(mã số VVYT 17-061)

 

Xuân mải miết nô đùa theo cánh gió

Mãi rong chơi trong làn nắng vui tươi

Bỗng tắt lịm khi Hè kia ập đến

Xuân lưu gì nơi trời đất chuyển xoay?

A! Còn đó: những mầm sống vươn cao!

Mưa rả rích tung hạt châu khắp cõi

Mãi ồn ào theo nhịp sấm vang vang

Rồi im bặt khi mặt trời le lói

Mưa lưu gì trong trời đất bao la?

A! Còn đó: nguồn nước mạch tinh khôi!

 

Hoa say đắm nghiêng mình trong nắng sớm

Mãi si tình bên đàn bướm, con ong

Rồi ủ rũ một trưa hè nắng gắt

Hoa lưu gì nơi hòn đất vô tư?

A! Còn đó: chùm trái mọng đong đưa!

 

Sông êm ả xuôi mình theo triền dốc

Mãi lao đao nơi bến lở, bên bồi

Rồi mất dạng nơi bao la biển lớn

Sông lưu gì nơi mình đã ngang qua?

A! Còn đó: hạt phù sa rất đậm!

 

Em mê mải lao mình theo nhịp sống

Mãi mê say trong danh vọng, tiền tài

Rồi cứng lạnh buông mình nơi lòng đất

Em lưu gì cho nhân thế vần xoay?

Chẳng có gì,

ngoài một chút yêu thương!

Mã số: 17-104
(Hình ảnh minh họa)
Lời tựa:Điều vĩ đại được ghép nên từ những mảnh vụn yêu thương. Một đời sống cho gia đình, cho tha nhân, cho đi mà không cần nhận lại. Đó là chị gái tôi”. Chị à! Đã ba năm em chưa được gặp chị, nhớ chị nhiều lắm! Em luôn cảm thấy mình thật may mắn và thầm cám ơn đời đã cho em có được chị. Sự hi sinh thầm lặng cùng tấm lòng nhân ái ấy suốt cuộc đời em sẽ không bao giờ quên! Nơi phương xa, chị yêu nhớ giữ gìn sức khỏe nhé, đừng để bị cảm lạnh kẻo lại ho như trước là khổ lắm đấy! Mong ngày gặp chị!
* * *
- Hoan này, hết học kì 2 con nghỉ học luôn nhé!
- Mẹ…
- Mẹ thương con lắm, cũng muốn cho con ăn học cho bằng bạn bằng bè. Nhưng… con thấy đấy. Gia đình ta khó khăn, lại đông các em ăn học. Cha mẹ không gánh nổi năm đứa cùng học một lúc.
- Co…n… Dạ…
Mãi đến tận bây giờ, tôi vẫn không thể quên cuộc trò chuyện giữa mẹ và chị gái. Tôi quên sao được nét mặt rười rượi buồn cùng những giọt nước mắt lăn dài trên má chị. Khuôn mặt thảng thốt, hoang mang ấy in hằn trong tâm trí tôi. Mẹ và chị không hề biết rằng tôi đã nghe lẻn cuộc trò chuyện đó. Nhưng… Lúc ấy, tôi chỉ là một đứa trẻ tiểu học, không thể can thiệp vào chuyện của người lớn. Tôi cũng không thể chạy ra và nói “Mẹ ơi, mẹ cho chị đi học tiếp đi!”, bởi hoàn cảnh đã như thế, cuộc sống đã bắt ta phải chấp nhận như thế.
Chị gái của tôi à? Quá tuyệt vời! Chị là người con gái công, dung, ngôn, hạnh. Là chị cả trong gia đình, chị quán xuyến hết mọi việc để cha mẹ yên tâm kiếm tiền nuôi chúng tôi ăn học. Chị nấu ăn, cắt cỏ chăn bò, vỗ béo mấy con heo thịt, đan lát thủ công… Chẳng việc gì lọt qua đôi bàn tay vàng ấy. Ở cái tuổi trăng rằm, chị là thiếu nữ duyên dáng. Không ai có thể so sánh nước da trắng ngần, không tì vết của chị. Tôi vẫn thường ghen tị sao chị trắng vậy, không san sẻ qua cho em với. Chị chỉ mỉm cười. Ôi nụ cười, hiền dịu như nàng tiên vậy! Mấy chị em tôi chẳng bao giờ cãi nhau cũng là nhờ chị. Chị luôn chỉ bảo và nhắc nhở rằng: “Trong bất cứ việc gì, các em cũng phải luôn vui vẻ, lạc quan và tin yêu”. Chị đã nhường nhịn cho chúng tôi rất nhiều, từ cái bánh mẹ đi chợ về, chiếc áo mới trong những dịp lễ Tết tới quyển vở trắng tinh có hình bìa đẹp hay trong những trò chơi mà tôi toàn ăn gian. Và hi sinh lớn nhất mà chị phải nuốt nước mắt chấp nhận là nghỉ học để đàn em tiếp tục đến trường. Tuổi mười lăm, ai chẳng ao ước mộng mơ? Tuổi trăng rằm, ai chẳng có hoài bão, khát vọng? Chị hay thủ thỉ với tôi rằng: Cha mẹ đặt cho chị tên Hoan vì mong muốn chị có thật nhiều niềm vui trong cuộc sống và chia sẻ niềm vui ấy cho mọi người. Ấy thế mà… Niềm vui ấy có còn nữa khi phải giã biệt thầy cô, bạn bè, ngôi trường thân yêu? Tôi thương chị nhiều lắm nhưng không thể chạy đến bên chị và an ủi. Tôi cũng không đủ can đảm để lau đi những giọt nước mắt của chị đang lã chã rơi…
Sau ngày ấy, chị trầm tính hơn, ít cười đùa hơn. Dường như chị đang học cách chấp nhận số phận. Mỗi tối, chị chở tôi trên chiếc xe đạp cũ, lọc cọc tiến về ngôi thánh đường để đọc kinh. Tôi biết: Chị gái mình đạo đức lắm! Chị còn muốn dâng mình cho Chúa trong đời sống thánh hiến nữa. Tôi để ý thấy chị chỉ ngồi một vị trí trong nhà thờ. Thắc mắc, tôi hỏi chị:
- Sao lúc nào chị cũng ngồi chỗ ngoài của bàn thứ năm vậy?
- Em không thấy ư? Đó là chỗ đối diện với bức hình Đức Mẹ. Chị muốn được nhìn ngắm Mẹ mỗi ngày. Mẹ đẹp và hiền dịu biết bao! – Chị ân cần trả lời.
Thế là từ ngày đó, tôi cũng học theo chị ngồi trước hình Mẹ để nhìn ngắm dung nhan và được Mẹ âu yếm. Trên đầu giường của hai chị em còn có cả tấm hình Đức Mẹ Fatima. Chị chọc rằng: “Em có muốn giống như ba trẻ nhỏ được gặp Mẹ không?”. Tôi hồn nhiên đáp: “Có chứ, em và chị sẽ gặp”. “Tất nhiên rồi, nhưng em phải siêng lần chuỗi Mân Côi thì mới được Mẹ hiện ra”. Ôi! Người cô bé nhỏ của tôi đấy, luôn dạy cho tôi những điều nhỏ bé mà lớn lao biết bao!
Thế rồi một ngày kia, chị tôi xin vào Nam đi làm công nhân. Ngày chị xách va li chuẩn bị lên xe, tôi đã khóc. Tôi khóc vì sắp phải xa chị gái, xa người bạn tinh thần luôn lắng nghe mọi nỗi lòng của đàn em. Chị nhắc nhở chúng tôi phải chăm chỉ học hành, giúp việc nhà cho cha mẹ, còn chị sẽ cố gắng kiếm nhiều tiền để đóng tiền học phí và cho chúng tôi được học thêm nữa. Thế đấy, bánh xe chuyển động đưa chị tôi đến một phương trời mới, nơi ấy hoàn toàn xa lạ về lối sống, lại không người thân thích, bạn bè. Giữa guồng quay đầy cuốn hút và mạnh mẽ của thành thị, chị vẫn như bông hoa huệ giản dị, khiêm cung và tinh khiết. Chị tôi xinh hẳn ra. Nước da đã trắng lại thêm hồng hào. Nhưng vẫn mái tóc đen dài ấy, vẫn nét dịu dàng, nhẹ nhàng như xưa, chị rất mới mà cũng thật gần. Tôi còn nhớ cảm giác hớn hở, hồi hộp mỗi lần gửi thư và chờ thư chị. Cái địa chỉ nghe lạ hoắc và khó quá chừng. Nào là số mấy, chuyền mấy, công ty, đường, khu, thành phố… Tay viết mà lòng cứ thấp thỏm lỡ lá thư không đến được với chị thì buồn lắm! Những tấm giấy khen qua các năm học của tôi được chị đồng hành như vậy đấy!
Một ngày cuối lớp 11, tôi nhận được những dòng thư của chị. Không chỉ những lời hỏi thăm, động viên như thường lệ mà chị còn tâm sự rằng chị muốn đi học lại cấp ba, học hết chương trình đã bỏ dở, rằng chị muốn tiếp tục thực hiện ước nguyện trên con đường dâng hiến. Ôi lạy Chúa! Chị đã nghỉ học 6 năm rồi, giờ sao học tiếp được nữa, chương trình học đã đổi mới rất nhiều. Chị lớn tuổi mà chịu học chung với bọn đàn em thua mình sáu tuổi sao? Ngại lắm! Nhưng, đã quyết thì phải làm, chị về quê, bắt đầu đi học lại. Quả không dễ dàng để tiếp thu phần kiến thức, lại phải vững vàng về tâm lí. Thế nhưng “ơn Ta đủ cho con”, chị gái tôi đã thành công. Chị vượt qua tất cả các kì thi, được thầy cô và các em cùng lớp yêu mến và ngưỡng mộ bởi nơi chị, có một thứ được gọi là yêu thương luôn chan chứa, căng tràn.
Tốt nghiệp xong cao đẳng mầm non, chị gái quyết định dâng mình cho Chúa. Chị sẽ dâng hiến tuổi trẻ và cả cuộc đời cho những em nhỏ mồ côi, khuyết tật, cho những con người đau khổ bất hạnh. Nét thánh thiện cùng trái tim tràn đầy yêu thương ấy sẽ mang lại hạnh phúc cho thật nhiều người. Ba năm chưa được gặp chị nhưng chị luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho tôi vượt qua tất cả. Chị đang là tập sinh trong một tu viện ở nước ngoài. Tôi đã là cô giáo, đã đứng trên bục giảng để truyền nhiệt huyết cho các em học sinh thân yêu. Có được hôm nay một phần cũng là nhờ chị. Cám ơn chị gái yêu dấu! Cám ơn Chúa đã cho con có được người chị mẫu mực và tuyệt vời! Ôi mùa xuân thánh hiến! Em vẫn luôn đợi chờ giây phút thiêng liêng ấy, giây phút chị được đính hôn cùng người tình Giê-su!
Giọt nước mắt ai lã chã rơi trong hạnh phúc?









(Nhân dịp Đức cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận được nâng lên bậc đáng kính ngày 04.05.2017, xin mời quý anh chị em cùng đọc lại bài chia sẻ của Ngài khi còn là Tổng Giám mục, diễn ra ngày 12-9-1998, tại nguyện đường Dòng Truyền Giáo Ðức Mẹ Vô Nhiễm (OMI), Strasbourg, Pháp, nhân dịp họp mặt “Niềm Vui Sống Ðạo” của các bạn trẻ Công giáo Việt Nam sống tại Âu Châu, do Trung tâm Nguyễn Trường Tộ tổ chức. Xin Ngài chuyển cầu cho mỗi người chúng ta cũng có được 10 “khuyết điểm” tuyệt vời này!).
10 khuyết điểm của Chúa Giêsu
 
1. Chúa Giêsu kém trí nhớ!
2. Chúa Giêsu không biết làm toán
3. Chúa Giêsu không sành luận lý
4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chánh
5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi
6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng
7. Chúa Giêsu không giữ luật Do thái
8. Chúa Giêsu như điên cuồng
9. Chúa Giêsu phiêu lưu
10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn.
***
1. Chúa Giêsu kém trí nhớ!
Lúc sắp trút hơi thở, Chúa Giêsu có cuộc đối thoại cuối cùng với hai người gian phi cùng bị treo trên thập giá cạnh ngài. Một trong hai người đó thốt lên lời nầy với Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Và Chúa nói với anh ấy: “Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng” (Lc 23,42-43).
Chúa Giêsu không sưu tra lại lý lịch người đó để nhớ xem hắn gian ác đến mức độ nào, không cân nhắc tội nặng, nhẹ để châm chước hay tạm ra hình phạt thế nào đó cho thích đáng. Người gian phi kêu nài Ngài nhớ, thì Ngài “nhớ” một điều là thấy người ấy trước mắt, còn tất cả mọi điều gian ác trước đó Ngài đã quên hết, quên đến độ ngay hôm đó hứa ngay Nước Thiên đàng cho anh ta. Các thánh nói: tên này suốt đời ăn trộm, đến lúc chết nó ăn trộm nước thiên đàng luôn!
Trong Phúc Âm chúng ta gặp lại nhiều chứng tích về việc Chúa Giêsu kém trí nhớ như thế. Nhưng qua chuyện ngụ ngôn người cha nhân hậu, sự kiện đó rõ ràng. Thánh sử Luca kể rằng người con út trong hai con của cha già đã lấy hết phần gia tài của nó, để bỏ nhà ra đi sống đời phóng đảng, quên cha, quên anh. Ðến khi tiêu hết tiền, gặp năm đói, thì quay trở về nhà, xin khai thú tội lỗi mong cha già xét tình cha con mà tha thứ...
Người cha (là hình ảnh Chúa Giêsu), không kể đến tội cũ, chỉ trông ngóng chờ con; thấy con đằng xa, thì chạy ra đón. Con có thú tội, thì cũng không cố nghe để hạch hỏi tội cũ mà ra lệnh cho tôi tớ: lấy áo đẹp, giày tốt, nhẫn quý mang lại cho cậu, làm thịt con bê béo dọn tiệc vì con ta chết mà nay nó sống lại.
“Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để”. Bấy giờ người con thưa rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa...”. Nhưng người cha liền bảo người giúp việc rằng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay , xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con dê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!...” (Lc 15,20-23).
Chúng ta thấy ở đây trí nhớ của Chúa Giêsu dường như không còn làm việc nữa! Ngài quên vô điều kiện, quên tức khắc tất cả quá khứ không hay không tốt của ta, mỗi khi chúng ta quay trở về. Ngài chỉ nhớ mỗi người là con Cha Ngài, là em Ngài, nên khi ta quay lại gặp Ngài, thì tức khắc ta lại được mặc áo vinh hiển sự sống của Thiên Chúa.

2. Chúa Giêsu không biết làm toán
Trong dụ ngôn con chiên bị mất (x. Mt 18,12-14; Lc 15,4-7), chúng ta thấy lối cư xử của Chúa Giêsu tỏ ra không biết tính toán. Một kẻ có 100 con chiên ở giữa đồng trống mà mất một con, hẳn phải tính toán xem làm sao một con đi lạc lại hơn 99 con còn lại. Không những Chúa Giêsu cho rằng 1 con đi mất cũng bằng 99 con còn lại, mà còn đi xa hơn nữa: Ngài bỏ 99 con còn lại đấy để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Một mà hơn 99, hẳn Chúa Giêsu không biết làm toán!
Trong chương trình rao giảng của Ngài, không phải số lượng quần chúng đông đảo mà Chúa Giêsu tìm kiếm, nhưng là những con người; và Ngài đã không tiếc thì giờ để trao đổi với từng người, giảng dạy cho một người như chúng ta từng thấy trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samari trên bờ giếng Giacóp (x. Ga 4,1-42).

3. Chúa Giêsu không sành luận lý
Chúa Giêsu không những không cân nhắc tính toán trên số lượng, mà có lúc lời của Ngài đi ngược lại sự khôn ngoan bình thường của con người.
“Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc... (Lc 14,12-14).
Trong dụ ngôn về đồng bạc bị mất (x. Lc 15,8-10), người phụ nữ có 10 đồng, nhưng trong đêm lỡ đánh mất 1 đồng: “Bà thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho bằng được”. - Khi tìm được, thì bất chấp giờ giấc nghĩ ngơi ban đêm của hàng xóm, bạn bè, mời họ phải đến chung vui với mình.
Chúa Giêsu ví mình như người phụ nữ tìm đồng bạc bị mất trong đêm; không cần suy tính, luận lý là đủng đỉnh ngày mai sẽ tìm, dù sao thì cũng còn 9 đồng khác trong tay; nôn nóng đem nguồn vui của mình cho người chung quanh không ngại sự nghỉ ngơi trong đêm vắng. Chẳng qua vì Chúa là yêu thương, mà yêu thương của Thiên Chúa cao hơn lý luận con của người.
“Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,10).

4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chính
Chúa Giêsu đến để loan báo Nước Trời ở gần con người, gần cuộc sống của họ. Thế mà khi giới thiệu Nước Trời với các môn đệ và với người nghe Ngài nói, Ngài lấy dụ ngôn về Nước Trời như người chủ vườn nho thuê thợ làm cho mình trong một ngày (x. Mt 20,1-16). Người chủ từ tảng sáng đã mướn thợ làm; rồi đến giờ thứ 3, giờ thứ 6, giờ 11, mỗi giờ người ấy đều đi tìm mướn thêm thợ (giờ 11 trong lối nói của người Do Thái thời của Chúa Giêsu tức là buổi cận chiều tối rồi).
Chiều tối đó, ông chủ, là hình ảnh Chúa Giêsu, bảo người quản lý kêu thợ lại và trả cho mỗi người 1 quan tiền như nhau. Những kẻ làm nhiều giờ trong ngày bực tức vì thấy ông chủ nầy không biết gì về kinh tế, tài chính cả, hơn nữa còn bất chấp lối tính toán và sự công bình thông thường:
“Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là 1 quan tiền sao?... Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ghen tức? Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót...” (Mt 20,13-16).

5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi
Không phải trong xã hội của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu còn tại thế, mà ngay giữa xã hội chúng ta, người ta khó lòng chấp nhận chuyện người “đàng hoàng” lại giao du với lớp người được đánh giá là không “đàng hoàng”.
Thời bấy giờ người đồng hương với Chúa Giêsu cho rằng hai giới đặc biệt không “đàng hoàng” là những quân thu thuế và người tội lỗi, đặc biệt là các người gái điếm. Người tội lỗi bấy giờ còn được xem là những kẻ không lành mạnh về cuộc sống thân xác, như người phung cùi, tàn tật... Những người Pharisiêu nhiều lần thắc mắc về thái độ sống của Chúa Giêsu và nhắc nhở với các môn đệ Chúa:
“Sao Thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?” (Mt 9,11). “Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng” (Lc 15,2).
Theo các sách Phúc Âm ghi lại, thì không những Chúa Giêsu chỉ gặp gỡ, chào hỏi, hay bất đắc dĩ được mời ăn thì ngại lắm phải chiều người ta, mà thực sự Ngài tự tìm tới nhà người thu thuế, và kẻ tội lỗi, làm thân với họ và ăn ở với họ.
Ông Dakêu là người “đứng đầu những người thu thuế” (Lc 19,2); khi biết Chúa Giêsu đi qua thành phố Giêricô, ông ấy sợ không chen lấn nổi với đông đảo dân chúng, nên chạy ra đàng trước, trèo lên cây sung để xem Ngài, chẳng qua vì ông rất lùn. Chúa Giêsu đi qua, nhìn lên cây ấy thấy ông và nói ngay:
“Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (Lc 19,5).
Người chung quanh xào xáo:
“Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ” (Lc 19,7).
Chúa Giêsu tự đến để gặp gỡ Dakêu và loan Tin Mừng:
“Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19,9).
Và chúng ta đều biết Chúa đã chọn 1 trong 12 vị Tông đồ của Ngài là Mathêu, trước đó có tên là Lêvi một người làm nghề thu thuế.
Và để giải thích thái độ ngược đời của mình, chính Chúa Giêsu đã nói rõ sứ mệnh của Ngài.
“Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9, 12-13).

6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng
Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy sự kiện mỗi lần đến nhà nào, gặp ai, đặc biệt là những người được xã hội xếp loại không “đàng hoàng”, Chúa Giêsu lại thường ăn uống. Ngài mở đầu sứ mạng rao giảng công khai bằng việc dự tiệc cưới Cana miền Galilê (x. Ga 2,1), kết thúc cuộc gặp gỡ chung với các tông đồ trước khi đi vào cuộc khổ nạn bằng bữa tiệc ở Giêrusalem gọi là tiệc ly (x. Mt 26,17 và tiếp theo).
Thế nhưng lịch sử nhiều tôn giáo và tâm thức nhiều nền văn hoá không phải đã cho chúng ta thấy rằng nói đến thần thánh, đạo đức, tôn giáo thì hẳn phải nói đến ăn chay cầu nguyện hay sao!
Luca thuật lại rằng, sau bữa tiệc lớn tại nhà Lêvi (tức Thánh Mathêu sau này) những người Pharisiêu và những người thông luật nói với Chúa Giêsu: “Môn đệ ông Gioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pharisiêu cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống” (Lc 6,33). Chúa Giêsu đã dùng những bữa ăn để cứu người tội lỗi như Mađalêna, Dakêu...
Cái mới của Chúa Giêsu làm cho người Pharisiêu và cả chúng ta khó hiểu đó là tất cả sứ điệp của Ngài, không còn phải là ăn chay hay ăn tiệc, nhưng tiên quyết là Yêu thương phát xuất từ tận đáy lòng mình. Như Thánh Augustinô sau này tóm tắt trong câu: “Hãy yêu rồi làm gì thì làm” (Ama et fac quod vis).

7. Chúa Giêsu không giữ luật Do Thái
Không những lui tới bạn bè, với kẻ tội lỗi, lại còn hay dự tiệc với họ, Chúa Giêsu không giữ luật lệ của cộng đồng người Do Thái đương thời. Ngài bất chấp luật phải rửa tay trước bữa ăn, đi thẳng vào bàn tiệc nên “ông Pharisiêu lấy làm lạ vì lúc đầu Ngài không rửa tay trước bữa ăn” (Lc 11,38). Ðặc biệt trong những ngày sabát, Ngài hay chữa lành bệnh tật cho người ta, và điều đó đối với người Do Thái đương thời cho là phạm luật. Phúc âm ghi lại nhiều sự kiện như thế, như việc chữa lành người bại tay (x. Lc 6,8-11), chữa người mắc bệnh phù thủng (x. Lc 14,1-6), chữa lành một phụ nữ còng lưng (x. Lc 13, 14)... Thánh sử Luca ghi rõ: “Ông trưởng hội đường tức tối vì Ðức Giêsu đã chữa lành bệnh vào ngày sabát (x. Lc 13,14). Ngài không giữ luật, và các môn đệ theo Ngài cũng không giữ luật:
“Vào ngày sabát, Ðức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ đưa tay bứt lúa ăn. Nhưng có mấy người Pharisiêu nói: “Tại sao các ông làm điều không được phép làm trong ngày sabát” (Lc 6,1-2).
Nhưng trước những lời chỉ trích này, Chúa Giêsu trả lời: “Con người làm chủ ngày sabát” (Lc 6,9). Chúa Giêsu đến để làm trọn lề luật, để ban luật mới là luật yêu thương, là luật có chiều kích nội tâm, để xoá bỏ những lối giải thích lề luật rắc rối bên ngoài: “Khốn cho các ngươi giả hình, như má tô vôi, bên ngoài trắng trẻo mà bên trong thối tha” (Mt 23,13-36).

8. Chúa Giêsu như điên cuồng
Trong Toà Tổng trấn Philatô, lúc chịu xử án, Chúa Giêsu bị lính của Tổng trấn cho choàng áo đỏ, đội vương niệm bằng gai để chế nhạo như là kẻ điên cuồng. Nhưng không phải chỉ người ngoài, mà ngay cả Phêrô, người vừa được Chúa Giêsu cử sẽ làm đầu Hội thánh Ngài: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi...” (Mt 16,18), người được Chúa tin yêu như thế cũng không chịu nổi những lời nói như điên dại của Chúa Giêsu: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Ðiên dại vì gọi môn đệ theo mình, đồng thời thông báo mình phải chịu khổ đau, bị giết chết; và xem ra điên dại hơn nữa khi bảo rằng chết sau ba ngày sẽ sống lại! Và suốt cả các cuốn Phúc Âm trang nào cũng làm cho chúng ta ngạc nhiên về thái độ và lời nói khác lạ của Ngài:
“Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại... (Lc 6,27-31).
Nói như thế, làm sao có thể nghe cho được, khi tâm tư ta còn sống trong tâm trạng “măt đền mắt, răng đền răng!”
Và tôi xin kể cho các bạn kinh nghiệm của tôi về sứ điệp “điên dại” này của Chúa Giêsu. Lúc tôi sống những năm tháng tù đày tại quê nhà, có lúc những người canh tù tâm sự cho tôi hay, họ thắc mắc và ngạc nhiên về thái độ vui cười, thân thiện của tôi đối với họ: trong hoàn cảnh này làm sao có thể thanh thản và dung thứ như thế được! Tôi đã có dịp chia sẻ các kinh nghiệm đó trong cuốn sách “Năm chiếc bánh, và hai con cá”, tôi vừa cho phổ biến trong năm này. Nhưng ở đây tôi muốn nói, chính sự “điên dại” của tình yêu thương Thiên Chúa đối với tôi, đối với mọi người là “khuyết điểm” làm tôi say mê hơn cả; sự điên dại đó lôi kéo tôi bước theo Chúa Giêsu!

9. Chúa Giêsu phiêu lưu
Một chương trình cứu chuộc toàn nhân loại, một dự tính gửi người đi rao truyền Phúc Âm cho mọi dân nước, mọi thế hệ, thế mà lại chọn và đặt hết tín nhiệm, quyền hành cho Phêrô, một người chài lưới bộp chộp, ít học rồi còn sợ sệt chối mình nữa!
Và về phương cách truyền bá, rao giảng nước Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo” (Lc 9,3).
Phiêu lưu trong việc tuyển lựa các môn đệ, Chúa Giêsu còn bị ngay các môn đệ Ngài nghi ngờ là quá phiêu lưu. Khi Chúa Giêsu loan báo chương trình Ngài sẽ bị bắt nạp, bị giết chết và sẽ sống lại trong ngày thứ ba, thì “Các môn đệ buồn phiền lắm” (Mt 17,23). Khi Chúa nói với họ: “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6,53), thì “nhiều môn đệ của Ngài liền nói: “Lời này chướng ta quá! Ai mà nghe nổi” (Ga 6,60). Và, vì thấy lời giảng dạy của Chúa Giêsu khó nghe và phiêu lưu quá, nhiều môn đệ rút lui. Nên Chúa quay hỏi nhóm 12 Tông đồ: “Cả anh em nữa, anh em cũng bỏ đi sao?” (Ga 6,67).
Có lần khác, có người lại muốn đi theo Ngài làm môn đệ, nên hỏi: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo”. Người trả lời: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58).
Và cuộc phiêu lưu tột đỉnh của Yêu thương nơi Chúa Giêsu được diễn tả cô động nơi bài ca trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Philipphê:
“Ðức Giêsu Kitô
Vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân phận nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).

10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn
Mâu thuẫn vì Lời từ Thiên Chúa khác với lời chúng ta.
Làm sao chúng ta thấy hợp lý được khi tuyên dương phúc cho kẻ nghèo, kẻ phải đói, kẻ phải khóc, kẻ bị người ta oán ghét (x. Lc 6,20-22).
“Ai muốn cứu mạng sống mình, thì phải mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24).
Làm sao có thể ví Nước Thiên Chúa, Nước của Ðấng toàn năng, vô tận với một hạt cải (x. Lc 13,18-19).
Mà làm sao có thể tuyên xưng là “Con Thiên Chúa, Ðấng hằng sống” lại phải chấp nhận sự chết và chết nhục nhằn trên Thập giá (x. Lc 23,70).
Ngày 12-10-1998, có một cuộc tĩnh tâm linh mục quốc tế, tại thành phố Monterrey, nước Mexico: 91 giám mục, 1.500 linh mục tham dự. Lúc tôi vừa nói: Tôi yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu, các ngài nhìn nhau với vẽ ngạc nhiên, bỡ ngỡ! Nhưng nói đến đâu các ngài lại cười đến đó, cuối bài các ngài xúm lại quanh tôi và bảo: “Chúng tôi cũng yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu”.
***
Các bạn thân mến,
Bây giờ, sau khi chúng ta cùng nhau lược qua 10 khuyết điểm của Chúa Giêsu, 10 khuyết điểm ghi lại nơi các bản Phúc Âm, tôi lại một lần nữa xác quyết với các bạn rằng: vì tôi yêu 10 khuyết điểm này của Chúa Giêsu, nên chọn Chúa Giêsu làm Thầy, làm Mẫu-mực tuyệt đối cho đời tôi. Tôi cũng tâm sự với các bạn rằng, cho đến giây phút này, tôi không hề có một chút gì ân hận, Chúa Giêsu đã cuốn hút cuộc đời của tôi. Vì Chúa là Tình Yêu đã dẫn lối cho tôi đi, đặc biệt trong những ngày tháng tôi cảm thấy xao xuyến, bứt rứt; chúng đã đem lại nguồn vui và hy vọng cho tôi, nhất là trong những giây phút khổ đau, tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi. Các bạn biết lý do tại sao không? Vì 10 khuyết điểm đó phát xuất từ Tình yêu thương mà Thiên Chúa là cha chúng ta ban cho để chúng ta được sống nhờ Chúa Giêsu:
“Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15,13).
Tình yêu đó không nhớ lỗi lầm, không tính toán, không xét nét, không vị kỷ, không phê phán, không câu chấp, không gò bó, không biên giới, không điều kiện; Tình yêu đó yêu điên cuồng đến độ phiêu lưu và hy sinh cả mạng sống mình; tình yêu đó khác với mẫu mực nhỏ hẹp của xã hội và của lối cân nhắc giới hạn của chúng ta. Chúa là Ðấng trọn lành, làm sao có khuyết điểm được, nhưng Chúa lại là tình yêu vô hạn, mầu nhiệm. Trí khôn loài người không hiểu nổi, không tin nổi, nên gọi là khuyết điểm! Khuyết điểm ấy lên đến cùng độ trên thánh giá. Cả 10 khuyết điểm cô đọng vào đó, khi người lính thách đố Chúa: "Nếu ông thật là con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi Thánh giá để chúng tôi tin" "Chúa Giêsu thinh lặng, lại còn cầu nguyện: “Xin Cha tha cho họ...”. Lạy Chúa, lúc ấy Chúa không chết thì làm sao chúng con được sống đời đời.
Tôi khích lệ các bạn chọn lựa cuộc sống làm chứng 10 khuyết điểm tuyệt vời đó của Chúa Giêsu.
Và để chấm dứt buổi chia sẻ này tôi xin kể cho các bạn một sự kiện trong cuộc đời của một danh nhân thế giới đã từng chọn Chúa Giêsu, chọn giáo huấn của Ngài, một giáo huấn mà ông ấy cho là kỳ lạ, mâu thuẫn “Kitô giáo kỳ lạ” (Le Christianisme est étrange, Pascal, Pensées, no 537). Danh nhân ấy là ông Blaise Pascal (1623-1662). Khi ông Pascal vừa qua đời vào tuổi 39, người giúp việc trong gia đình xin người chị của ông cho phép mở gấu áo ông mặc lần cuối để xem ông thu giấu cái gì trong ấy. Vì mỗi lần thay áo cho ông, chị giúp việc thấy ông luôn mở gấu áo cũ lấy một cái gì trong ấy rồi lại tự may vào gấu áo mới. Người chị của Pascal cũng như người giúp việc cắt gấu áo và thấy có một miếng giấy nhỏ, trên ấy ghi vỏn vẹn câu sau đây:
“Sự sống đời đời là hiểu biết và yêu mến Ðức Kitô và Ðấng đã sai Người... lửa, lửa, lửa; nước mắt, nước mắt, nước mắt của tình yêu”. Ðó là bí quyết của B. Pascal một văn hào, một triết gia, một nhà toán học.

ĐHY. P.X. Nguyễn Văn Thuận



 

(Mã số: 17-103)

Nga đẩy cánh cửa bước ra khỏi phòng. Cô cảm thấy mệt mỏi khi cứ giam mình trong bốn bức tường chật hẹp. Thế giới ngoài kia ồn ào và hối hả quá. Những người, những xe lướt nhanh trên mặt đường nhựa. Nga không biết mình còn có thể nhìn thấy thế giới nhỏ bé này bao nhiêu lần nữa. Ngày mai liệu rằng có dành cho cô không? Như thường lệ, cô nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế đá trước đền Đức Mẹ để cùng tâm sự và cầu nguyện trong vòng chuỗi Mân Côi từ túi áo quen thuộc.
Tuấn nhìn thấy bóng dáng nhỏ bé của Nga, anh liền đi tới. Nga nhìn Tuấn, khóe mắt hoe đỏ nhưng không nói lời nào. Hai người cứ ngồi bên nhau nhìn say đắm hình tượng Đức Mẹ như thế cho đến khi ánh điện đã sáng hẳn cả góc phố. Huế đã lên đèn rồi. Mọi thứ dường như lung linh mờ nhòa hơn. Nga thở dài:

- Tuấn này, cậu có nghĩ tớ còn cơ hội cho ngày mai không?
- Còn chứ! Nhất định! Không chỉ ngày mai mà nhiều ngày sau nữa, chắc chắn.
Nga quay sang nhìn Tuấn, nhìn sâu vào đôi mắt quen thuộc luôn luôn đồng cảm và chia sẻ với cô. Tuấn tiếp lời:
- Cậu có nhìn thấy Đức Mẹ đang cười không?
- Có chứ, tất nhiên rồi!
- Vậy đó, Mẹ đã chịu đau khổ rất nhiều: chịu mất Con yêu dấu của mình và chịu cảnh nhìn con cái Mẹ trên trần gian hết lần này tới lần khác xúc phạm đến trái tim tinh tuyền của Mẹ. Nhiều lần hiện ra, mẹ khóc lóc, van nài con cái Mẹ hãy ăn năn sám hối, siêng năng lần chuỗi Mân Côi để cầu nguyện hòa bình cho thế giới… Nhưng Hội Thánh vẫn luôn để hình tượng của Mẹ luôn mỉm cười để nhắc và dạy chúng ta rằng: Mẹ là người luôn luôn điềm tĩnh, luôn suy đi nghĩ lại mọi chuyện trong lòng và nhất là lúc nào cũng nhận lời con cái của Mẹ kêu xin như người Mẹ hiền hiểu ý các con…
- Tớ biết nhưng nó có ý nghĩa gì?
- Mẹ đã có những lúc tuyệt vọng và nếu như chúng ta thì không thể nào bước tiếp đi được nữa. Nhưng nụ cười của mẹ đã chứng minh Thiên Chúa đã ban cho Mẹ ơn sức mạnh, giúp Mẹ cất hết nỗi đau trong lòng và thực hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa…
Nga nhẹ nhàng bỏ hai tay vào túi áo nhưng vẫn còn nắm chặt tràng chuỗi Mân Côi. Cô rất bất ngờ vì bao lâu nay cô không hiểu hết những điều tuyệt vời của “nữ tì Thiên Chúa”. Nhưng Tuấn cũng không thể nào hiểu được tâm trạng của cô. Nga nhìn Tuấn và giọt nước mắt đã rơi từ lúc nào cô không kịp đón nhận. Tuấn ôm cô vào lòng, trong vòng tay anh cô cảm thấy mình rất nhỏ bé. Nga đẩy anh ra, mỉm cười:
- Cảm ơn anh vì tất cả!
Cô biết câu nói ấy không cần thiết nhưng không hiểu sao cô lại buột miệng nói ra. Lời cảm ơn xem ra thật thừa thãi. Tuấn đã làm mọi thứ chỉ để nhìn thấy nụ cười của cô. Nhưng trái tim cô lại hướng về một người con trai khác. Là Bảo. Quê bảo ở Lào Cai, một nơi khá xa thành phố Huế êm đềm thơ mộng này. Lào Cai mà cô từng nghe Bảo nói với một tình yêu rất lớn. Cũng giống như cô yêu Huế của mình vậy. Thậm chí Huế với Nga là máu thịt không thể tách rời. Còn Bảo đã chấp nhận tách rời mảnh đất ấy để đến Huế, để dựa vào lòng Huế khi người con gái anh yêu bỏ mặc anh. Cô đã gặp anh vào một mùa thu nhẹ nhàng cách đây 5 năm. Bảo ngồi ở ghế đá và đang chơi đàn ghita. Anh say sưa hát. Còn cô thì đang chăm chú dán mắt vào cuốn sách vừa mượn được ở thư viện sáng nay. Nga không thể nào tập trung đọc khi tiếng nhạc cứ ập thẳng vào tai. Cô định đứng dậy rời đi nơi khác nhưng chính giọng hát trầm ấm của Bảo đã níu cô lại.
“ Ánh trăng mỏng manh
Khẽ rơi bên thềm
Nhẹ như khúc ca êm đềm
Đóa hoa mùa thu
Rơi ngát hương đêm
Đợi chờ ai trong nỗi nhớ giăng đầy…”
Cô đứng ngơ ngẩn nhìn Bảo cho đến khi anh cất đàn đi, không hát nữa. Nga cảm nhận được lời bài hát trĩu nặng tâm sự. Cô vốn là người nhìn ra được những thứ cảm xúc mà người khác cố tình che giấu- một cách rất giỏi. Tự nhiên, Bảo đứng dậy bước đến, cười hỏi:
- Bạn ơi, cho tớ hỏi Trường sư phạm nằm ở đâu?
Nga vẫn chưa hết bất ngờ và ngại ngùng vì chính cô lúc nãy đã nhìn anh rất lâu. Cô luống cuống:
- Anh đi thẳng…rẽ phải là đến!
Cô phải mất thêm mấy phút nữa để định hình lại cảm xúc vừa thoáng qua. Chỉ đơn giản là một câu hỏi từ Bảo, tại sao cô lại run đến thế. Giọng nói ấy không phải là người Huế. Vậy anh ta từ đâu đến nhỉ? Chất giọng trầm và ấm lắm!
Nga đang nhớ lại lần đầu tiên gặp Bảo ở công viên - ngay tại nơi này tim cô đã biết thế nào là rung động. Thật ra tình cảm rất khó để lí giải. Cũng không phải tự nhiên mà có được. Song khi nó đến thì nghiễm nhiên người ta sẽ thừa nhận.
Rồi tình cờ cô gặp lại anh ở nhà sách. Lần này cô đang cố với tay lấy quyển sách nằm trên cao. Nhón mãi vẫn không lấy xuống được. Anh từ đâu xuất hiện đưa nó cho cô và tủm tỉm cười:
- Cố ăn nhiều vào cho chóng lớn mà lấy sách ở trên cao nhé, cô bé!
Nga ngượng đỏ mặt rồi chạy đi tìm một góc khuất nhất ngồi đọc cho yên tĩnh. Những ngày sau, tần số gặp anh nhiều hơn. Cô luôn bỏ sẵn máy tính trong cặp để hứng lên là ngồi viết truyện. Cô mong một ngày không xa tác phẩm của mình sẽ được in thành sách và xuất bản thật nhiều. Cô cảm thấy sung sướng khi nghĩ đến những điều đó. Đang ôm laptop và cười một mình thì anh đã ngồi xuống đối diện và nhấm nháp tách cafe sữa từ bao giờ. Cô  biết anh đang ngồi cùng nhưng lại tỏ ra không quan tâm. Anh cũng ngồi uống từng ngụm nhỏ rồi nhìn ra bên ngoài. Ở đây có thể nhìn thấy cây cầu trắng nối đôi bờ sông Hương. Anh thích thú nhìn ngắm những chiếc xích lô đang chở khách du lịch nối đuôi nhau vòng vèo. Rồi Bảo gõ nhẹ xuống bàn gây sự chú ý với cô, hỏi:
- Em đã bao giờ đi dạo quanh thành phố bằng xích lô chưa?
Cô ngước lên tròn mắt:
- Em sống ở đây nên chỉ đi dạo bằng xe đạp thôi! Có khi dạo hết cả Huế này rồi!
- Anh hỏi là đi bằng xích lô cơ mà?
- Vậy thì chưa ạ! - Cô tiếp tục chúi mắt vào màn hình và gõ liên tục. Hôm nay tự dưng có người làm phiền khiến câu chữ cứ rối cả lên. Bảo biết cô chắc đang ấm ức vì anh cứ làm phiền khiến cô không tập trung được. Nhìn là hiểu. Bảo lóe lên suy nghĩ sẽ chọc cho cô phải tức điên lên. Anh tiếp tục hỏi:
- Ở Huế mà chưa đi dạo bằng xích lô à? – Giọng có chút châm biếm - Hay hôm nay làm hướng dẫn viên du lịch cho anh đi! Anh sẽ trả công!
Cô dừng tay trên những phím gõ và im lặng. Hướng dẫn viên du lịch à? Nghe có vẻ hay đấy. Nhưng mình với anh ta có thân đâu, không nên nhận lời. Cô nghĩ thế và lắc đầu từ chối.
- Anh sẽ đãi em một chầu lớn. Đồng ý đi!
Lúc này cái bụng đói của cô bắt đầu biểu tình dữ dội nên cô lại đắn đo. Nhắc đến đồ ăn miễn phí là mắt cô sáng lên rồi. Tự nhiên cô gật đầu.
Cô và anh cùng ngồi lên xích lô và cười nói luyên thuyên. Không ngờ lại nhanh chóng hợp nhau quá. Sau khi chạy một vòng quanh thành phố, cả hai dừng lại ăn phở và đi dọc bờ sông Hương. Anh trầm trồ:
- Chà! Thích thật chứ! Ngày xưa nghe Hoàng Phủ Ngọc Tường kể chuyện sông Hương đã thấy nó đẹp. Giờ tận mắt nhìn mới thấy hơn thế nữa!
Nga lặng nhìn những cảnh ở sông nên không chú ý đến lời khen tấm tắc của Bảo. Cho đến khi anh lay lay cánh tay cô :
- Nãy giờ có nghe anh nói gì không hả cô bé ?
- Em là sinh viên rồi nhé ! - Cô lườm anh - Không thích gọi vậy đâu !
- Rồi rồi…- Anh gật gật- Thế em tên gì?
- Dạ...Thiên Nga, còn anh?
- Gia Bảo! Mà tên em hay thật!
- Em thấy nó cũng bình thường thôi.
- Đâu! Hay mà! Thiên Nga là một loại chim trời, biểu trưng cho sự chung thủy, đúng không?
Cô chớp mắt ngạc nhiên:
- Tài thật! Bộ anh biết đoán ý nghĩa tên à?
- Thì nó sờ sờ ra rồi còn gì!
Cũng đã gần trưa, hai người cũng đã thấm mệt. Cô dẫn anh vào thăm địa điểm cuối cùng đó là ngôi nhà thờ mà người Huế quen gọi là “nhà thờ Dòng” (nhà thờ Đức Mẹ hằng cứu giúp) ngồi xuống bóng mát đền Đức Mẹ.
- Em theo đạo Công Giáo à!
- Dạ, còn anh!
- Tin Lành! Khác nhỉ…
Nga chợt hành động theo thói quen lúc bé mẹ cô hay dạy:
- Em với anh cùng nhau cầu nguyện cùng với Đức Mẹ đi.
- Bên Đạo anh không cho phép thờ Đức mẹ Đồng Trinh và cầu nguyện với Bà. Và chưa bao giờ anh làm điều như em làm cả.
Câu nói của anh làm cho cô im lặng. Tại sao lại có sự xa cách như vậy. Cũng là tôn vinh Thiên Chúa tình yêu nhưng tại sao lại có những điểm khác như thế. Mọi thắc mắc cùng với những câu hỏi tràn ngập đến cô. Cô buồn vì có lẽ cô với Bảo không thể tiến tới hạnh phúc hôn nhân được, dù rằng cô đã có tình cảm với anh, vì trái quan điểm tôn giáo.
Và như thế, cô đã quyết định từ bỏ cái tình cảm mới chớm nở đầu tiên của mình. Nhưng cô càng đau khổ hơn khi biết rằng buổi gặp mặt hôm ấy cũng là buổi gặp mặt cuối cùng giữa Nga với Bảo… Cô nhận được cuộc thoại từ phía bạn bè của Bảo. Anh ra đi khi Nga đã từ chối tình cảm của anh trong một vụ tai nạn. Nước mắt rươm rướm như muốn chảy ngược lại trong tim khi người mà cô từng nghĩ rằng sẽ xây dựng hạnh phúc gia đình đã bỏ cô lại.
Giờ đây, Bảo đã đi xa và không bao giờ quay trở lại. Nga cầm tràng chuỗi trên tay lần hạt để cầu nguyện cho Bảo. Mọi thứ như bị sụp đổ và dừng lại. Phải chăng Chúa đã ban cho cô một dấu chấm ngay giữa cuộc đời khi mà cô chưa đủ sức để vượt qua (mồ côi cha, mẹ từ nhỏ), giờ đây lại thiếu vắng tình yêu. Trong lòng cô vẫn luôn mong ngóng một điều gì đó thật tốt đẹp từ Thiên Chúa.
Hàng nước mắt chảy ra từ rất lâu rồi. Nhưng Tuấn không thể nào với tay và lau nước mắt cho cô được, vì đối với Nga anh chỉ là một người bạn. Bỗng,…
- Nga cậu có thấy ngôi sao xa xôi kia không? Đố cậu nó có lẻ loi không?
- Không! Vì xung quanh còn có những ngôi sao khác! Chúng cùng nhau tỏa sáng!
- Thật ra… những ngôi sao ấy cũng cách nhau rất xa. Và một ngôi sao vẫn sáng cho dù không có sự tồn tại của những ngôi sao khác. Nó vẫn sáng dù nó lẻ loi. Cậu cũng phải như vậy!
- À ừm… Khoảng cách có quan trọng không Tuấn?
- Có chứ! Nhưng là khoảng cách giữa người với người. Chứ khoảng cách địa lý thì không tính!
Nga im lặng. Cô không biết nói gì. Nhưng chính sự im lặng ấy đã trả lời cho tất cả. Chỉ Thiên Chúa mới hiểu cô đang nghĩ gì lúc này. Tuấn cười buồn:
- Này Nga! Cậu đang nhớ anh ta à?
- Ừ... một chút thôi! Nhưng cũng chẳng để làm gì…vô nghĩa quá!
- Cậu có biết cuộc sống có những phép thử cho mỗi người không ?
- Vậy hả? - Nga nghiêng đầu
- Trên đường thời gian của mỗi người, có những người chúng ta bắt buộc gặp. Có thể chỉ để nhận từ họ một vài điều gì đó.
- Ừm…
- Vì vậy cậu đừng buồn nữa. Hãy tin tưởng vào tình thương của Chúa và Đức Mẹ. Hãy chấp nhận mọi thứ Người đã an bài và sống cho thật tốt! Và…vẫn luôn có tớ bên cạnh mà…
Nga biết Tuấn rất yêu cô, và cô cũng có chút tình cảm vượt qua tình bạn đối với anh. Nhưng trong lòng, cô không thể nào cho anh một cơ hội. Vì nếu như vậy cô sẽ cảm thấy rất có lỗi với anh vì đã yêu Bảo trước anh. Bỏ qua những dòng suy nghĩ, cô tiếp chuyện:
- Cậu biết không? Có thể ngay ngày mai tớ sẽ không còn nhìn thấy bầu trời đầy sao này nữa!
- Đừng nghĩ như vậy… Mọi chuyện rồi sẽ ổn!
“Mọi chuyện rồi sẽ ổn” - Nga đã nói câu ấy nhiều lần sau mỗi lần cầu nguyện để thêm mạnh mẽ mà cố gắng vượt qua hiện tại. Qúa khứ ngọt ngào mà cô có giờ không còn nữa, không kéo dài được lâu. Nếu cứ tiếp tục chìm đắm trong đó thì hóa ra cô đang đầy ải mình. Chỉ có người bỏ lỡ đi tuổi xuân mới phải nuối tiếc. Còn cô, tuổi xuân của cô là phía trước. Cô chỉ đang chạm những bước đầu tiên lên con đường kì lạ mang tên “thay đổi để khác” mà bất kì ai cũng phải trải qua. Ai rồi cũng thế thôi. Cũng phải khác đi mỗi ngày. Đi qua những yêu thương nồng nhiệt, ngọn lửa tình sẽ tắt hoặc âm ỉ. Cuộc sống luôn khiến người ta phải thay đổi dù muốn hay không…
Một buổi sáng, mưa lách tách rơi, chạm nhẹ vào lòng cô những thanh âm khắc khoải. Nga ngồi nhổm dậy và mông lung nghĩ. Bệnh của cô đã có phần tốt hơn trước. Mắt cô sẽ được điều trị để khỏi hẳn. Bác sĩ đã nói với người thân cô về sự tiến triển tốt hơn mà không có lí do nào giải thích được cả. Phải chăng là phép mầu từ Thiên Chúa? Có lẽ vẫn còn phép màu hiện hữu trên thế gian này. Trước khi tiến hành phẫu thuật, Nga nắm lấy tay Tuấn:
- Cậu có thể hứa với tớ một chuyện không?
- Được! Cậu nói đi!
- Khi tớ phẫu thuật xong, tớ muốn cậu đi với tớ đến một nơi!
- Ừ…đi với cậu đến bất cứ đâu cũng được. Yên tâm mà phẫu thuật nhé! Đồ ngốc!
Ngày hôm sau, Nga tiến hành phẫu thuật. Cái chạm tay trước khi vào phòng mổ đã làm rơi tràng chuỗi Mân Côi từ tay Nga. Theo lời yêu cầu của bác sĩ, Tuấn ở ngoài. Anh đứng ngồi không yên khi cánh cửa vẫn khép chặt suốt hai tiếng. Gục đầu tuyệt vọng, anh thấy tràng chuỗi Mân Côi của Nga. Anh không ngờ bao lâu nay Nga vẫn luôn trông cậy vào Chúa và sự bầu cử của Đức Mẹ. Thời gian trôi quá chậm cho một người chờ đợi một người có phải không? Anh bắt đầu nghĩ đến Chúa và Đức Mẹ. Tuấn bắt đầu lần chuỗi trong hi vọng ở Thiên Chúa. Anh mong một điều kì lạ xảy ra với anh và cả Thiên Nga nữa…
Dù đã tự trấn an mình và phó dâng mọi chuyện cho Chúa nhưng Tuấn vẫn sợ những rủi ro mà ông ấy nói là có nguy cơ xảy ra trong quá trình phẫu thuật. Tỉ lệ thành công mĩ mãn là 60%.
Nhưng Nga đã gật đầu đồng ý theo sự quan phòng của Thiên Chúa. Cô không sợ chết, càng không sợ mắt mình không còn nhìn thấy gì. Cô vẫn có trái tim để cảm nhận tình thương của Thiên Chúa và mọi người dành cho cô mà.
Tuấn chẳng biết làm gì để tay chân khỏi lóng ngóng. Anh đặt tay lên ngực và cố gắng giữ cho mình thật bình tĩnh. Không hiểu sao nhưng anh thấy khó thở khi nghĩ đến chuyện Nga có thể không nhìn thấy được nữa. Mọi lo lắng của anh dồn dập và cuối cùng đã có câu trả lời:
- Người nhà của Thiên Nga…
- Dạ… - Tuấn vội vã
- Ca mổ thành công.
Không tin vào những gì mình đang nghe, anh cố lấy hết bình tĩnh trong lòng. Nụ cười và những giọt nước mắt hạnh phúc tràn trề trên gương mặt của anh. Anh la lên “tạ ơn Chúa, cảm ơn Mẹ”. Cả bệnh viện và người thân của Thiên Nga chẳng hiểu việc gì đang xảy ra với anh. Nhưng có lẽ anh đang rất vui.
Một tuần đã trôi qua, Nga đã vượt qua căn bệnh của mình trong tình thương của Thiên Chúa và mọi người - nhất là Tuấn… Cô đã hiểu ra được tình cảm mà Tuấn luôn dành cho cô. Nga cảm thấy có lỗi vì bao năm qua chính cô đã làm cho Tuấn buồn. Và hai người đã quyết đinh tiến tới hôn lễ.
Chiều nay, nhà thờ trang hoàng hoa nến lộng lẫy để cử hành thánh lễ Hôn phối cho Nga và Tuấn. Hai người nắm tay và trao cho nhau những lời yêu thương trước mặt Thiên Chúa. Nhưng không ai thể nào hiểu được sự kì lạ của cô dâu và chú rể. Sau Thánh Lễ hai người không về nhà mà dắt nhau tới đền Đức Mẹ, chọn đúng chiếc ghế đá đã gợi cho Thiên Nga biết bao kỉ niệm trong quá khứ. Nga dâng cho Mẹ bó hoa hạnh phúc mà cô đang cầm trên tay. Cảm ơn Mẹ đã gìn giữ cô bao ngày tháng, tri ân Mẹ vì biết bao ân huệ mà ngày đêm Mẹ van nài cùng Thiên Chúa cho chúng con.
Hai người cùng nhau lần chuỗi đến hết và ra về nhà. Và trong lòng Nga vẫn không ngừng suy nghĩ những biến cố mà chính cô đã trải qua mà chỉ Thiên Chuá mới hiểu. Thiên Chúa đã cho cô một dấu chấm nhưng đó không phải là điểm dừng như trong một văn bản. Dấu chấm mà Thiên Chúa ban cho cô giúp cô biết dừng lại và nhìn lại khi quá mù quáng mà không nhận ra tình thương của mọi người xung quanh. Cầm tràng chuỗi trên tay cô cảm thấy có thêm nghị lực trong cuộc sống. Thật đúng khi Mẹ đã tin vào lời sứ thần “không có gì mà Thiên Chúa không thể làm được” mà phó dâng mọi chuyện cho Thiên Chúa.
Sương đã rơi, không khí càng thêm lạnh. Nhưng ân tình của Thiên Chúa, Đức Mẹ và tình yêu giữa con người thì không bao giờ có điểm dừng và lạnh giá. Mà ở đó chỉ có tình yêu tràn ngập hơi ấm. Ai trong chúng ta cũng được Thiên Chúa ban cho một “dấu chấm” được ẩn hiện trong mỗi biến cố để chúng ta nhìn lại. Nhưng chúng ta có siêng năng cầu nguyện, lần chuỗi cùng Đức Mẹ để nhận ra điều đó chăng?

Thưa quí độc giả và quí tác giả,
Trong cuộc họp mặt các tác giả 21-22/9/2016, một số vị đã băn khoăn nêu câu hỏi: Sau khi Giải Viết Văn Đường Trường kết thúc vào mùa thu 2018, đâu sẽ là không gian và cơ hội để các bạn trẻ yêu thích văn thơ Công giáo cùng giao lưu gặp gỡ. Được sự chúc lành của Đức Giám mục bản quyền, Ban mục vụ Văn hóa và Giáo dục của Giáo phận Qui Nhơn đã xúc tiến thực hiện một tuyển tập thơ văn định kỳ, mang tên Mục Đồng để đáp ứng thao thức ấy.
Tập san Mục Đồng ban đầu dự kiến sẽ phát hành số ra mắt dịp Tết Đinh Dậu, thế nhưng mãi gần đây mới in xong. Ngày 24-4-2017, Ban Biên tập đã có buổi gặp gỡ để cùng nhau vui mừng cầm món quà bé bỏng trên tay, mà cảm thấy cả một hồng ân hết sức lớn Chúa đang xuống.
Cùng với Tập san in, dự tính cứ ba tháng phát hành một số, Ban Văn hóa và Giáo dục của Giáo phận Qui Nhơn còn xúc tiến thực hiện một website song song, cũng mang tên Mục Đồng: www.tapsanmucdong.net. Website đã khai trương dưới sự bảo trợ của Thánh cả Giuse trong ngày lễ của ngài, 01-5-2017.
Ngoài mục đích tạo giao lưu gặp gỡ, cả ấn phẩm và trang mạng Mục Đồng còn mang ước vọng giúp các bạn trẻ chí thú trau dồi tiếng Việt.
Trong những lần họp mặt trao giải Viết Văn Đường Trường, cách riêng là dịp năm 2015, các tác giả hiện diện đã thốt lên tiếng lòng thổn thức trước tình cảnh tiếng Việt thân yêu đang bị suy thoái trầm trọng. Các con cái Chúa đặc biệt thấy xót xa vì tiếng mẹ đẻ là phương tiện không thể thay thế được trong công cuộc loan báo Tin mừng cho đồng bào người Việt. Các cuộc thi văn thơ và các câu lạc bộ “văn học trẻ” của Giáo phận Qui Nhơn và Giáo phận Kontum đang là những nỗ lực kiên trì và miệt mài để trau dồi khả năng sử dụng tiếng Việt cho con em trong giáo phận mình. Một số người trong quý vị và các bạn cũng đang có những cố gắng hết sức đáng ca ngợi với cùng mục đích ấy, nhằm giúp cho các em học sinh trong giáo xứ, với những hình thức lớp học, câu lạc bộ, facebook, trang web mini... Hẳn lắm lúc quý vị và các bạn cũng cảm thấy cô đơn lẻ loi…
Tập san báo giấy và website Mục Đồng hy vọng sẽ là người đồng hành với quý vị và các bạn trong nỗ lực chăm sóc tiếng Việt cho thanh thiếu niên và nhi đồng trong khu vực. Cùng lúc, Mục Đồng ước mong kế thừa di sản của cha anh với lòng biết ơn, xây dựng các tác giả trẻ thành đội ngũ tiếp tục chăm sóc cho lớp đàn em, và thêm nữa là khích lệ các mầm non ưu tú.
Theo hướng ấy, Ban Biên tập sẽ sắp xếp số trang của mỗi tuyển tập (từ số 2, mỗi số sẽ dao động từ 100 tới 120 trang) theo tiêu chí sau đây:
- 30 % dành cho các tác giả trên 40 tuổi.
- 70 % dành cho các tác giả từ 40 tuổi trở xuống, trong đó 20 % dành cho các tác giả còn trong độ tuổi đi học.
Còn trên website thì không có sự giới hạn về độ tuổi ấy. Mời mỗi người trong quý vị và các bạn ghé thăm và cùng tích cực đóng góp bài vở cũng như ý tưởng. Chúng tôi ước mong dần dần mỗi người sẽ khám phá ra sở trường của mình để thường xuyên tham gia vào những chuyên mục mình thích.
Xin hồi âm về email: <tapsanmucdong@gmail.com>
Cũng rất mong quý vị và các bạn tìm cách giúp giới thiệu rộng rãi Tập san và Website đến bạn trẻ xa gần, mời gọi mọi người đọc và viết bài đóng góp.
Chân thành cám ơn quý vị và các bạn. Nguyện chúc tất cả luôn an vui trong Chúa.
Tiếp đây, xin mời quý vị và các bạn thưởng thức 7 truyện mới đã vượt vòng loại và đang được chấm sơ khảo.
Qui Nhơn, ngày 03-5-2017
Lm. Trăng Thập Tự

Quý bạn Phật tử thân mến,

1. Nhân danh Hội đồng Toà thánh về Đối thoại Liên tôn, chúng tôi xin gửi lời chào trân trọng và nguyện chúc mọi điều tốt lành đến với quý bạn trong dịp lễ Phật Đản. Cầu mong dịp lễ này sẽ mang lại niềm vui và bình an cho tất cả các bạn, cho các gia đình các bạn, cũng như cho các cộng đồng và các quốc gia.

2. Năm nay chúng tôi muốn suy tư về nhu cầu cấp bách để thúc đẩy một nền văn hóa hòa bình và bất bạo động. Tôn giáo đang ngày càng trở thành mối bận tâm của thế giới hôm nay, thế nhưng đôi lúc nó lại đi theo những cách trái ngược nhau. Trong khi nhiều tín đồ dấn thân thăng tiến hòa bình thì cũng có nhiều người lại lợi dụng tôn giáo để biện minh cho những hành động bạo lực và oán thù của họ. Chúng ta thấy có sự cứu giúp và hòa giải cho các nạn nhân bị bạo lực, nhưng đồng thời cũng thấy một số đòi xóa bỏ mọi dấu vết và ký ức của “tha nhân”. Có sự cộng tác giữa các tôn giáo mang tính toàn cầu song cũng có việc chính trị hóa tôn giáo; và, dù có sự cảnh báo về nạn đói nghèo và thế giới đói khổ; thế mà cuộc chạy đua vũ trang vẫn tiếp tục. Bối cảnh này đòi hỏi sự kêu gọi bất bạo động, loại trừ bạo lực dưới mọi hình thức.

3. Đức Giêsu Kitô và Đức Phật đều cổ vũ bất bạo động và là những người xây dựng hòa bình. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô viết: “Chính Đức Giêsu cũng đã sống trong thời kỳ đầy bạo lực, Ngài đã dạy rằng chiến trường đích thực trong đó bạo lực và hòa bình giao tranh nhau lại chính là tâm hồn con người (Mc 7,21). (thông điệp nhân ngày Hòa bình thế giới năm 2017, bất bạo động – một phong cách của các chính trị gia vì Hòa Bình, số 3). Ngài nhấn mạnh thêm: “Chúa Giêsu vạch ra con đường bất bạo động, con đường mà Ngài đi tới cùng, tới thập giá, nhờ đó Ngài thực thi hòa bình và phá hủy sự thù nghịch” (Eph 2, 14-16). Vì thế, “để trở thành môn đệ đích thực của Chúa Giêsu cũng có nghĩa là gắn bó với lời dạy của Ngài về bất bạo động”.

4. Các bạn thân mến, đấng sáng lập của các bạn, Đức Phật cũng loan báo một sứ điệp về hòa bình và bất bạo động, khuyến khích mọi người: “chiến thắng kẻ giận dữ bằng sự kiềm chế, chiến thắng kẻ gian ác bằng từ tâm, chiến thắng kẻ lầm than bằng sự quảng đại, và thắng kẻ gian dối bằng sự thật” (Kinh Pháp Cú [Dhammapada], n. XVII, 3). Đức Phật còn dạy thêm rằng: “Chiến thắng nảy sinh hận thù, kẻ bị đánh bại lại ở trong đau đớn. Thật hạnh phúc khi được sống trong hòa bình –không có chiến thắng, không có thất bại”. Vì thế, Ngài dạy rằng chiến thắng chính bản thân mình thì vĩ đại hơn là chinh phục những người khác: “Một người có thể chinh phục được một ngàn vạn quân trong trận đánh, nhưng thực ra điều cao quý nhất là anh ta đã chiến thắng chính bản thân mình”.

5. Dù có những điều dạy cao quý này, nhưng nhiều người trong xã hội đã và còn phải đối diện với những vết thương chưa nguôi do bạo lực và các mâu thuẫn gây ra. Hiện tượng này bao gồm bạo lực gia đình cũng như bạo lực về kinh tế, xã hội, văn hóa và tâm lý và cả bạo lực chống lại môi trường- ngôi nhà chung của chúng ta. Đáng buồn thay, bạo lực gây ra các tệ nạn xã hội, chính vì thế “việc chọn lựa bất bạo động như một lối sống đang ngày càng cấp thiết trong việc thực thi trách nhiệm của mình ở mọi cấp độ…”(diễn từ của Đức giáo hoàng Phanxicô dịp giới thiệu các thư ủy nhiệm, ngày 15 tháng 12 năm 2016).

6. Mặc dù chúng ta thừa nhận rằng hai tôn giáo có những nét đặc thù riêng, nhưng chúng ta đồng ý là bạo lực nảy sinh từ trái tim con người, và cái ác của con người đưa tới những cơ cấu gian ác. Vì thế chúng ta được kêu gọi tham gia vào một công cuộc chung: tìm hiểu những nguyên nhân gây ra bạo lực, để hướng dẫn cho các tín đồ cách thắng ác trong tâm hồn của họ; để giải thoát các nạn nhân cũng như các thủ phạm khỏi những hành vi bạo lực; để đưa tội ác ra vành móng ngựa và đương đầu với những người gây ra bạo lực; để huấn luyện tâm trí của tất cả mọi người, đặc biệt là các trẻ em; để yêu thương và sống trong an bình với tất cả mọi người và với môi trường; để giảng dạy rằng không có hòa bình nếu không có công lý, và cũng không có công lý đích thực nếu không có tha thứ; để mời gọi tất cả mọi người cộng tác vào việc phòng ngừa các xung đột và tái thiết các xã hội bị đổ vỡ; để khuyến khích các phương tiện truyền thông xã hội tránh và bài trừ những diễn văn oán thù, và những bản tường thuật khiêu khích; để khuyến khích những cuộc cải tổ giáo dục, phòng ngừa sự giải thích xuyên tạc về lịch sử và các sách thánh; sau cùng là để cầu nguyện cho hòa bình trên thế giới qua việc cùng nhau tiến bước trên con đường bất bạo động.

7. Các bạn thân mến, chúng ta có thể chủ động bắt đầu ngay từ trong gia đình mỗi người, trong các tổ chức xã hội, chính trị, dân sự và tôn giáo một lối sống mới - nơi bạo lực bị loại trừ và con người được tôn trọng. Cũng trong tinh thần đó, một lần nữa chúng tôi cầu chúc các bạn mừng lễ Phật Đản tràn đầy niềm hoan hỉ và an lạc !

 

Thành Vatican

Hồng y Jean- Louis Taura, Chủ tịch

Giám mục Miguel Ángel Ayuso Guixot, MCCJ, thư ký

Chuyển ngữ

Nga Hồ, nhóm VTCG



Mã số: 17-101

Ngày hè đến với những cơn nắng dịu và những cơn mưa nhẹ nhàng. Nhớ về tuổi thơ chắc có lẽ nhớ nhất là những ngày hè. Thiện Nhân cũng thế, trong những ngày hè mà ký ức còn đọng lại của Nhân, mọi thứ như mới ngày nào…
* * *
- Trọng ơi có nhà không? – Tiếng Thiện Nhân và Thiện Nghĩa gọi í ới.
- Tui nè. Nghe là biết ngay hai người. Có chi không vậy?
- Nay trên nhà thờ tụi này có buổi sinh hoạt vui lắm. Đi không?
Trọng cười tít mắt tỏ vẻ thích thú, chạy vào xin phép mẹ rồi đi ngay cùng tụi bạn.

Thiện Nghĩa và Thiện Nhân là hai anh em, chênh nhau có một tuổi. Trọng thì mới chuyển về đây sống độ mấy tuần. Trọng biết về nhà thờ, biết về Chúa, hiểu đức tin, nhưng khác hai người kia. Gia đình Trọng theo Tin Lành. Nói khác là khác vậy, chứ tuổi nhỏ nên cả ba chẳng biết gì nhiều và cũng chẳng quan tâm. Với đầu óc của tụi nhỏ, chơi với nhau thấy vui là chơi, quan tâm nhiều chi mệt.
Nhưng, con nít là thế còn người lớn thì không vậy.  Ngày cùng nhau đến nhà thờ ấy, có một chuyện không vui đã xảy ra. Cả đám thiếu nhi đang nhảy nhót vui vẻ trong buổi sinh hoạt, bố Trọng bước vào trông không được vui. Thấy bố, Trọng chạy đến ngay.
- Tại sao con lại đến đây? – Ông  gằn giọng.
- Tụi bạn sang rủ con đi chơi. Con có xin phép mẹ rồi mà bố.
- Con có biết đây là đâu không? Đây không phải là nơi thuộc về chúng ta. Bọn họ chỉ dụ dỗ con thôi.
Ông Minh - bố Thiện Nhân, đang phụ giúp công việc trong nhà xứ thấy thế mới tiến ra với hai cha con:
- Thôi nó muốn chơi thì để nó chơi.  Mà anh nói lạ, ai dụ dỗ gì chứ, đây là sân chơi lành mạnh của bọn trẻ…
- Lành mạnh gì chứ - Bố Trọng ngắt lời ông - Tôi biết Công Giáo các anh mà, các anh chỉ lôi kéo được mấy đứa con nít này thôi.
Nói rồi hai cha con dắt nhau bỏ về. Chỉ tội thằng Trọng, nó còn ngơ ra chưa hiểu gì. Còn ông Minh, ông cũng không hiểu. Qua dò hỏi mới biết gia đình mới chuyển về này theo Tin Lành. Cũng như bố Trọng, cả hai đều nghĩ mình đúng còn người kia sai. Đức tin của tôi mới đúng, còn của anh là sai…
Dù không quá lớn tiếng, nhưng ngày hôm đó tụi nhỏ đứng gần đấy đều nghe được cuộc trò chuyện không mấy vui ấy. Con nít bảy tám tuổi, đầu óc như tụi nó thì hiểu được cái chi. Buồn cái là kể từ đó, hai ông bố kỵ nhau đã đành, cấm luôn tụi nhỏ chơi chung, cứ bảo là lôi kéo này kia. Người lớn… mệt thật!
Tối vài ngày sau đó, Nhân nói với bố:
- Con thấy Trọng không có gì xấu, mấy lần sang chơi, cô chú đều rất dễ thương mà ba…
- Đấy là họ không biết về con. Giờ con thử sang đi, xem họ có còn dễ thương không.
Mẹ Nhân từ dưới lên:
- Anh nói kì, chuyện đạo là chuyện đạo. Họ đâu vì thế mà xua đuổi người khác. Bộ ai Tin Lành là xấu hết hả?
- Họ không xấu, nhưng họ khác chúng ta – Ông Minh vừa nói vừa nhìn lãng đi như tránh điều gì đó.
- Chúng ta khác nhau, nhưng không có nghĩa là không sống được với nhau.
Mẹ Nhân chỉ nói vài câu thế thôi rồi bỏ ra sau làm bếp.
Nhân cũng im lặng. Cô bé định hỏi bố gì đó nhưng lại không nói nữa. Nhân chỉ nghĩ thầm: Vui vẻ bình an không được sao, cứ phải như vậy với nhau hoài.  Ôi trẻ thơ, có những điều tưởng ngây dại nhưng hóa ra lại sâu sắc hơn cả người lớn!
* * *
- Nhân, Nghĩa ơi ! Dậy đi học con à.
Buổi sáng đầu tuần bắt đầu bằng những cơn nắng nhẹ. Mẹ Nhân gọi hai anh em dậy đi học. Ông Minh dắt xe ra, nhìn ông vẫn như mọi ngày, cái vẻ đăm chiêu cố hữu. Chắc chuyện bố Trọng và những gì vợ nói vẫn xoay vòng trong tâm trí ông.
- Ê thằng Trọng kìa Nhân.
- Ừ đúng rồi nó mà, sao hôm nay lại đi bộ thế. – Nhân và Nghĩa vừa nói vừa tròn mắt quay lại đằng sau nhìn.
Chợt ông Minh dừng lại. Vừa đó, Nhân và Nghĩa tuột xuống ngay, chạy về phía Trọng. Nghĩa nhanh nhảu:
- Ủa sao cậu lại đi bộ vậy.
- Nay bố tớ ốm rồi, sáng nay mẹ đưa bố đi bệnh viện. Không có ai, tớ phải tự đi thôi.
Tụi nhỏ chưa kịp nói gì thêm thì ông Minh đã xua tất cả về phía xe và giục:
- Thôi thôi mấy đứa, lên xe đi học nè. Trễ rồi đó!
Ông vừa nói vừa dắt tay tụi nhỏ, trong đó có Trọng.
- Nhân ra phía trước ngồi nha con. Để sau cho Nghĩa và Trọng ngồi.
- Thôi con đi bộ được rồi, chật xe chú khó lái – Nghĩa ngại ngùng.
- Từ đây đến trường cả mấy cây chứ ít gì. Tụi bây có chút xíu, to lớn gì đâu mà bày đặt. Lên đi chú chở đến trường.
Chiều đó đón hai anh em về, ông dòm dòm rồi quay sang hỏi Thiện Nghĩa:
- Thằng Trọng đâu hả con?
- Chắc nó ra giờ đó bố. Sao vậy bố?
- Bố nó ốm vậy, mẹ nó thì chăm ổng. Sáng không ai đưa đi học nên chắc giờ cũng không ai đưa về cho xem.
Đúng lúc đó thì Nhân thấy Trọng đằng xa, quay sang níu bố và chỉ về phía Trọng:
- Kìa, nó kìa bố.
Thấy Trọng, ông chờ nó đi đến rồi nói nhẹ nhàng:
- Lên chú chở về luôn.
Ông nói đúng một câu như thế, không nói gì hơn. Nhưng trong tâm hồn ba đứa nhỏ lúc này, ánh mắt ấy, lời nói ấy thật là đẹp. Người lớn, đôi khi không cần nói dông dài dạy dỗ bọn trẻ, chỉ cần một hành động đẹp cũng đủ làm chúng học một bài học giá trị.
Cứ thế mấy hôm sau, chắc cũng cả tuần, ngày nào ông cũng chở Trọng đi học rồi đón về cùng hai đứa con luôn. Ông cũng không cấm con chơi chung mà còn dặn là phải quan tâm tới Trọng chút, lâu lâu hỏi bố nó thế nào rồi. Thật ra ông cũng nghĩ về bố Trọng, nhớ cả cái lần xung đột không mấy vui. Con người, lắm khi cũng ngộ, chúng ta cứ giữ mãi trong lòng những thành trì ngăn cách, để mãi ngột ngạt với nỗi khổ tự tạo của chính mình. Đôi khi người lớn, lắm lúc cũng như trẻ con chỉ vì cái tự ái cố hữu.
Thiện Nhân bao giờ cũng báo cáo tình hình. Ông chỉ nghe rồi im, không bao giờ hỏi thêm.
Sáng Chúa nhật hôm đó, sau Thánh Lễ sáng, như có một sự thôi thúc, ông chạy chậm dần khi sắp đi ngang nhà Trọng. Vợ ngồi sau cũng đoán ý chồng nhưng chắc ông còn lưỡng lự. Chị nhanh tiếng vẻ trêu trêu:
- Muốn ghé thì ghé đại đi. Còn bày đặt.
Ông im lặng, nhưng ghé vào thật. Vừa thấy hai cô chú, Trọng mừng huýnh. Mẹ Trọng tiếp đón hai người rất nồng hậu, vui vẻ như chẳng nhớ gì đến những chuyện không vui trước đó. Ông Minh nhìn loáng thoáng căn nhà, thấy có treo một cây Thánh Giá ở giữa nhà, bên dưới là quyển sách Thánh Kinh. Bàn thờ họ đơn giản, không trưng bày nhiều như người Công Giáo nhưng cũng rất trang trọng và cung kính.
- Anh nhà đâu rồi chị nhỉ? - Mẹ Nhân lên tiếng hỏi.
- Ổng nằm ở phòng, chắc chưa hay anh chị đến đây. Sức ổng giờ yếu lắm.
- Mà ảnh bị ốm thế nào hở chị?
Tự nhiên nghe mẹ Nhân hỏi đến câu này, chị sa sầm nét mặt như muốn khóc. Một khoảng im lặng kéo dài. Mẹ Trọng bắt đầu nghẹn ngào:
- Ổng bị ung thư, mới phát hiện hồi tuần trước thôi. Tự nhiên đêm nằm khó thở, người tái mét. Tôi sợ quá đưa đến bệnh viện, mới hay…
Mẹ Trọng khóc.
- Ung thư sao?- Ông Minh lên tiếng, như thể ông không biết phải nói gì, trong lòng ông bây giờ sao mà khó tả.
- Dạ. Giai đoạn cuối rồi anh chị ạ. Trước giờ sức ổng cũng yếu dần, nhưng cứ nghĩ do sức khỏe suy giảm vì mấy cái bệnh lặt vặt. Ai dè…
Lúc này Trọng đang đứng đằng sau vách tường, nghe hết. Cậu bé bữa giờ cũng không hề hay biết gì. Trọng chạy ra ôm chầm lấy mẹ:
- Mẹ, ung thư là sắp chết hả mẹ? Bố con sắp chết thiệt rồi hả mẹ?
Cảnh tượng trước mắt khiến cho hai ông bà bàng hoàng. Không biết nói gì hơn, mẹ Nhân cũng tiến lại ôm lấy hai mẹ con và nhẹ nhàng:
- Xin Chúa nhân lành ở cùng gia đình chị.
Chợt ông Minh cất tiếng:
- Chị cho tôi lên gặp anh ấy được không?
Vừa nhìn thấy ông, bố Trọng tròn mắt, chưa kịp để đối phương nói gì, ông Minh đã cất tiếng:
- Thế nào rồi ông anh? Chắc hôm bữa gây nhau với tôi vài ba câu mà nằm luôn tới giờ đó hả?
- Anh còn đùa tôi thế à?
- Đùa… vẫn còn hơn là cãi nhau mà. Phải không?
Cả hai cùng nhìn nhau cười. Nụ cười sau bao nhiêu ngày cắn đắn nhau. Thật là lạ, đôi khi không cần giải thích câu nệ như tôi nói anh nghe, anh nói tôi nghe cái lí lẽ của nhau. Và rồi chỉ cần qua những câu nói bông đùa – nhưng chân thành thì mọi thứ như tan biến. Người lớn ngoài  bốn mươi rồi mà đôi khi nói chuyện như đứa trẻ thơ. Cũng có thể đó là một ơn biến đổi Chúa đã gieo vào lòng hai con người, để họ tìm gặp nhau nơi tình huynh đệ.
- Anh có còn ghét tôi không? Sau cái lần đó. - Giọng bố Trọng run run.
- Ghét chi cho mệt. Nói thiệt là cũng có, nhưng giờ tui quên rồi. Thế còn ông?
- Tôi cũng thấy áy náy. Ông biết không, tôi đã luôn nghĩ không tốt về những người Công Giáo. Cái định kiến đó nó theo tôi dai dẳng.
Ông Minh chưa kịp nói gì thì bố Trọng lại tiếp:
- Tôi biết ông cũng không thích tôi khi hồi trước tôi cư xử như thế. Mà thường những người Công Giáo không thích bên Tin Lành. Họ bảo chúng tôi là thệ phản. Ngày trước tôi ở Bắc, điều đó thấy rõ lắm. Có hôm vô tình nghe ông cha giảng là đừng tin vào những người Tin Lành họ lôi kéo, những gì họ nói sai lệch với đức tin. Tôi tức quá, thêm tự ái nữa nên thành ra không ưa Công Giáo các anh tý nào.
- Thế còn bây giờ?
- Tôi không biết. Nhưng đặc biệt ở anh, tôi thấy anh nghĩa tình. Anh chở con tôi đi học mỗi ngày, lại sang đây hỏi han và thăm tôi. Anh không sợ… bị lôi kéo à?- Nói rồi ông cười rộ lên.
Ông Minh cũng cười:
- Sức ông mà lôi với chả kéo được ai nữa. Tôi chỉ sống đúng với lời mời gọi của Chúa thôi: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Hơn nữa, tôi đặt tên cho hai đứa con tôi là Nhân-Nghĩa mà.
- Cám ơn ông. Người bạn nhân nghĩa. Tôi đề nghị điều này được không?
- Ông cứ nói!
- Chúng ta sẽ tìm hiểu về nhau. Chỉ khi hiểu nhau, thì những thắc mắc và không vui trong lòng mới được tháo cởi. Tôi mong những ngày tháng cuối cùng này, tôi được sống trong bình an.
Kể từ đó, hai ông bố gặp nhau, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện trên đời, nhưng ưu tiên nhất vẫn là chuyện đạo. Bố Trọng hay nói về Thánh Kinh, ông thật sự rất thuộc Kinh Thánh. Nhiều khi ông Minh phải ngỡ ngàng và thán phục vì sự yêu mến mà bố Trọng dành cho Thánh Kinh. Còn ông Minh thì lại hay nói về giáo lý, về những lễ nghi, lối sống đạo bên Công Giáo. Lắm lúc họ cũng tranh cãi nhau tý xíu, nhưng hoàn toàn tích cực, cốt chỉ để hiểu nhau. Có thể vì ông Minh sợ ảnh hưởng sức khỏe bố Trọng, nên đôi khi cũng nhường. Cũng có thể họ trân quý nhau thật sự. Dù gì đi nữa, tình huynh đệ giữa hai người cũng dần được nối kết.
Nhờ có bố Nhân mà những ngày đau bệnh của bố Trọng là những ngày tháng thật đáng quý. Dù cơn đau thể xác đôi khi hành hạ ông nhưng tâm hồn ông lại vô cùng nhẹ nhàng. Cả hai đều nhận ra họ có nhiều điểm chung hơn là sự khác biệt. Dẫu “đạo ai nấy giữ”, nhưng ngọn lửa của tình hiệp nhất đã được thắp lên – hiệp nhất trong sự khác biệt. Quả thật, khi bước đi trong sự hiện diện của Thiên Chúa, người ta nhận được tình huynh đệ.
Có hôm ông Minh đem quyển sách Tin Mừng sang cho bố Trọng, bảo:
- Ông có muốn đọc thử kinh Thánh của người Công Giáo không?
- Tôi chỉ là đọc tham khảo thôi nhé.- Bố Trọng vừa nói vừa đưa tay cầm lấy quyển sách.
-  Thì ai nói gì đâu. Không khéo lại bảo tôi dụ dỗ…
- Lại bắt đầu đấy.
Cả hai cười khì rồi lại ngồi nói chuyện với nhau như mọi ngày.
Tối đó bố Trọng lật Thánh Kinh Công Giáo ra xem. Ông nâng niu quyển sách như thể đó là của mình. Với tư tưởng của những người Tin Lành, Kinh Thánh là chuẩn mực căn bản nhất của giáo lý và đức tin. Dù đó không phải quyển Kinh Thánh mà ông cầm mỗi ngày, nhưng với ông giá trị ấy vẫn nguyên vẹn: cầm sách kinh thánh là chạm đến Đấng Christ.
Ông cầm sợi chỉ đỏ của quyển sách và lật vào trang được đánh dấu. Cũng chỉ là ngẫu nhiên thôi. Đấy cũng là đoạn thư của thánh Phaolo, ông đọc ngay vào câu : “Thưa anh em, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận, một lòng một ý với nhau” (1Cr 1,10).”
Và ông cầu nguyện với Đấng Christ. Ông nghe tâm hồn mình được đánh động.
Chúa đã làm mọi sự, để nối kết hai con người ấy. Có thể đó chỉ là tình cờ, là ngẫu nhiên theo cách nghĩ nào đó của con người. Đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể.
* * *
- Cháy! Cháy!
Tiếng la làm inh ỏi cả khu xóm giữa đêm khuya.
Thiện Nhân hối hả chạy sang phòng bố mẹ, đúng lúc bố cũng chuẩn bị mở cửa:
- Bố ơi cháy rồi kìa. Con nhìn thấy qua cửa sổ đó bố.
Ông và vợ chạy ra cùng với mọi người. Đám cháy đó bốc lên từ nhà Trọng. Vừa trông thấy hai ông bà Minh, mẹ Trọng chạy lại khóc nấc:
- Ông ấy còn ở trong đó anh Minh à. Tôi chỉ kịp bê thằng nhỏ chạy ra trước, đến khi ra được thì đám cháy đã lớn rồi. Bây giờ làm sao đây?!
Ông Minh nhìn vào ngôi nhà đang cháy hực, chợt thấy có một lối vào lửa chưa sang tới. Không nghĩ gì nhiều ông lao vào mặc cho mọi người ngăn cản. Ông cúi người men theo sát tường thì thấy bố Trọng đang ở cầu thang, nhưng hình như ông đang cố đi lên, chứ không phải tìm đường xuống để thoát ra ngoài. Ông Minh kịp chụp lấy ông, bố Trọng quay sang vẻ bất ngờ:
- Trời, ông đi đâu đây? Ông ra ngoài đi.
- Còn ông? Đi, cùng tôi ra ngoài.
- Tôi phải lên lấy một thứ.
- Mạng chưa lo, lấy gì nữa. Của gì mà ông tiếc dữ vậy.
Mặc cho ông Minh nói thế nào thì bố Trọng cũng quyết quay ngược lại.
- Được, ông quyết thế thì tôi đi cùng ông.  
Không để bố Trọng nói thêm. Ông Minh cõng bố Trọng lên lưng, chạy thẳng lên phòng. Bố Trọng cố chạy tìm thứ gì đó. Cuối cùng ông ôm quyển Thánh Kinh trong tay rồi giục ông Minh chạy. Mắt ông Minh như nhòe đi, người anh em kia đang cố bảo vệ quyển Thánh Kinh mà mình trao gửi hôm trước. Hai người cố thoát ra khỏi căn nhà đang hừng hực cháy.
Ở đời, cái chết là đương nhiên. Nhưng khi nó đến thì ai cũng phải bàng hoàng. Kẻ ra đi người ở lại, nỗi đau còn đó. Ông Minh đã chết. Khi vừa ra đến cửa, có một cây sà đổ xuống, ông đã đẩy mạnh bố Trọng văng ra của và đỡ lấy cú giáng đó. Mọi thứ xảy đến quá nhanh, cái chết ấy… không ai ngờ đến.
Người ung thư sắp chết thì không chết, kẻ lành lặn khỏe mạnh thì ra đi trước. Đời, chẳng ai biết trước điều gì. Nỗi đau là điều phải chấp nhận.
Lễ tang của ông Minh, gia đình Trọng cũng đến dự. Lần đầu tiên ông bước vào nhà thờ Công Giáo, nhưng là để dự một thánh lễ tang. Ông nhìn lên cây thập giá, nước mắt chảy ròng. Người nằm kia, mang trong mình đức tin mà ông từng luôn nghĩ đối đầu với ông. Người nằm kia, từng đọ cãi đúng sai với ông. Người nằm kia, là người anh em đồng hành cùng ông trong những ngày cuối đời. Và người nằm kia… đã chết cho một người sắp chết.
Ông chạy đến linh cửu ông Minh, nấc thành tiếng:
- Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình. Cám ơn và xin lỗi ông vì tất cả. Ông Minh, người anh em nhân nghĩa của tôi.
Cả nhà thờ im lặng, mắt ai cũng nhòe đi. Gia đình Thiện Nhân cũng không có gì là trách móc nhà Trọng, vì cứu bố Trọng mà bố Nhân phải chết. Trọng, Thiện Nhân và Thiện Nghĩa cùng đến bên linh cửu ông, khóc to. Khung cảnh ấy khiến ai cũng không cầm được nước mắt.
Một năm sau ngày ông Minh mất, bố Trọng cũng ra đi vì căn bệnh ung thư đã di căn quá nặng. Trùng hợp thay, ngày tháng mất của ông đúng với ngày ông Minh mất. Ông đã kịp dạy tụi nhỏ bài hát có tên Amazing Grace – một bài thánh ca tiếng anh mà ông rất thích nghe. Ông cũng nói với mẹ Trọng là cho ông nằm kế phần mộ của ông Minh.
Trước lúc trút hơi thở cuối, ông nhìn tụi nhỏ, chỉ nói có ba chữ thôi:
- Trọng Nhân Nghĩa.
Ba chữ cuối cùng ấy đã theo ba đứa nhỏ trên suốt chặng đường sau này. Cái tên đôi khi lại mang một giá trị to lớn. Thế hệ này lớn lên, sẽ là những con người trọng nhân nghĩa, như những gì mà cha mẹ đã kỳ vọng và đã sống cho chúng nhìn thấy.
Thiện Nhân chợt tỉnh sau dòng ký ức ngược thời gian, tay vẫn cầm trên tay quyển Thánh Kinh. Quyển sách này đã bị cháy một góc nhỏ bên phải, mẹ Trọng đã gửi cho Nhân sau ngày bố Trọng mất. Nhân đã giữ nó suốt 18 năm qua, và những ký ức về nó chưa bao giờ mất trong tâm trí Nhân. Hai ngày nữa là giỗ bố. Có lẽ vì thế mà cô nhớ đến ký ức này. Miệng Nhân lại khe khẽ cất lên câu hát : “Amazing Grace…”
Cuộc sống con người luôn thay đổi, như những ngọn gió không ngừng thổi bao giờ. Nhân bây giờ là một nữ tu Mến Thánh Giá. Đặc biệt hơn, ngày mai là lễ khấn trọn đời của cô. Nghĩa cũng đang ở Học Viện năm tư của dòng Tên. Còn Trọng, sau những ngày đau thương đó, hai mẹ con Trọng đi đâu biệt tích. Suốt mười mấy năm Nhân và Nghĩa không hề gặp lại. Sau này mới hay tin Trọng về Bắc sống và nhận được học bổng đại học tại Hàn Quốc. Và… Trọng bây giờ đã trở thành một mục sư Tin Lành trẻ tuổi đầy nhiệt tâm.
- Em có liên lạc với Trọng và cho Trọng hay mai là lễ khấn trọn của em chưa?- Giọng anh trai cất lên trong điện thoại.
- Em có gửi email hơn một tuần trước. Email này xin được từ một người bạn của Trọng. Không biết có chính xác không nhưng em không thấy hồi âm.
- Nếu Chúa muốn… em nhỉ?!
Đặt điện thoại xuống bàn. Nhân thở dài. Hy vọng về người bạn thuở ấu thơ đáng nhớ ấy sẽ đến trong ngày lễ khấn của mình thật mong manh. Nhân nhìn lên cây Thánh Giá treo ở tường phòng, thầm mong Chúa luôn đồng hành cùng cô và những người cô yêu thương.
Màn hình máy tính báo vừa nhận một email mới. Mở ra thì nó đến từ một cái tên rất lạ, cũng chẳng nói gì cả. Chỉ có một đoạn clip. Đó là một bài nhạc thánh ca Hàn có dịch lời Việt mang tên Konionia – Tất cả chúng ta là một. “Tất cả chúng ta hãy trở nên những quà tặng. Trong Thần Khí chúng ta nên một”. Có lẽ nào là…
* * *
Buổi lễ diễn ra thật long trọng và hạnh phúc. Thiện Nhân không để ý đến việc ai đến ai không, Nhân hướng trọn về Chúa để cam kết trọn đời dâng hiến cho Ngài. Sau khi mọi sự hoàn tất, khách khứa cũng về hết. Nhân đứng trước tượng Thánh Giá Chúa, cô cầu nguyện.
- Amazing Grace, how sweet the sound…
Tiếng hát ai cất lên, nhẹ nhàng, thanh thoát... Bài nhạc thân thuộc ngày nào. Nhân thấy mắt mình nhòe đi, cô quay lại cũng là lúc giọt nước mắt đầu tiên lăn dài trên má.
Đó là anh Nghĩa cùng Trọng.  
Tất cả đều nhìn nhau không nói lời nào. Một khoảng không lặng thinh nhưng bình an và nhẹ nhàng. Cuối cùng thì Trọng Nhân Nghĩa, ba con người cùng thế hệ ngày nào cũng đã gặp lại nhau.
Cuối cùng thì… ta cũng ở bên nhau! Tạ ơn Chúa.
Được tạo bởi Blogger.