẹ em đã khóc suốt cả ngày vì thương con. Cũng trong năm 2011 đó, em thi đại học nhưng thật không may là em không đủ điểm và em quyết định đi học ba năm hệ cao đẳng. Ba năm đó là khoảng thời gian thử thách đời tu của em. Em bắt đầu sống xa gia đình để đến với môi trường xã hội đầy hỗn loạn. Quả thật đã có khi em tưởng rằng con đường tu của mình đã chấm hết. Em đã nhiều khi đua theo bạn bè, tham gia các bữa nhậu, chơi games… chính vì thế đời tu của em bị đe dọa. Cũng may cho em khi gặp những khó khăn thử thách đó lại có những người bạn tốt trợ giúp em, để giúp em trở lại đúng quỹ đạo của mình. Đó là thầy đồng hành, cha linh hướng và những anh em đồng chí hướng. Mọi người đã giúp em nhận ra rằng mình đang đi sai hướng và nếu tiếp tục em sẽ dễ rơi vào sự sa ngã. Cha linh hướng- người cha thiêng liêng là người luôn theo bước chân của em. Khi em sa ngã ngài dịu dàng nâng đỡ. Ngài phân tích và định hướng cho em, nhờ đó em đã tìm lại được chính mình. Thầy đồng hành cũng vậy. Còn các bạn đồng chí hướng của em-đó là những người đã cùng chung sống với em, cùng ăn cùng uống cùng mọi sinh hoạt. Em và mọi người thường hay chia sẻ với nhau về đời tu và những gì khó khăn trong đời sống và học tập. Khi em vấp ngã, khi em không còn là chính mình, các bạn cũng không bỏ rơi em mà ngược lại, mọi người lại giúp em vượt qua khó khăn đó bằng những lời động viên và những lời cầu nguyện chân thành. Thời gian ba năm thấm thoát trôi qua. Năm 2014 em đã tốt nghiệp cao đẳng và năm đó em cũng tham gia kì thi vào Tiểu Chủng Viện. Kết quả em đã được nhận vào lớp Tiểu Chủng Viện năm đó. Trải qua hai năm học tại Tiểu Chủng Viện, hai năm đầy những niềm vui, đầy cảm xúc. Và niềm vui của em càng lớn hơn khi em được Bề trên giáo phận gửi em đi học Đại Chủng Viện. Ai ai cũng vui mừng. Đối với em đó là hồng ân cao cả của Chúa dành cho em. Và ngày 2 tháng 9 năm 2016 em đã một lần nữa chia tay mọi người thân để bước vào hành trang mới-hành trang của ngôi nhà chủng viện. Và cũng như thường lệ, mẹ em lại khóc thêm lần nữa khi tiễn em lên đường. Giọt nước mắt hạnh phúc cùng với sự lo lắng dành cho con.Giờ đây em đã trở thành một chủng sinh, và cũng từ giai đoạn này em phải quyết tâm nhiều hơn để học tập và rèn luyện. Còn cả chín năm nữa chờ đợi em phía trước. Chúc em luôn giữ vững được niềm tin và bền chí tới cùng.

Con người ai cũng trải qua gian khổ và thử thách mới đến được vinh quang. Đồng đã trải qua cuộc sống hoàn cảnh gia đình, sự kì thị của bạn bè để quyết tâm học tập. Cho đến ngày hôm nay, nhìn lại con đường đó chắc hẳn em cũng phần nào thành công, cho dù con đường của em còn rất dài và nhiều thử thách. Và cho đến giờ phút này, Đồng càng thêm yêu hai tiếng dân tộc và cái biệt danh “Đồng Tazan” biết chừng nào.

Mã số VVYT 16-028
Giuse Nguyễn Ngọc Bích, 1991, gp Hưng Hóa
(Giải nhất VVYT 2016)

(Tranh Mẹ Têrêsa Calcutta của họa sĩ, nhà điêu khắc Hevzi Nuhiu)



Đám học sinh tụm lại thành một vòng tròn, đông nghẹt. Chúng đang đùa nghịch gì đó mà tràng cười cứ phá lên ngặt nghẽo, khoái chí, liên hồi. Tò mò, em tới xem… Một gã đàn ông đầu bù xù, tóc dài rũ rượi, râu ria lởm chởm, tua tủa mọc quanh miệng, hàm răng gã vàng úa đầy bựa nham nhở… Bọn trẻ con đang vây quanh, rình rình lùa ra phía sau gã, tụt cái quần rách bươm của gã xuống tận kheo. Gã ngồi bệt xuống, cố kéo chiếc quần khốn khổ lên, miệng cười hề hề… Đám trẻ con lại cười bung lên, sung sướng. Em cất giọng đằng hắng, đám học sinh thấy thầy tới thì im bặt. Em nhẹ nói các em về lớp, chủng thủng thẳng bước đi, đầu đứa nào đứa nấy cứ ngoái lại nhìn gã, rõ là còn chưa muốn rời cái trò chơi thú vị này. Gã đứng lặng trước ánh nhìn của em, rồi tẩn ngẩn tần ngần chỉnh lại cái quần... Gã cúi xuống nhặt đôi dép tổ ong cũ bẩn, đứt mất cả hai mũi từ bao giờ. Gã xỏ một chân vào dép, rồi nhặt chiếc còn lại đưa lên miệng cặp lại, bỏ đi… Mái tóc rũ rượi, cái áo cáu bẩn, rách tả tơi của gã xoáy vào đầu óc em: một gã điên!
Trở về lớp học, em hỏi han về gã, rồi nhắc các học sinh của mình không được trêu chọc những người xấu số mắc bệnh điên, tội nghiệp họ. Đám trẻ ngồi im…
Em là sinh viên Công giáo, đang trong đợt đi tình nguyện Mùa hè xanh. Lần đầu em đến với xóm làng xa xôi này, lạ lẫm…
Tan giờ học, em lần mò tới túp lều nơi gã điên vẫn ở. Thấy em, gã lạnh lùng định bỏ đi, nhưng em đã mau miệng chào hỏi… Gã ngồi, chân để xõng xoài trên nền đất, cầm cái bánh em cho, nhét luôn cả vỏ nilon vào miệng, ngấu nghiến. Em phải moi ra, bóc cho gã… Gã cười hề hề… Vô tư!
Em ngó vào bên trong, mảnh chiếu đã nát bở từ năm nào, đầy đất đỏ bám chặt. Cái chăn nát nhèm, đen đen vàng vàng, chỗ sờn, chỗ rách…chả phân biệt được đâu là màu vải, đâu là màu đất…! Cái bát sứt một miếng to nằm chỏng chơ bên cạnh đôi đũa trông như hai cái que cuối tấm phản, vết cơm nguội còn dính khô từ hồi nào… Cả căn lều bốc lên một mùi hôi hôi, khăm khắm, thum thủm, tanh tanh,…tới buồn nôn!
Gã cứ ngồi đó, cái đầu nghênh nghênh hết nhìn đất lại nhìn trời, mặc kệ những câu hỏi em đặt ra, gã cứ “Ớ…ơ….ứ…ạ…hề..hề…hà…hà…” Em đi khỏi, mặt gã quay đi, cúi gằm, tủi hờn, oán ghét!
Hình ảnh mập mờ mười năm trước hiện về trong cái não điên điên của gã, không biết đâu là thật, đâu là điên… Hôm đó, gã đưa người yêu của gã đi tập bơi trên con sông ngoài làng gã. Trưa mùa hè nóng bức, con sông vắng ngắt không bóng người. Hai đứa tung tăng lùa đàn trâu xuống sông đằm. Hai ánh mắt chứa chan tình yêu cứ liếc nhìn nhau hạnh phúc… Gã vừa tốt nghiệp đại học với tấm bằng loại ưu, hết hè này, chờ gã xin được việc trên tỉnh thì sẽ về xin cưới người gã yêu. Hai gia đình ưng lắm: chúng đẹp đôi! Gã bế người yêu xuống nước, cố bé sợ hãi ôm chặp lấy gã, cười thích thú… Gã bơi giỏi nhất làng này, ai không biết! Gã tập cho người yêu nhiều buổi rồi, người yêu của gã sắp bơi được rồi đấy! Nhìn những con trâu đang lủng lẳng vẫy đôi tai đằm mình hiền lành giữa sông, gã nghĩ ra một trò vui thú. Gã kéo con trâu đầu đàn hiền lành nhất vào bờ, rồi cho người yêu gã ngồi lên lưng rồi kéo ra giữa sông… Hai đứa thích thú đưa tay đập xuống mặt sông, nước bắn tóe tung… Chán, chúng lại bốc nước ném lên trời, ngắm hạt nước long lanh rơi xuống, khoái chí… Bỗng con trâu rùng mình, chồm mình lên, phóng vèo vào bờ, cả bầy trâu nháo nhác lao theo… Hai đứa bị hất tung xuống dòng sông sâu hoắm. Người yêu gã thét lên hãi hùng… Gã với tay nắm lấy người yêu… Bỗng gã cảm thấy đau nhói ở cẳng chân: có con trâu nào đó phóng đi vội vàng đã đạp vào chân gã. Gã thấy đuối, không sao đạp chân được. Gã đang cố vùng vẫy thì người yêu gã chồm lên, hai tay gí đầu gã xuống nước liên hồi… Hoảng hồn, gã không biết phải làm gì nữa… Thấy gã bị chìm sâu, không bám được nữa, người yêu gã buông tay, dòng nước đưa người yêu gã trôi. Cố gắng lắm gã mới ngoi lên được mặt nước, cảnh tượng người yêu gã đang vùng vẫy, ngoi lên ngụp xuống, đôi mắt thất thần…rồi chìm nghỉm cứ thế đập vào mắt gã, bất lực! Gã hối hả dồn hết sức bình sinh lao theo dòng nước, nhưng cái chân đau khiến gã bị chấp chới giữa giòng, phải khó khăn lắm hắn mới bám được vào nhánh cỏ bên bờ. Tiếng thét gào kêu cứu của hắn cứ vang lên, nhưng nào ai nghe…!
Người ta vớt được xác người yêu gã ở khúc quanh gần đó, trương phềnh, trắng bệch… Thế là cả thiên hạ túm vào chửi rủa gã, đay nghiến gã, kết tội gã là kẻ giết người. Gã đau đớn mãi, cứ tự hỏi sao người chết không phải là gã… Rồi gã sợ gặp người, ngày ngày co rúm trong xó nhà. Nhưng ở nhà cũng không yên, bố mẹ gã ra một tiếng, vào một tiếng… Gã mò đến nhà thờ, mấy bà đạo đức qua lại nói móc, nói mỉa, chỉ trỏ… Gã chẳng biết đi đâu…
Rồi một sáng nọ, gã xuất hiện giữa làng, cười cười nói nói, xé áo tả tơi, tụt quần vắt lên cổ, tung tăng… Gã hiên ngang bước, thi thoảng nán lại bên một tán cây ven đường, bẻ một cành, đưa lên miệng, nhai nhai, nhá nhá… Thiên hạ gọi hắn: thằng điên!
Thế là gã thoát, không phải nghe người ta đay nghiến nữa. Nhưng, lúc đêm về, khi chỉ còn một mình, gã bật khóc, ấm ức, dơ tay đấm vào tường, đấm xuống đất, hận đời, hận người, hận chính bản thân gã… Gã muốn mình thật sự là một thằng điên! Cứ thế, gã sống lay lắt bấy lâu, dần dà cũng quen: “Mặc kệ! Tao cóc cần!”
Em vẫn đều đều tới thăm gã. Bát nước, bát canh, con cá, miếng thịt…em vẫn để dành mang tới cho gã. Em xin gã cho cắt tóc, giặt cái chăn, thay cái chiếu, rửa cái tấm phản đã chục năm đè đất… Từ ngày gặp em, gã thấy sượng. Gã chẳng nói gì, cứ lầm lầm lì lì, bảo gì gã cũng ngồi im, nhìn xa xăm, hờ hững!
Gã ngồi khoanh chân, ngoan ngoãn cho em cắt tóc, nhưng khi em định cạo râu thì gã quay đi, đứng phắt dậy, em hiểu ý nên thôi. Hôm sau, em tặng gã một bộ quần áo, một đôi dép, một bộ dao cạo râu. Gã nhận lấy, quấn lại, nhét lên mái lều, mặt lạnh tanh. Gã lại ngồi thừ cho em bấm những móng tay, móng chân đã thuộc diện…có tuổi, đen cùi cũi, sần sùi… Em tặng gã một chiếc gương với một chiếc lược nhỏ có khắc dòng chữ “Mến tặng anh Hoàng”. Gã giật mình, nhưng vội nén cơn xúc động của mình bằng tràng cười hề hề quen thuộc. Tên của gã! Sao em lại biết? Đã quá nhiều năm nay, giờ gã mới đọc được tên mình, gã tưởng cái tên đó đã biến mất rồi, gã tưởng tên của gã đã là “Thằng Điên”! Giọt nước mắt khẽ ứa ra khóe mắt, gã vùng dậy, nhảy nhót lung tung, cốt để em thấy rằng gã điên, và cũng để giấu vội giọt nước mắt đang chảy dài trên khuôn mặt đầy râu ria của gã. Gã hét, gã hò, gã cười…để che giấu cục nghẹn đang tắc ứ nơi cửa họng. Thật sự, gã muốn khóc!
Kỳ tình nguyện đã mãn, em xin được ở lại thêm vài ngày, dành thời gian sửa lại căn lều cho gã. Em treo trên bức vách những tờ lịch mới toanh: phong cảnh, thơ, ảnh Chúa, ảnh Mẹ… Em kê chiếc phản lên cao, móc bốn chiếc đinh để treo màn… Lúc em đang cố nhướn người để treo ảnh Thánh Giá nhỏ lên một nơi cao nhất của túp lều, em bất ngờ thấy gã đứng khom lưng, ra hiệu cho em đứng lên vai gã… Em sung sướng vô cùng, em vui sướng nhìn gã khiến gã bối rối quay đi vụng về, giọt nước mắt em rơi, ít ra gã cũng còn một chút người!
Ngày chia tay, em nói nhiều điều với gã lắm, nói về cuộc đời em, nói về những khó khăn em đã trải qua cũng như đang phải đối diện, nói về niềm tin của em vào một Thiên Chúa luôn yêu thương và quan phòng, dù là đôi khi con người chỉ nhìn thấy đó như là những hình phạt, những bất hạnh! Gã không nói gì, cứ đưa tay lên miệng mút mút, thi thoảng lại chấm nước miếng đưa lên khóe mắt. Nước mắt gã đã rơi từ lúc nào! Gã muốn nói một lời cảm ơn, nhưng cổ họng gã nghẹn ứ, đôi mắt rưng rưng… Lúc em đi, gã đứng trước lều, hụt hẫng, não nề, rồi chợt dơ tay lên cao, vẫy vẫy ngượng ngùng… Gã muốn nói, nhưng cái đầu gã cản lại: “Bấy lâu nay mày có mở miệng nói gì đâu. Mày là thằng điên cơ mà!”
Tối đó, dưới ánh sáng chợp chờn của ngọn nến em tặng, gã soi mình trong gương. Lâu lắm rồi gã mới thấy mặt gã, gã thấy xa lạ vô cùng! Gã nghĩ tới em, gã nghĩ tới người yêu của gã, gã nghĩ tới đời và gã nghĩ về chính gã. Những hành động đầy yêu thương của em đã làm xáo trộn cuộc đời tưởng như đã an phận, bình lặng, buông xuôi của gã. Tình thương, sự quan tâm rất người mà em dành cho gã đã như lưỡi kiếm chém tan cuộc sống mà chính gã đã dựng lên để đối chọi với cuộc đời tàn nhẫn. Gã thấy mình được yêu thương, yêu thương thực sự chứ không phải sự thương hại. Gã nhớ cái bắt tay rất đàn ông mà em dành cho gã. Gã thấy trong em gã là người! Gã lục tìm bộ dao cạo râu em tặng, gã với bộ quần áo, đôi dép trên nóc lều… Người ta đã giết gã, hay gã đã tự giết mình bấy lâu?! Có lẽ tới lúc gã phải tự mình hồi sinh rồi. Chẳng lẽ tình thương em dành cho gã là vô ích?! Không, tình thương đó lớn hơn gấp vạn cái cay nghiệt của kiếp người này, lớn hơn cả tội lỗi quá khứ, cả sự đau đớn trong tâm hồn gã, lớn hơn cả thứ khốn nạn mà người đời đã dành cho gã…!
Bình minh le lói chiếu qua căn lều xiêu vẹo. Ánh sáng hôm nay dường như đang phát ra từ bên trong, thứ ánh sáng lạ lạ, mạnh mẽ, tinh khôi, ánh vàng…
Em cứ bước đi thản nhiên trên dòng đời. Biết đâu rằng những hành động yêu thương được tuốn ra từ con tim đầy chất người nơi em đang cứu sống, đang chữa lành, đang làm hồi sinh một cuộc đời! Có biết đâu trong cõi nhân gian, hôm nay, một sinh linh mới được tái hồi, một niềm tin được thắp sáng! Hãy cứ tiếp tục yêu thương, vì đời cần lắm những tấm lòng, những hành vi nhân ái, để con người là người hơn, để cuộc đời đáng sống hơn, để nhân loại gần nhau hơn, em nhé! Dẫu là cuộc đời cay nghiệt, dẫu là oan khiên chờ đón, thì những yêu thương hãy cứ âm thầm, lặng lẽ nhưng hiên ngang, mạnh mẽ…vì vẫn luôn có đó, những yêu thương không ngờ!

Mã số VVYT 16-030
Têrêsa Nguyễn Phương Thảo
(Giải nhì VVYT 2016)


PHẦN 3
Tôi gặp lại K.T. tại miền Nam Cali vào một ngày cuối năm, trong bầu khí mát mẻ, rộn ràng của Mùa Giáng Sinh và Năm Mới. Bạn tôi vẫn như thưở xưa, luôn phục sức giản dị, và không trang điểm cầu kỳ. Tuy thế, trong mắt tôi, nàng vẫn khả ái và yêu kiều như ngày nào dưới cùng một mái trường. Chúng tôi vui mừng tíu tít hỏi han nhau, thôi thì trăm thứ chuyện, từ trên trời xuống tới dưới đất. Và một lần nữa, nàng đã khiến tôi phải kinh ngạc trước những chia sẻ đơn sơ nhưng vô cùng thâm thúy của nàng.
K.T. hiện làm chủ một tiệm làm móng tay. Hai con của nàng đã trưởng thành và sắp vào Đại học. Bây giờ, ngoài việc săn sóc nhà cửa, giáo dục con cái và chăm nom cửa tiệm, nàng chỉ chuyên chú vào việc cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, và tham dự Thánh Lễ hằng ngày.
K.T. cho tôi biết. Chỗ làm của nàng rất phức tạp. Người ta văng tục, đấu đá nhau liên tục, có khi chỉ vì tranh giành một người khách. Vì vậy, nàng chỉ mong làm sáng Danh Chúa trong chính môi trường sống và làm việc hằng ngày của mình. Nàng mong mỏi có thể noi gương Mẹ Têrêsa Calcutta, không chủ trương truyền giáo bằng cách lôi kéo người khác vào đạo, mà trước tiên là thực thi đức ái và gieo rắc tình yêu thương của Thiên Chúa trên những chặng đường đời nàng có dịp đi qua. Nàng rất tâm đắc với quan điểm của Mẹ Têrêsa, cho rằng dầu những người quanh mình chưa tin Chúa, nhưng nếu mình có thể giúp họ sống ngay lành hơn, tốt đẹp hơn, bác ái hơn, thì kể như mình đã góp phần làm sáng Danh Chúa rồi. Nàng cũng nhấn mạnh thêm lời nhắn nhủ chân thành của Mẹ, rằng mình không thể làm được điều này, bao lâu không liên lỷ cầu nguyện và sống kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa...
K.T. có một cô thợ tên X, tính khí nóng nảy, lại hay có tật gièm pha, chỉ trích nên thường dẫn đến gây gỗ và hiềm khích với người khác. Có lần X đôi co với một cô thợ khác tên Y, đến hồi cao trào, đấu khẩu không xong thì bắt đầu thượng cẳng chân hạ cẳng tay. K.T. lúc ấy đứng ngoài, thấy tình hình quá căng thẳng, vội lao đến cản đường cô X, rồi kêu to lên, bảo cô Y bỏ chạy. Cô X nổi cáu, nhấc bổng K.T. ném sang một bên (vì cô X to con hơn K.T nhiều). Vậy mà sau đó, chính K.T. đã chủ động mở miệng xin lỗi cô X vì cho rằng mình đã thiếu tế nhị, đường đột can thiệp trong lúc cô X đang nóng giận, làm chạm tự ái của cô.
Nghe qua câu chuyện, tôi và các bạn của tôi đều lắc đầu… bó tay, cho rằng K.T. quá nhu nhược, trong bụng cũng thầm lo bạn mình rồi sẽ bị yếm thế. Bởi cứ theo lẽ thường mà nói, có nhân viên nào dám cả gan ra tay với chủ? Và cho dẫu có xảy ra thì thể nào kẻ ấy cũng sẽ bị đuổi việc. Vậy mà K.T. đã không sa thải cô X, lại còn nhẫn nại hướng dẫn X cầu nguyện và sửa mình nữa. Kỳ lạ thay, vài năm sau, K.T. không những chẳng bị ai bắt nạt mà những lời cầu xin tha thiết của nàng đã thành công giúp X tiến bộ hẳn lên. Cô trở nên hiền hòa hơn, bớt gây gổ với những người xung quanh hơn, thậm chí còn chịu khó cầu nguyện với Chúa và Đức Mẹ mặc dầu cô vốn là một Phật tử.
Ngoài ra, K.T. có một cô bạn khác, đạo gốc nhưng đã lạc mất niềm tin và từ bỏ nhà thờ. Thế là ngày nào K.T. cũng kiên trì cầu nguyện cho cô ấy. Kết quả là sau ba năm, cô ấy đã được ơn trở lại với đức tin.
Cứ thế, K.T. lặng lẽ rảo bước trên cánh đồng truyền giáo mênh mông, cần mẫn gieo rắc từng hạt giống âm thầm của quảng đại và yêu thương. Hai vai mang lấy hành trang giản dị duy nhất nhưng cũng hữu hiệu tuyệt vời của Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta năm xưa là đời sống chứng tá gói trọn trong chuỗi Mân Côi lấp lánh diệu kỳ…
Những việc làm thầm lặng của K.T đã chứng minh rằng thừa sai không chỉ thuần túy là công việc của các linh mục và tu sĩ, nhưng chính là trách nhiệm và bổn phận của mỗi tín hữu. Đành rằng trong ơn gọi hôn nhân, rất bận rộn với cơm áo gạo tiền và dưỡng dục con cái, cộng thêm khả năng tri thức giới hạn, K.T. không có khả năng trực tiếp tham gia vào mục vụ rao giảng Lời Chúa cho muôn dân nhưng nàng đã tích cực chung tay góp một phần tuy khiêm hạ nhưng đầy hiệu quả cho sứ mạng truyền giáo của toàn thể Hội Thánh bằng cách trở nên muối men và ánh sáng để ướp mặn và soi dẫn cho đời.
PHẦN 4
Riêng tôi, sau một thời gian dài lạc lối trên nẻo đường tăm tối của đứa con hoang đàng, tôi mới tập tành cầu nguyện một cách nghiêm túc, lúc đầu chỉ là những lời nguyện tự phát. Tôi dần dà chú ý đến sự nhiệm mầu của chuỗi tràng hạt, nhất là sau khi cha quản xứ mới về nhậm chức. Ngài là một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế và đặc biệt có lòng sùng kính Kinh Mân Côi. Tôi bắt đầu tập tễnh lần chuỗi và chẳng cần chờ đợi lâu để mục kích hiệu quả thần kỳ của một lối cầu nguyện mà đa số giới trẻ hôm nay cho là quê mùa, nhàm chán và mất thời gian *.
Tôi chỉ xin đơn cử một sự kiện nổi bật. Số là từ ngày có con, cuộc sống hôn nhân của tôi ngày càng suy thoái và xuống cấp. Thật ra nguyên nhân cội rễ chẳng có gì trầm trọng cả. Mặc dầu chồng tôi bên lương, chúng tôi vẫn khá tâm đầu ý hợp, ít xung khắc cãi cọ. Tuy nhiên, khi tôi sinh cháu gái đầu tiên, chồng tôi bị thất nghiệp, sau đó tìm được việc mới nhưng phải làm rất nhiều giờ. Tương quan vợ chồng trở nên rạn nứt từ từ do những căng thẳng và thách đố nảy sinh từ công ăn việc làm và nuôi dạy con cái. Đến lúc tôi sinh cháu trai thứ hai, vừa mắc bệnh chàm (eczema) vừa mắc hội chứng tự kỷ (autism), hôn nhân của chúng tôi thật sự bị đẩy vào ngõ cụt bế tắc và cuối cùng rơi thẳng vào chốn địa ngục trần gian khi giữa chúng tôi, những lời yêu thương trìu mến ngày càng vắng bóng cho đến lúc hoàn toàn bị thay thế bằng những tiếng cắn đắng, hằn học, thậm chí sỉ nhục, thóa mạ nhau. Rồi một ngày, bầu khí gia đình đã trở nên ô nhiễm, ngột ngạt đến mức không hít thở nổi khiến tôi buộc phải nghĩ đến giải pháp chia lìa để tránh ảnh hưởng đến con cái.
Nhưng ý tưởng thoáng qua ấy không làm tôi cam lòng, nhất là khi tôi chợt nhớ tới đến lời phán bảo của Chúa Giêsu với uy quyền tối thượng của Con Thiên Chúa:
“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp thì loài người không được phân ly” (Mt 19 :6)
Điều này cũng đồng nghĩa rằng khế ước hôn nhân là tuyệt đối bất khả phân ly, không có ngoại lệ nào. Cho dẫu Hội Thánh có chấp thuận ly thân trong một số trường hợp, đó vẫn là giải pháp bất đắc dĩ, không làm đẹp lòng Chúa tý nào, do bởi:
“Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu” (Mt 19 :8)
Vì vậy, tôi quyết tâm tìm cách cứu vãn hạnh phúc hôn nhân, nỗ lực vận dụng các kiến thức nhân loại và sự khôn ngoan trần thế nhưng hỡi ơi, càng lao đao nhọc nhằn bao nhiêu, tôi càng thất bại thảm hại bấy nhiêu, bởi chồng tôi luôn ngờ vực thiện chí của tôi và càng phản ứng tiêu cực hơn đối với mọi thành ý làm lành và hòa giải từ phía tôi. Sau cùng, tôi đã cùng đường, chỉ còn cách duy nhất là cầu xin Thiên Chúa cứu chữa.
Thế là tôi cần cù lần chuỗi mỗi ngày với ý nguyện đơn sơ: Xin Chúa giúp vợ chồng con hòa hợp yêu thương nhau như ý Chúa muốn. Xin Chúa giúp mỗi người chúng con biết nhận lỗi và sửa lỗi của mình. Hoàn toàn đơn giản như “đang giỡn” vậy. Diệu kỳ thay, chỉ sau một thời gian ngắn, tôi ngỡ ngàng nhận ra rằng cả hai chúng tôi đều được biến đổi một cách lạ lùng. Những cử chỉ yêu thương, những lời nói ngọt ngào cũng từ đó dần dần trở về và sưởi ấm lại mái nhà nguội lạnh của chúng tôi. Cuộc hôn nhân đang cheo leo bên bờ vực thẳm của tan vỡ đã được cứu vớt một cách thần kỳ nhờ vào một chuỗi tràng hạt có thể gọi là quê mùa, nhàm chán, nhưng lại không hề uổng phí thời gian, bởi lẽ:
“Giống quỷ ấy, chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi” (Mc 9 :29)
Xưa kia, tôi đã xếp xó chuỗi Mân Côi bình dân, đơn điệu, lỗi thời, để rồi phải lãng phí cả nửa đời người, hoài công đeo đuổi theo những mục đích phù phiếm và những tham vọng viển vông. Cuối cùng, tôi chẳng gặt hái được gì ngoài một cuộc sống hoàn toàn trống rỗng, khổ ải và bất an. Rồi gần đây, tôi đã hoài phí thời giờ, ngày đêm lao lực hòng bảo vệ mái ấm gia đình, để rốt cuộc, không những chẳng đi đến đâu mà còn hóa ra tồi tệ hơn.
Tâm lý phổ biến của con người là chỉ xem trọng những công việc cao siêu vĩ đại như làm ông nọ, bà kia hay chạy theo những hoạt động rầm rộ hào nhoáng như ca hát, từ thiện mà quên đi đâu mới là nền móng cơ bản của đời sống đức tin. Chính Chúa Giêsu trong tư cách là Con Thiên Chúa mà còn thường xuyên tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện một mình:
“Sáng sớm lúc trời còn tối mịt, Người đã thức dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó” (Mc 1,35).
“Sau khi giải tán đám đông, Người đi lên núi mà cầu nguyện, chiều đến Ngài vẫn ở đó một mình” (Mt 14,23).
Kinh Mân Côi, với sự lập đi lập lại các bài kinh Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, đã trở nên một phương thức rất hiệu nghiệm để đưa ta trở về với sự thinh lặng tuyệt đối của sa mạc tâm hồn để rồi từ đó, ta mới có thể lắng nghe tiếng Chúa nói với riêng mình và hoán đổi chính mình.
Nhiều người trẻ ngày nay chẳng thà chuyên chú hàng giờ vào việc nghiên cứu Thần học, Thánh Kinh, hơn là dành dụm thời gian cho một lối cầu nguyện bình dân, đơn điệu, lỗi thời *. Thế mà có một vị từng là linh mục lừng danh xuất chúng, nay xuất tu, đã thành khẩn thú nhận nguyên nhân sâu xa đưa đẩy ông đến chỗ mất ơn gọi:
“Những hiểu biết sâu hơn về Thiên Chúa, nhiều hơn về Thiên Chúa không giúp giữ tôi trong lòng mến của Ngài. Chính đời sống cầu nguyện đơn sơ mà mẹ tôi tập cho tôi từ ngày còn bé mới giữ tôi lại trong tình yêu thương của Thiên Chúa” **
“chính việc thiếu một đời sống cầu nguyện đã giết chết ơn gọi Linh mục trong tôi.” **
Xin tạ ơn Mẹ Maria đã đoái thương truyền dạy Kinh Mân Côi như một phương tiện nhiệm mầu hầu dẫn dắt chúng con đến với Thiên Chúa là nguồn mạch của hạnh phúc chân thật và vĩnh cửu muôn đời. Amen.

Mã số VVYT 16-030
Têrêsa Nguyễn Phương Thảo, 
(Giải nhì VVYT 2016)
(Kính tặng Cha Xứ Phêrô Bùi Quang Tuấn, CSsR, và bạn Anna Phạm Thị Kiều Thu)

PHẦN 1
Gia đình nội ngoại của tôi đều gốc Phật Giáo. Riêng bản thân tôi, ngay từ nhỏ lại chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng vô thần từ mẹ tôi. Đặc biệt, tôi rất có ác cảm với Thiên Chúa Giáo (Công Giáo), vì qua sách báo, tôi được nghe biết về lắm vụ tai tiếng kinh thiên động địa của Giáo Hội, nhất là vào thời Trung Cổ. Có thể nói, tất cả bạn bè thân thiết của tôi đều hoặc theo Phật Giáo, hoặc theo Đạo “Thờ Ông Bà”. Còn những người quen sơ theo Công Giáo luôn phải chướng tai gai mắt với những luận điệu khích bác đến xóc hông của tôi …

Rốt cuộc thì… ghét của nào Trời trao cho của nấy… Vào đầu năm tôi học lớp 12, lớp A3 bên cạnh bị giải thể và một số bạn được chuyển qua lớp A1 của tôi. Sau thủ tục chào hỏi và giới thiệu các bạn mới, cô giáo chủ nhiệm đã chỉ định một bạn gái vào bàn tôi và ngồi ngay cạnh tôi. Nàng có tên gọi là K.T., một cái tên đáng yêu như vóc dáng xinh xắn của nàng. Thế là một định mệnh mới mẻ đã được an bài cho tôi… Không hiểu vì sao, ngay từ giây phút gặp gỡ đầu tiên, tôi đã thấy mình bị thu hút một cách mạnh mẽ, lạ lùng bởi cô bạn mới này. Rồi từ đó trở đi, tôi cứ ngày ngày lẽo đẽo bám sát theo nàng… từ lúc cổng trường chưa mở cho đến lúc tiếng trống vang vang báo hiệu tan học, siêng năng cần mẫn như một chàng trai mới lớn vác cuốc đi trồng… cây si. Đến nỗi, đám bạn thân từ trước phải phì cười và trêu tôi là kẻ thuộc hệ “thứ ba” vì trót “phải lòng” một người cùng phái.
Đúng vậy, tôi không chối cãi là tôi đã “mê mệt” K.T., “mê” đến độ khi biết K.T. là tín đồ Công Giáo, thứ “tôn giáo khó ưa” mà tôi từng thề độc là sẽ không bao giờ gia nhập, tôi vẫn bất chấp, thậm chí còn chăm chú lắng nghe nàng nói về Đức Kytô của nàng… Đây mới thật là chuyện lạ kỳ hy hữu, vì từ bấy lâu nay, đem bất cứ đạo gì ra bàn, tôi còn khả dĩ tiếp chuyện chứ hễ đề cập tới Thiên Chúa Giáo, tôi sẽ lập tức nhảy nhổm lên công kích cho tới cùng.
Bấy giờ trong lớp tôi có hai cô bạn khác, một cô tên là T.M., thuộc Hội Thánh Tin Lành, và cô kia tên là N.T. thuộc hệ phái Cơ Đốc Phục Lâm. Vô tình khám phá ra sự quan tâm “bất bình thường” của tôi đối với Chúa Giêsu, hai nàng ấy liền hăng hái xúm vô rủ rê tôi đi nhà thờ và lôi Kinh Thánh ra giảng giải đến chóng cả mặt. Không hiểu sao lúc ấy, tôi đâm ra dễ dãi ghê… Ừ, rủ đi nhà thờ Tin Lành, tôi cũng ưng thuận… Đem Kinh Thánh ra thuyết pháp, tôi cũng không khước từ…
Tài hùng biện và kiến thức uyên bác của hai cô bạn T.M. và N.T. dĩ nhiên là miễn bàn rồi. Hai nàng thay phiên nhau trích dẫn Kinh Thánh ào ào, kèm theo bao nhiêu luận chứng hùng hồn cho sự tồn tại của một Đức Chúa lạ lẫm nào đó ở tận trên… Trời. Thế đấy! Các nàng ấy nói quá nhiều, quá dư thừa về Chúa, nói đến độ khiến tôi phải tẩu hỏa nhập ma, mà tôi vẫn chẳng thấy… Chúa đâu! Lần nào gặp mặt, các nàng cũng đều lật Thánh Kinh vèo vèo, chỉ vào chỗ này… Chúa ở đây, rồi trỏ vào chỗ nọ… Chúa ở kia. Riêng tôi chỉ độc thấy những dòng chữ ngoằn nghèo chồng chéo lên nhau đến rối con mắt… chứ bản thân Chúa Trời thì vẫn mịt mù bóng chim tăm cá…
Hoàn toàn trái ngược, K.T. không bao giờ “dụ dỗ” tôi đi nhà thờ, không nỗ lực chứng minh có Chúa, và càng không hoài công thuyết phục tôi tin vào Ngài. Hiểu biết tôn giáo của nàng cũng khá hạn hẹp, gói gọn trong các lớp Giáo Lý căn bản là Xưng Tội Rước Lễ lần đầu, Thêm Sức và Bao Đồng. Và cũng như đại đa số tín hữu Công Giáo thời bấy giờ, nàng không thuộc Thánh Kinh, lại càng mù mịt về khoa chú giải. Tuy nhiên, nàng đã thực thi cho đến tận cùng từng Lời của Chúa bằng một lối sống mộc mạc nhưng thấm đượm tình yêu thương lân tuất của Ngài.
K.T. sống đời thường nhật của mình với một tâm tình đơn sơ hướng về Chúa, một tâm tình đã được hun đúc sâu đậm từ thưở ấu thơ bởi mẹ nàng, một góa phụ trung trinh, chuyên cần trong lời kinh tiếng kệ và tận tụy uốn nắn con thơ trong niềm tin và đức ái. Bà luôn chú tâm nhắc nhở các con cầu nguyện, đặc biệt là lần chuỗi Mân Côi. Bà nhẫn nại giáo dục con biết mến yêu, chia sẻ, nhường nhịn và vị tha với những người xung quanh như Đức Kytô đã truyền dạy. Bà ân cần hướng dẫn con phải làm thế nào để đẹp lòng Chúa, sáng Danh Chúa ngay trong mỗi tương quan xa gần với tha nhân và mỗi công việc lớn nhỏ của đời thường.
Như thế, cuộc đời rất đỗi bình dị và an lành của K.T. vốn đã được dệt thành từ những ngày tháng êm đềm trong dạ mẹ, bằng những chuỗi Mân Côi nhiệm mầu trong lời nguyện cầu và ru hời tha thiết. Lớn lên, nàng lại tiếp tục đan kết mảnh đời mình bằng những chuỗi Mân Côi của chính mình. Để rồi những lời kinh huyền nhiệm ấy lần hồi thấm sâu vào từng ý nghĩ suy tư, từng lời ăn tiếng nói, từng hành vi cử chỉ của nàng và biến thành bấy nhiêu hạt Mân Côi lấp lánh yêu thương, được kết nối chặt chẽ với nhau bằng sợi dây khoan dung vô bờ bến của Cha Trên Trời.
Tôi còn nhớ mãi, K.T. thường nói với tôi về Đức Kytô, về các giới răn yêu thương của Ngài và về tầm ảnh hưởng lớn lao của Ngài trên đời sống hằng ngày của nàng, đoạn thủ thỉ rót vào tai tôi:
- K.T sẽ cầu nguyện cho P.T. K.T. sẽ luôn nhớ tới P.T trong Đức Kytô.
Lúc ấy, dĩ nhiên tôi chưa hề biết Đức Kytô là ai, nhưng chỉ cần nghe được những tâm tình chân thành tha thiết ấy, tôi đã cảm thấy rất có cảm tình với Ngài rồi…
Mỗi lần trò chuyện với K.T., tôi lại có cảm giác như đang đối diện với Đức Kytô cùng ánh mắt mời gọi trìu mến không cưỡng được… Thế là bao nhiêu luận cứ vô thần từ bao năm nay tưởng chừng vững chắc như núi sắt tường đồng, đã sụp đổ và tan rã hoàn toàn trước một tang chứng quá ư hiển nhiên… Qua K.T., tôi đã được gặp gỡ Thiên Chúa một cách chân thật, không phải một Thiên Chúa xa lạ, vô hồn trong sách vở, có đó chỉ để lấp đầy những khoảng trống mà khoa học chưa thể giải thích được, nhưng một Thiên Chúa là Cha Yêu Thương Nhân Hậu luôn chờ đón đàn con cái tản mác trở về với Ngài.
Tôi đã đến xem và tôi đã tin (Gioan 1:39-42)… Niềm tin vào Thiên Chúa đã đến với tôi một cách bất ngờ và đơn giản như thế đó…
PHẦN 2
Sau khi tốt nghiệp Trung Học, bạn bè mỗi kẻ một nơi. Tôi đơn thân đến nhà thờ Đa Minh Ba Chuông (kế cạnh trường PTTH Phú Nhuận) xin học Giáo Lý Tân Tòng và chịu phép Thanh Tẩy vào Lễ Chúa Kytô Vua. Hôm ấy, tôi tình cờ liên lạc được với K.T. và nàng đã đến chung vui với tôi trong ngày trọng đại này.
Vào đạo rồi, tôi tiếp tục tham dự Thánh Lễ hàng tuần tại nhà thờ Đa Minh. Tương truyền rằng Đức Mẹ đã hiện ra với Thánh Đa Minh, ban cho Ngài chuỗi Mân Côi và dạy Ngài truyền bá cho khắp muôn dân. Vì vậy, các tu sĩ Dòng Đa Minh có lòng yêu mến Kinh Mân Côi một cách đặc biệt. Riêng tại nhà thờ Đa Minh Ba Chuông, trước mỗi Thánh Lễ, các Soeur đều hướng dẫn cộng đoàn lần một chuỗi. Lúc đầu, tôi cũng sốt sắng đi Lễ và đọc kinh. Nhưng sau một thời gian ngắn, tôi bắt đầu ngán ngẩm... Không lẽ theo Chúa thì chỉ có bấy nhiêu thôi? Đang uể oải lầm bầm trong bụng như thế, tôi tình cờ được giới thiệu đến với Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng. Thế là kể từ đó, tôi giã từ chuỗi Mân Côi nhàm chán để đến với các lớp Giáo Lý Nâng Cao của các linh mục danh tiếng trong Giáo Phận Sài Gòn.
Tôi dần dà trở nên “nổi tiếng”, không phải nhờ vào công việc từ thiện bác ái như nhiều người khác, mà chỉ vì khóa học nào tôi cũng… có mặt, kể cả những khóa đào tạo chuyên biệt mà hầu hết học viên là tu sĩ, tôi cũng không bỏ qua. Nhiều người cho rằng tôi là kẻ thích khoa trương kiến thức, nhưng thật ra, không phải vậy. Đối với một người đạo gốc, được dắt dìu từ những ngày thơ ấu, niềm tin có lẽ đến với họ dễ dàng hơn nhiều. Đằng này, tôi vốn quen thuộc với lối suy tư vô thần, mọi sự đều phải được mổ xẻ trắng đen rạch ròi dưới lăng kính của lý trí. Vì vậy, việc nhìn nhận một Thiên Chúa siêu nhiên vượt lên trên khoa học không phải là điều tôi có thể hoàn thành trong một sớm một chiều… Ấy là chưa kể đến những áng văn rất sốc trong Cựu Ước, chẳng hạn,
“Ta là Thiên Chúa ghen tuông phạt tội cha ông trên con cháu đến ba bốn đời, đối với những ai thù ghét Ta” (Xh 20:5).
Thú thật, lần đầu tiên nghe đoạn ấy, tôi choáng đến mức chỉ muốn… bỏ đạo ngay lập tức! Một Thiên Chúa được mệnh danh là Toàn Năng mà lại so đo, nhỏ nhen, và thù dai đến mức trù dập đến ba bốn đời những ai chống đối Ngài. Nếu không có chút ít hiểu biết về khoa chú giải Thánh Kinh và chỉ diễn giải câu ấy theo nghĩa đen, đó quả là một điều không thể chấp nhận được!
Ngày tháng thấm thoát trôi nhanh như thoi đưa, bốn đứa chúng tôi (tôi, K.T, T.M và N.T) đều đã lập gia đình và lưu lạc mỗi đứa một phương trời. T.M vẫn ở Sài Gòn, tôi đinh cư ở Canada, còn K.T và N.T lập nghiệp tại hai tiểu bang xa cách nhau ở Hoa Kỳ. Sau bao nhiêu vất vả tìm kiếm, cuối cùng tôi đã liên lạc được với K.T và N.T (còn T.M., tôi vẫn chưa có tin tức).
Tôi được biết, trong thời gian xa cách, cả ba chúng tôi (tôi, K.T và N.T.) đều phải vượt qua những đoạn đường thăng trầm vô cùng nghiệt ngã của đời người. Sự kiện ấy có lẽ không lạ lẫm gì đối với cuộc sống bể dâu này, nhưng điều bất ngờ ở đây chính là cái kết cuộc sau cùng. Cả tôi và N.T. đều đã khuỵu ngã, chỉ riêng K.T. vẫn đứng vững trong nghịch cảnh trái ngang. Tôi đã hờn trách và lạc mất niềm tin vào Thiên Chúa, giân dỗi và quay lưng với Hội Thánh trong khoảng thời gian khá dài, và chỉ mới trở lại rất gần đây thôi. Còn N.T. không những chối bỏ đức tin, rời xa nhà thờ, mà còn lẩn trốn khỏi tất cả bạn bè và người quen đồng đạo xưa kia. Nàng oán hận Chúa không che chở cho mình, và không muốn nghe bất cứ ai nhắc nhở đến Danh Thánh Ngài. Nhưng K.T. hoàn toàn khác. Nàng khiêm nhượng chấp nhận mọi mất mát đau thương với lòng tín thác tuyệt đối:
- Mình chỉ xem đó như một tai nạn mà thôi...
Thế đấy, tuy là Tân Tòng, nhưng sau bao tháng ngày miệt mài theo đuổi các khóa học nâng cao, tôi dám cam đoan rằng “trình độ” tôn giáo của tôi ngày nay đã trổi vượt K.T. xa lắm rồi. Riêng N.T. thì khỏi nói, nàng ấy còn hơn tôi cả vài bậc là thuộc lòng cả quyển Thánh Kinh. Vậy mà cuối cùng tôi ngỡ ngàng khám phá ra, những kiến thức tưởng chừng cao siêu ấy thật ra chỉ là một chiếc nền bằng cát mỏng manh, không đủ sức giữ vững lòng tin vốn dĩ rất yếu ớt của chúng tôi. Riêng nàng K.T., với khả năng tri thức giới hạn hơn, đã khôn ngoan xây dựng nền móng một cách vững vàng trên những chuỗi Mân Côi nhiệm mầu, nhờ vậy, ngôi nhà đức tin của nàng, ngỡ là sơ sài lụp xụp với những hiểu biết giáo lý rất căn bản, vẫn có thể sừng sững giữa mọi bão táp phong ba.


Được tạo bởi Blogger.